WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 SỰ TÍCH ĐỨC QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: SỰ TÍCH ĐỨC QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT   6/9/2009, 18:14





Huệ Lương


Quán Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn
nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan
Âm Phật, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ, v.v...
Quyền pháp năng lực của Ngài cao siêu.
Quyển kinh nói về Ngài, mà hiện nay phái Bắc Tôn (Trung Hoa, Cao Ly, Nhựt Bổn,
Việt Nam) còn truyền tụng là quyển “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát
Phổ Môn Phẩm”. Theo lời kinh Phổ Môn bất cứ là hạng nào trong chúng sanh, bất cứ
là ở vào tình cảnh nào, lúc nào, hễ cầu đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì đặng
cứu ngay. Ngài dùng huyền diệu cứu vớt chúng sanh không biết muôn ức nào mà kể.
Nếu cầu Ngài với danh hiệu thuộc về một phân thân nào của Ngài thì Ngài xuất
hiện y theo phân thân ấy để cứu độ. Kinh Phổ môn có biên rành 12 điều đại nguyện
của Ngài.
Theo kinh truyện để lại, Ngài phân thân giáng trần 33 kiếp, khi thì mượn xác nam
nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì ở vào cảnh quyền quý cao sang, khi thì vào
hàng bần cùng cơ khổ, khi thì sanh làm đạo sĩ, khi thì làm tỳ khưu, v.v...
Hiện nay đời còn truyền tụng hai kiếp giáng trần làm phụ nhơn của Ngài là: kiếp
thứ mười làm bà Thị Kính, kiếp chót làm bà Diệu Thiện. Sau khi thoát kiếp chót
này Ngài được chứng quả Phật Tổ tại Phổ Đà Sơn (Nam Hải).
SỰ TÍCH THỨ NHỨT:


