WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 SỰ TÍCH ÐỨC DI LẶC BỒ TÁT

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: SỰ TÍCH ÐỨC DI LẶC BỒ TÁT   6/9/2009, 17:55

SỰ TÍCH ÐỨC DI LẶC BỒ TÁT



Đức Di Lặc là một vị Phật thứ
năm trong Hiền kiếp (Bốn vị Phật trong Hiền kiếp đã ra đời, kể ra sau
đây: 1. Đức Cấu Lưu Tôn, 2. Đức Câu Na Hàm, 3. Đức Ca Diếp, 4. Đức
Thích Ca Mâu Ni) để nối ngôi Phật Thích Ca, ra đời mà giáo hóa chúng
sanh.

Nhưng số kiếp chưa đến, Ngài còn ở trên cung Trời Đâu
Suất, thường hay hóa thân trong mười phương thế giới mà thuyết pháp độ
sanh.

Khi Ngài ứng tích tại Song Lâm, thì tên của Ngài là: Phó
Đại Sĩ, và lúc Ngài hóa thân ở Nhạc lâm, thì hiệu của Ngài là: Bố Đại
Hòa Thượng.

Công việc hành tàng bước đường lai khứ trong hai
khoảng chuyển sanh ấy, nào là lời phương tiện quyền xảo, nào là lời vi
diệu pháp âm, làm cho người đời đều tỉnh giấc mộng mà quy đầu về Chánh
giáo.

Nay xin lược thuật sự tích lúc Ngài hóa thân làm vị Bố Đại Hòa Thượng ra sau đây cho quý vị độc giả xem.

Đương
thời kỳ nước Lương thuộc về đời Ngũ quí, Ngài ứng tích ở nơi Châu Minh,
tại huyện Phụng hóa, thân hình khác hơn người thế tục, trán thì nhăn,
bụng thì lớn, và hình vóc mập mạp.

Lúc đó không ai biết tên họ
của Ngài, chỉ thấy Ngài thường mang theo một cái túi vải mà thôi, nên
người kêu là: Bố Đại Hòa Thượng.

Tánh Ngài hay khôi hài và chỗ
ăn và nằm ngày đêm không có nhứt định, mà Ngài đi đâu rồi cũng thấy trở
về Chùa Nhạc Lâm mà trú ngụ.

Mỗi khi đi đường, Ngài thường cầm
gậy Tích trượng và mang cái túi bằng vải, không khi nào rời hai vật ấy
ra khỏi mình, lại có 18 đứa con nít (là lục căn, lục trần, và lục thức)
nhỏ thường đeo đuổi theo một bên mà diễu cợt làm cho Ngài tức cười mãi
mãi. Thường khi Ngài đi vào chốn thôn quê hay là nơi đồng ruộng, hễ ai
cho những vật gì, khi Ngài ăn xong, còn dư lại bao nhiêu đều bỏ vào túi.

Lúc
đi tới nơi chợ quán, thì Ngài ngồi xuống, mở túi lấy những đồ ăn dư đưa
lên, kêu mấy người đứng xung quanh mà nói rằng: “Các ngươi xem coi đó
là cái gì?" Ngài nói rồi một giây lâu bỏ đồ ấy vô túi mà mang đi. Còn
có khi Ngài gặp Thầy Sa Môn đi ngang qua, Ngài ở sau vỗ lưng một cái,
làm cho Thầy Sa Môn giựt mình, ngó lại mà hỏi rằng: “Hòa Thượng làm cái
gì vậy?”

Ngài liền giơ tay nói: “Ngươi cho Ta xin một đồng tiền”.

Thầy Sa Môn thấy vậy, bèn nói rằng: “Nếu tôi hỏi một điều mà Hòa Thượng nói đặng, thì tôi cho”.

Ngài
liền để cái túi xuống, chấp tay đứng một bên, rồi lấy túi mang trở lại
mà lật đật quày quả đi liền. Một bửa kia, Ngài đi vào trong đám đông
người, có một ông Tăng hỏi Ngài rằng: “Hòa Thượng ở trong đám đông
người làm chi đó?”

Ngài trả lời rằng: “Ta đương đợi một người đến”

Ông Tăng hỏi: “Hòa Thượng đợi ai?”

Ngài bèn thò tay vào túi lấy một trái quít đưa cho ông Tăng.

Ông vừa giơ tay ra lấy trái quít, Ngài liền thục tay lại mà nói rằng :"Ngươi chẳng phải người ấy”

Lại có một bửa, ông Tăng chợt thấy Ngài đứng bên đường gần chợ, bèn hỏi rằng :"Hòa Thượng ở đây làm chi?”

Ngài liền đáp rằng :"Ta đi hóa duyên”.

Ông Tăng thấy vậy mới nói rằng :"Hóa duyên ở đâu nơi ngã tư như vậy?”

Ngài trả lời :" Ngã tư chính là chỗ Ta muốn hóa duyên”.

Ông Tăng vừa muốn hỏi chuyện nữa, thì Ngài liền mang cái túi vải rồi cười ngất mà đi một hơi.

Có một khi, ông Bạch Lộc Hòa Thượng gặp Ngài, liền hỏi rằng :" Thế nào gọi là: cái túi vải?”

Ngài nghe hỏi liền để túi xuống, rồi khoanh tay mà đứng.

Ông Bạch Lộc Hòa Thượng lại hỏi rằng :"Công việc của cái túi vải ra làm sao?”

Ngài liền mang túi mà đi, không trả lời chi hết.


một bửa kia, ông Bảo Phước Hòa Thượng gặp Ngài hỏi rằng :"Thưa Ngài!
Duyên cớ tại sao mà xưa Đức Tổ Sư ở bên Tây phương qua đây là có ý gì?”

Ngài nghe hỏi liền để cái túi vải xuống, rồi đứng tự nhiên.

Ông Bảo Phước Hòa Thượng lại hỏi nữa rằng: “ Chỉ như vậy, hay là còn có cái gì nữa hay không ?”

Ngài nghe hỏi như thế, bèn lấy túi vải mang trở lại mà đi, không hề trả lời.

Từ
đó về sau, hễ Ngài đi đến đâu, thì người ta tranh nhau mà chận đón và
níu kéo, đặng mời Ngài vào nhà, chớ không cho đi luôn. Bởi vậy cho nên
trong các quán rượu và tiệm cơm, người người tha hồ ăn uống no say,
không có chút gì nhàm chán, vì Ngài vào đâu thì buôn bán đắt đến bội
phần.

Lúc nào gặp trời mưa, thì tản sáng Ngài ngủ dậy mang guốc
cao gót, đi ra nằm ngửa trên cái cầu to, co chưn lại dựng hai bắp vế
lên, thì ngày ấy nắng. Còn khi nào trời nắng, mà Ngài mang đôi dép cỏ
đi ra ngoài đường, ngày ấy trời lại mưa.

Thường bửa Ngài hay tới
nhà một nông phu kia mà ăn cơm. Có một hôm người vợ tên ấy thấy vậy nổi
giận mà rầy rằng :"Đương lúc lo việc ruộng nương rộn ràng không xiết,
mình có công đâu mà nuôi lão Hòa Thượng điên đó hoài!”

Ngài nghe nói mấy lời ấy, liền đem cơm đổ dưới gốc cây dâu ở bên nhà rồi bỏ đi.

Cơm
ấy tự nhiên hoàn lại trong nồi của người nông phu. Hai vợ chồng thấy
vậy rất kinh, bèn cùng nhau đi kiếm Ngài, rồi lạy lục mà xin sám hối.

Có một khi, đương buổi mùa hạ, khí trời nóng nực, Ngài cởi quần áo để trên bờ mà xuống khe tắm.


trẻ khuấy chơi, bèn lén lại lấy cả áo quần. Đương lúc tắm, Ngài thấy
vậy thì lật đật để mình trần truồng mà rượt theo bọn con nít. Mấy người
ở trên bờ xúm nhau lén coi , thì thấy âm tàng của Ngài như trẻ nhỏ vậy.

Gần
chỗ đó có tên Lục Sanh, nghề vẽ rất tinh xảo. Người ấy thấy Ngài, bèn
vẽ một bức tượng in hệt mà dán tại Chùa, nơi vách nhà Đông.

Bửa nọ Ngài đi ngang qua bên vách, thấy tượng ấy liền khạc nhổ rồi bỏ đi.

Khi Ngài ở tại xứ Mân Trung, có một người cư sĩ họ Trần, thấy Ngài làm nhiều việc kỳ thần, nên đãi Ngài rất cẩn trọng.

Lúc
Ngài từ giã ông Trần cư sĩ mà đi qua xứ Lưỡng Chiết, ông muốn rõ tên họ
Ngài, bèn hỏi rằng: “Thưa Hòa Thượng! Xin cho tôi biết họ Ngài là chi,
sanh năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào, và xuất gia đã bao lâu rồi?”

Ngài
đáp rằng :"Ta tỏ thiệt cho ngươi rõ rằng Ta chính là họ Lý, sanh ngày
mùng tám tháng hai. Ta chỉ biểu hiệu cái túi vải này mà để độ đời đó
thôi. Vậy ngươi chớ tiết lộ cho ai biết”.

Ông Trần cư sĩ nghe
nói như vậy, bèn thưa rằng :"Hòa thượng đi đâu, nếu có ai hỏi việc chi
thì Ngài trả lời làm sao cho hợp lý, chớ tùy thuận theo người thì không
khỏi bàng nhơn dị nghị tiếng thị phi.

Ngài bèn đáp một bài kệ rằng:

Ghét thương phải quấy biết bao là,
Xét nét lo lường giữ lấy ta;
Tâm để rỗng thông thường nhẫn nhục, bửa hằng thong thả phải tiêu ma;
Nếu người tri kỷ nên y phận,
Dẫu kẻ oan gia cũng cộng hòa;
Miễn tấm lòng này không quái ngại,
Tự nhiên chứng đặng “Lục ba la”

Ông Trần cư sĩ lại hỏi rằng :"Bạch Hòa thượng!

Ngài có pháp hiệu hay không?”

Ngài liền đọc bài kệ mà đáp rằng :

Ta có cái túi vải,
Rỗng rang không quái ngại;
Mở ra khắp mười phương,
Thâu vào Quan tự tại.

Ông Trần cư sĩ hỏi rằng :"Hòa thượng đi đây có đem đồ hành lý hay không?”

Ngài đáp bài kệ :

Bình bát cơm ngàn nhà,
Thân chơi muôn dặm xa;
Mắt xanh xem người thế,
Mây trắng hỏi đường qua.

Ông Trần cư sĩ thưa :"Đệ tử rất ngu, biết làm sao cho đặng thấy tánh Phật”.

Ngài bèn đáp bài kệ:

Phật tức tâm, tâm ấy là Phật, mười phương thế giới là linh vật;
Tung hoành diệu dụng biết bao nhiêu,
Cả thảy chẳng bằng tâm chơn thật.

Ông Trần cư sĩ thưa rằng :"Hòa thượng đi lần này nên ở nơi chùa, chớ đừng ở nhà thế gian.

Ngài bèn đáp bài kệ rằng:

Ta có nhà Tam Bảo,
Trong vốn không sắc tướng;
Chẳng cao cũng chẳng đê,
Không ngăn và không chướng;
Học vẫn khó làm bằng,
Cầu thì không thấy dạng;
Người trí biết rõ ràng,
Ngàn đời không tạo đặng;
Bốn môn bốn quả sanh,
Mười phương đều cúng dường.

Ông
Trần cư sĩ nghe bài kệ lấy làm lạ, liền đãnh lễ Ngài mà thưa rằng :"Xin
Hòa thượng ở nán lại một đêm mà dùng cơm chay với tôi, đặng tỏ dấu đệ
tử hết lòng cung kính, xin Ngài từ bi mà hạ cố”.

Đêm ấy Ngài ở lại nhà Trần cư sĩ. Đến khi đi, thì Ngài viết một bài kệ dán nơi cửa:

Ta có một thân Phật,
Có ai đặng tường tất;
Chẳng vẽ cũng chẳng tô,
Không chạm cũng không khắc;
Chẳng có chút đất bùn,
Không phải màu thể sắc;
Thợ vẽ, vẽ không xong,
Kẻ trộm, trộm chẳng mất;
Thể tướng vốn tự nhiên,
Thanh tịnh trong vặc vặc;
Tuy là có một thân,
Phân đến ngàn trăm ức.

Khi
Ngài đi đến quận Tứ minh, Ngài thường giao du với ông Tưởng Tôn Bá một
cách rất thân mật, Ngài có khuyên bảo ông mỗi ngày trì niệm câu chú
:"Ma ha bát nhã ba la mật đa”. Vì vậy người ta đều kêu ông Tưởng Tôn Bá
là: Ma ha cư sĩ.

Có một ngày nọ, ông Ma ha cư sĩ cùng Ngài đồng
tắm dưới khe Trường đinh. Khi Ngài đưa lưng bảo ông Ma Ha kỳ giùm, thì
ông thấy nơi lưng Ngài có bốn con mắt rực rỡ chói lòa, bèn lấy làm kinh
dị vô cùng. Ông liền đãnh lễ Ngài mà nói rằng :"Hòa thượng quả là một
vị Phật tái thế”.

Ngài liền khoát tay bảo nhỏ rằng :"Ngươi chớ
nói tiết lộ. Ta cùng ngươi ở với nhau đã ba bốn năm nay, vốn là có nhân
duyên rất lớn, rồi đây Ta sẽ từ biệt ngươi mà đi, vậy ngươi chớ buồn
rầu thương nhớ”.

Ngài nói rồi, bèn về nhà ông Ma Ha cư sĩ mà hỏi rằng :"Ý ngươi có muốn giàu sang hay không?”

Ông
Ma Ha cư sĩ thưa rằng :"Sự giàu sang như lùm mây nổi, như giấc chiêm
bao, có cái gì là bền lâu chắc chắn đâu, nên tôi nguyện làm sao cho con
cháu tôi đời đời được miên viễn mà thôi”.

Ngài bèn lấy cái túi
của Ngài thọc tay vào móc ra một cái túi nhỏ, một cái hộp, và một sợi
dây, liền đưa cho ông Ma Ha cư sĩ mà nói rằng :"Ta cho ngươi mấy vật
này mà từ biệt. Song Ta căn dặn ngươi phải giữ gìn cho kỹ càng mà làm
biểu tín những việc hậu vận của nhà ngươi”.

Ông Ma Ha cư sĩ vâng
lãnh mấy món ấy mà chẳng rõ được là ý gì. Cách vài bữa sau Ngài trở lại
nhà ông mà hỏi rằng :"Nhà ngươi có hiểu được ý Ta hay không?”

Ông thưa rằng :"Thưa Ngài! Đệ tử thiệt chẳng rõ”.

Ngài nói rằng :"Đó là Ta muốn con cháu nhà ngươi ngày sau cũng như mấy vật của Ta cho đó vậy”.

Nói rồi Ngài bèn từ giã mà đi liền.

Đến
sau, quả nhiên con cháu của ông Ma Ha cư sĩ được vinh hoa phú quý,
hưởng lộc nước đời đời. Đó là mấy vật của Ngài cho có hiệu nghiệm như
vậy.

Nhằm ngày mùng ba tháng ba, năm thứ ba, niên hiệu Trịnh
Minh, Ngài không tật bệnh gì cả, ngồi trên bàn thạch, gần nơi mái chùa
Nhạc Lâm mà nhập diệt.

Nhắc lại khi Ngài chưa nhập diệt, có ông
Trấn Đình Trưởng thấy Ngài hay khôi hài không lo sự gì cả, nên mỗi lần
gặp Ngài thì buông lời cấu nhục, rồi giựt cái túi vải mà đốt.

Hễ
bửa nay đốt rồi, thì qua ngày sau ông Trấn Đình Trưởng cũng thấy Ngài
mang cái túi ấy như cũ. Ông nổi giận đốt cháy rụi luôn đến ba lần, cũng
vẫn thấy Ngài còn mang còn mang cái túi vải đó.

Từ đó về sau, ông Trấn Đình Trưởng lấy làm lạ, nên đem lòng khâm phục Ngài không dám khinh dễ nữa.

Khi
Ngài nhập diệt, thì ông Trấn Đình Trưởng lo mua quan quách mà tẩn liệm
thi hài, là cố ý chuộc tội lỗi của ông ngày trước. Nhưng đến chừng đi
chôn, thì người khiêng rất đông, mà cứ cái quan tài lên không nổi.

Trong
bọn ấy có một người họ Đồng, ngày thường tỏ lòng tôn kính Ngài một cách
rất trọng hậu, nên thấy việc linh hiển như vậy, liền vội vã mua cái
quan tài khác, rồi liệm thi hài của Ngài lại. Đến khi khiêng đi, thì số
người cũng bấy nhiêu đó, mà khiêng nhẹ phơi phới như bông. Ai nấy thấy
vậy cũng đều kinh sợ và cung kính.

Lúc đó các người trong quận
thiết lập ra một hội rất lớn, xây tháp cho Ngài ở nơi núi Phong Sơn.
Núi ấy toàn là đá lởm chởm, hòn cao, hòn thấp, trong mấy hang đá đều là
chỗ di tích của Ngài còn lưu truyền lại, nào là chỗ để tích trượng, nào
là chỗ để bình bát, v.v..

Những chỗ sâu, chỗ cạn, chỗ lớn, chỗ
nhỏ, hình tượng giống như cái bình bát, đều có nước đầy hoài, dẫu cho
Trời đại hạn đi nữa, thì cũng chẳng có lúc nào khô kiệt.

Thiệt là nhiều việc anh linh hiển hách vô cùng!
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ TÍCH ÐỨC DI LẶC BỒ TÁT   6/9/2009, 17:56

SỰ TÍCH ĐỨC DI LẶC BỔ TÁT
(ĐỜI KHÁC)


Hồi đời Lục Triều, Đức Di Lặc lại ứng tích làm phó Đại sĩ ở tại Chùa Song Lâm một thời kỳ nữa.

Khi Ngài ra mắt Lương Võ Đế, vua liền hỏi Ngài rằng :"Xin Đại sĩ cắt nghĩa cho quả nhơn nghe làm sao kêu là : Đạo?”

Ngài liền bạch rằng: “Tâm thiệt là Đạo”, tôi xin chứng nghiệm như vầy, thì bệ hạ đủ hiểu.

Khi
bệ hạ chưa lên ngự tại điện này, trong tâm lúc ban đầu chưa khởi niệm,
bổn trí vẫn tự nhiên mà được diệu tịnh quang huy, sáng suốt hiện buổi
nay, rực rỡ đến thuở trước, và đầy lấp tất cả cõi Thái hư, cái tịnh
quang ấy muôn đời không sanh, vĩnh kiếp không diệt, chẳng phải Thánh mà
cũng chẳng phải Phàm, không thúc phược mà cũng không giải thoát.

Đó
là tâm thể rất mầu nhiệm và rất vắng lặng. Ngoài cái tâm không có đạo
gì riêng khác, và ngoài đạo cũng không có tâm nào phân biệt nữa, vì thế
cho nên mới gọi :"tâm là đạo”.

Vua Võ Đế lại hỏi nữa rằng: “Vậy chớ Đại sĩ có tôn ai làm Thầy hay không?”

Ngài
bạch rằng :"Thầy thì không có ai là Thầy của bần đạo, còn tôn thì bần
đạo cũng không có tôn ai, đến việc tùng sự, thì cũng không có tùng sự
với người nào cả”.

Vua Võ Đế nghe Ngài nói như vậy, thì biết là một vị Bồ Tát lâm phàm, nên càng tôn trọng Ngài một cách rất đặc biệt.

Đoạn
Ngài lại thưa với Vua rằng :"Bệ hạ ngày nay mà đặng hưởng điều tôn vinh
như vầy, nguyên nhân cũng là một vị Bồ Tát hạ trần mà cứu thế.

Vậy
xin Bệ hạ phải mở thông ý địa, nên tự lượng nơi mình, tâm để cho thanh
tịnh, đừng trước nhiễm vật gì, lấy đó làm căn bản, cần nhứt phải dùng
chỗ hư linh làm cơ sở, lấy sự vô tướng làm nguyên nhơn, nguyện vọng chí
thành cầu cho đạt tới chỗ Niết bàn mà làm cực quả.

Nếu bệ hạ thi
thố những phương pháp trị quốc, thì phải dùng chánh pháp mà sửa trị
trong thế gian, và thi hành những điều nhơn đức, đặng làm cho lê dân
cảm hóa.

Trong triều thì trọng dụng những người hiền tài mà trừ
khử mấy kẻ cưu lòng gian nịnh, còn ngoài thì thi nhơn chánh đến kẻ quan
quả, cô độc, bỏ những hình phạt trừng trị nặng nề, và ban chánh lịnh
cho có nghiêm minh trật tự. Nếu Bệ hạ trị vì trong thiên hạ, thi nhơn
bố đức được như thế, thì kẻ xa người gần đều gội nhuần ơn đức vô cùng
vô tận. Chừng đó việc can qua phải dứt, mà trong đội ngũ lại ninh bình,
thì ngôi trời được hùng tráng mà an hưởng cuộc thái bình. Nếu chánh
sách thi thố được công hiệu như thế, thì Bệ hạ thiên cơ đã thần diệu,
lại còn nối ngôi quốc tổ được lâu dài nữa. Đó là bần đạo hi vọng sao
cho Bệ hạ được như vậy”.

Có một ngày kia, ông Lưu Trung Thừa
ngồi tại chỗ trạm dịch với Ngài, thoạt thấy có Thánh giá vừa đến, liền
lật đật đứng dậy làm lễ, còn Ngài ngồi yên lặng một chỗ.

Khi
Thánh giá qua khỏi rồi, ông Lưu Trung Thừa bèn hỏi Ngài rằng :"Theo ý
tôi tưởng, Ngài chẳng chịu làm tôi với Thiên tử, không muốn làm bạn với
Chư hầu, cớ sao mà lại ngã mạn như vậy, xin Ngài nói cho tôi rõ”.

Ngài
liền đáp rằng :"Để bần đạo giải cho ông rõ. Phàm việc kỉnh mà biểu lộ
ra hình tướng, thì không có tánh kỉnh, còn bề ngoài chẳng cử động sự
kỉnh về lễ nghe tham bái, thì thiệt trong tâm có ẩn điều kỉnh vô giá.
Bần đạo thấy Thánh giá mà động thân, thì pháp địa tự nhiên cũng rúng
động. Hễ pháp địa rúng động, thì tất cả các pháp cũng chẳng an nhẫn,
nếu các pháp chẳng an nhẫn, tức là không có kỉnh, nên bần đạo vẫn ngồi
tự nhiên là vậy đó”.

Ông Lưu Trung Thừa nghe Ngài nói như thế, thì rất kỉnh phục.
[/color]
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ TÍCH ÐỨC DI LẶC BỒ TÁT   6/9/2009, 17:57

SỰ TÍCH ĐỨC DI LẶC BỔ TÁT
(ĐỜI KHÁC)


Hồi đời Lục Triều, Đức Di Lặc lại ứng tích làm phó Đại sĩ ở tại Chùa Song Lâm một thời kỳ nữa.

Khi Ngài ra mắt Lương Võ Đế, vua liền hỏi Ngài rằng :"Xin Đại sĩ cắt nghĩa cho quả nhơn nghe làm sao kêu là : Đạo?”

Ngài liền bạch rằng: “Tâm thiệt là Đạo”, tôi xin chứng nghiệm như vầy, thì bệ hạ đủ hiểu.

Khi
bệ hạ chưa lên ngự tại điện này, trong tâm lúc ban đầu chưa khởi niệm,
bổn trí vẫn tự nhiên mà được diệu tịnh quang huy, sáng suốt hiện buổi
nay, rực rỡ đến thuở trước, và đầy lấp tất cả cõi Thái hư, cái tịnh
quang ấy muôn đời không sanh, vĩnh kiếp không diệt, chẳng phải Thánh mà
cũng chẳng phải Phàm, không thúc phược mà cũng không giải thoát.

Đó
là tâm thể rất mầu nhiệm và rất vắng lặng. Ngoài cái tâm không có đạo
gì riêng khác, và ngoài đạo cũng không có tâm nào phân biệt nữa, vì thế
cho nên mới gọi :"tâm là đạo”.

Vua Võ Đế lại hỏi nữa rằng: “Vậy chớ Đại sĩ có tôn ai làm Thầy hay không?”

Ngài
bạch rằng :"Thầy thì không có ai là Thầy của bần đạo, còn tôn thì bần
đạo cũng không có tôn ai, đến việc tùng sự, thì cũng không có tùng sự
với người nào cả”.

Vua Võ Đế nghe Ngài nói như vậy, thì biết là một vị Bồ Tát lâm phàm, nên càng tôn trọng Ngài một cách rất đặc biệt.

Đoạn
Ngài lại thưa với Vua rằng :"Bệ hạ ngày nay mà đặng hưởng điều tôn vinh
như vầy, nguyên nhân cũng là một vị Bồ Tát hạ trần mà cứu thế.

Vậy
xin Bệ hạ phải mở thông ý địa, nên tự lượng nơi mình, tâm để cho thanh
tịnh, đừng trước nhiễm vật gì, lấy đó làm căn bản, cần nhứt phải dùng
chỗ hư linh làm cơ sở, lấy sự vô tướng làm nguyên nhơn, nguyện vọng chí
thành cầu cho đạt tới chỗ Niết bàn mà làm cực quả.

Nếu bệ hạ thi
thố những phương pháp trị quốc, thì phải dùng chánh pháp mà sửa trị
trong thế gian, và thi hành những điều nhơn đức, đặng làm cho lê dân
cảm hóa.

Trong triều thì trọng dụng những người hiền tài mà trừ
khử mấy kẻ cưu lòng gian nịnh, còn ngoài thì thi nhơn chánh đến kẻ quan
quả, cô độc, bỏ những hình phạt trừng trị nặng nề, và ban chánh lịnh
cho có nghiêm minh trật tự. Nếu Bệ hạ trị vì trong thiên hạ, thi nhơn
bố đức được như thế, thì kẻ xa người gần đều gội nhuần ơn đức vô cùng
vô tận. Chừng đó việc can qua phải dứt, mà trong đội ngũ lại ninh bình,
thì ngôi trời được hùng tráng mà an hưởng cuộc thái bình. Nếu chánh
sách thi thố được công hiệu như thế, thì Bệ hạ thiên cơ đã thần diệu,
lại còn nối ngôi quốc tổ được lâu dài nữa. Đó là bần đạo hi vọng sao
cho Bệ hạ được như vậy”.

Có một ngày kia, ông Lưu Trung Thừa
ngồi tại chỗ trạm dịch với Ngài, thoạt thấy có Thánh giá vừa đến, liền
lật đật đứng dậy làm lễ, còn Ngài ngồi yên lặng một chỗ.

Khi
Thánh giá qua khỏi rồi, ông Lưu Trung Thừa bèn hỏi Ngài rằng :"Theo ý
tôi tưởng, Ngài chẳng chịu làm tôi với Thiên tử, không muốn làm bạn với
Chư hầu, cớ sao mà lại ngã mạn như vậy, xin Ngài nói cho tôi rõ”.

Ngài
liền đáp rằng :"Để bần đạo giải cho ông rõ. Phàm việc kỉnh mà biểu lộ
ra hình tướng, thì không có tánh kỉnh, còn bề ngoài chẳng cử động sự
kỉnh về lễ nghe tham bái, thì thiệt trong tâm có ẩn điều kỉnh vô giá.
Bần đạo thấy Thánh giá mà động thân, thì pháp địa tự nhiên cũng rúng
động. Hễ pháp địa rúng động, thì tất cả các pháp cũng chẳng an nhẫn,
nếu các pháp chẳng an nhẫn, tức là không có kỉnh, nên bần đạo vẫn ngồi
tự nhiên là vậy đó”.

Ông Lưu Trung Thừa nghe Ngài nói như thế, thì rất kỉnh phục.
[/color]
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: SỰ TÍCH ÐỨC DI LẶC BỒ TÁT   

Về Đầu Trang Go down
 
SỰ TÍCH ÐỨC DI LẶC BỒ TÁT
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu!-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create your own blog