QUÁN ÂM THỊ KÍNH
Trước kia Đức Quan Âm Bồ Tát tu đã đặng tám kiếp rồi. Qua tới kiếp thứ chín Ngài
phân thân nam nhi đi tu chứng bực tỳ khưu. Khi kiếp thứ chín của Ngài gần mãn
thì Đức Thích Ca giáng xuống thử lòng. Đấng Thế Tôn hiện ra một người con gái
tới lần khân ép nài vị tỳ khưu kia kết duyên với mình. Vị này mới thốt rằng: “Có
chăng họa may là kiếp sau, chớ kiếp này vì lời thề nguyện tu trì thì không thể
nào đặng.” Vì lời hứa ấy mà sau khi mãn kiếp thứ chín rồi vị tỳ khưu kia phải
giáng trần đầu thai làm thiếu nữ, suốt đời phải chịu trăm điều cay đắng về vấn
đề tình duyên để thử lòng Ngài coi ra sao.
Ấy là phép Phật định vậy.
Vâng lịnh của Đức Phật Tổ chơn linh vị Bồ Tát kia bèn giáng trần đầu thai làm
con gái nhà họ Sùng là Sùng Ông, một nhà giàu có ở xứ Cao Ly lại là nhà từ tâm
chưởng đức. Hai ông bà tuổi đã cao mà không con nên đi cầu tự và sanh ra nàng
Thị Kính, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang. Hai ông bà mừng được chút gái
để có người hôm sớm trong lúc tuổi già. Khi nàng đã đúng tuần cập kê thì gần đó
có chàng Thiện Sĩ, con nhà quyền quý trâm anh cậy mai đến nói. Vợ chồng Sùng Ông
thấy phải đôi vừa lứa bèn chịu gả con gái mình.
Đến ngày nạp thái vu quy nàng Thị Kính buồn tủi muôn phần! Buồn là vì thấy mình
là con một, một khi đã xuất giá rồi thì bề nhà sau trước quạnh hiu, lấy ai mà
thần tỉnh mộ khang thế cho mình! Tủi là lỡ sanh làm con gái thì đúng tuổi phải
xuất giá tòng phu rủi may phải chịu và ơn sanh thành không sao trả đặng! Cha mẹ
nghe nàng than thở làm vậy bèn kiếm lời khuyên giải và nói rằng: Cha mẹ sanh con
là gái, thì khôn lớn có nơi có chốn làm đẹp mặt nở mày mẹ cha đó là đủ rồi. Con
chẳng nên lo điều chi khác nữa! Vả lại nhà bên chồng con cũng gần đây thì sự
thăm viếng cũng thuận tiện. Nghe vậy nàng mới an lòng chiều ý muốn của cha mẹ.
Từ khi về nhà chồng, nàng giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong êm
ngoài ấm, ai nấy đều khen.
Một ngày kia nàng đương ngồi may, chàng Thiện Sĩ sau khi đọc sách mỏi mệt mới ra
gần chổ nàng may mà nằm nghỉ, luôn dịp ngủ quên. Từ khi về nhà chồng đến giờ
nàng chưa có dịp nhìn chàng cho chính đính. Nay có cơ hội đưa đến nàng, nhơn lúc
chàng ngon giấc mà nhìn kỹ mặt đức lang quân. Chợt thấy dưới cầm chàng có mọc
một sợi râu và biết coi tướng ít nhiều, nàng thấy quả là sợi râu bất lợi! Nhơn
cầm sẵn cái kéo trong tay nàng mới đưa kéo ra cắt lấy. Đương lúc ấy, chàng Thiện
Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ cầm kéo đưa ngay cổ mình, vụt la hoảng lên rằng:
“Vợ tôi muốn giết tôi.” Trong nhà vỡ lở, cha mẹ gia tướng chạy đến gạn hỏi. Nàng
tình thật cứ nói ngay, không ngờ cha mẹ chồng quá ư nghiêm khắc bắt tội nàng có
ngoại tình và mưu giết chồng. Nhơn cớ ấy cha mẹ chồng buộc chàng Thiện Sĩ làm tờ
để vợ và mời vợ chồng Sùng Ông đến lãnh con về. Vợ chồng Sùng Ông hơ hãi tới nơi
mới tường tự sự. Hai ông bà kêu con ra hỏi, rầy la than trách một hồi rồi lãnh
con về.
Lúc ấy Thiện Sĩ lòng như dao cắt, tưởng là việc đáng bỏ qua không dè đến nỗi rẽ
thúy chia loan thì chàng ăn năn vô ngần, châu rơi lã chã. Khi nàng Thị Kính lạy
từ công cô và chàng ra về, vì sợ uy cha mẹ chàng chẳng dám hở môi nói bào chữa
nàng một lời nào.
Về nhà, nàng Thị Kính buồn bã muôn phần. Một là buồn cho số phận long đong, tình
duyên trắc trở; hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não trong lòng.
Vì nàng là một người đàn bà chân chính may rủi một chồng mà thôi, nàng khăng
khăng không chịu “ôm cầm thuyền ai”. Nàng than rằng nếu có anh em đông thì nàng
cũng đành nhắm mắt cho rồi để khỏi mang tiếng nhơ. Nhưng vì nàng là con một,
nàng không nỡ hủy mình, sợ e thất hiếu, mà ở như vậy thật rất khổ tâm cho nên
nàng quyết chí xuất gia, noi gương Phật Tổ, tu hành cho đắc đạo rồi trở về độ
lại mẹ cha.
Một hôm, nàng lén cải trang nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi. Hay tin cha mẹ nghi nàng
vì buồn tình xưa mà sanh nhẹ dạ theo người và sai người đi kiếm cùng nơi mà
không gặp.
Từ khi nàng lìa gia đình ra đi thì nàng có ý tìm một cảnh chùa để gởi thân. Đến
ngôi chùa được chọn nàng gặp giờ sư cụ đang thuyết pháp. Nàng trộm xem tướng mạo
thì thấy rõ đó là một bậc chơn tu, đạo pháp khá lớn. Nàng bèn xin thọ pháp quy
y. Sư cụ ban đầu rất nghi ngờ nàng, bèn ngọn hỏi ngành tra vì sợ e trang thiếu
niên kia sau này bán đồ nhi phế mà đắc tội với Phật Trời. Nàng thì một mực nói
mình là một thư sanh, con nhà quyền quý, lòng chán công danh nên vào nương nhờ
cửa Phật để gột rửa lòng phàm.
Thấy chí quả quyết của vị thiếu niên, sư ông mới vui nhận cho làm đệ tử và ban
pháp danh là Kính Tâm.
Vì sãi Kính Tâm là nữ trá hình cho nên dung mạo khôi ngô kiều mị, làm cho hàng
tín nữ trầm trồ, nhất là nàng Thị Mầu, con của một vị phú ông trưởng giả vùng
ấy. Mượn cớ ra vô trong chùa, nàng Thị Mầu lắm khi đưa tình trêu ghẹo sãi Kính
Tâm, nhưng nàng vẫn trơ trơ như không hay không biết. Thất vọng, Thị Mầu mới
quay lại tư tình với đứa ở của nàng. Khi thai đã gần già, khí sắc nàng đổi, làng
xã thấy thế mới đòi phú ông và nàng ra hỏi.
Chịu đòn không kham, Thị Mầu túng phải cung xưng. Trong khẩu cung Thị Mầu quả
quyết rằng mình có tư tình với sãi Kính Tâm nên mới ra cớ đỗi và xin làng rộng
lượng cho sãi Kính Tâm hoàn tục kết duyên với mình.
Trống mõ inh ỏi, cửa thiền xưa nay êm lặng phút chốc trở nên huyên náo, sóng dậy
ba đào. Người nhà làng đến chùa đòi sư ông và sãi Kính Tâm ra nghe dạy việc.
Thầy trò cùng dắt nhau đi. Đến nơi mới hay tự sự! Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò
có sao nói thiệt. Trò một mực kêu oan chớ không nói điều chi thêm nữa. Hương
đảng đông đủ tra hỏi sãi nhỏ đủ điều, khi dọa, khi khuyên nhủ rằng: Nếu nói thật
thì làng cũng chứng cho để lập gia thất. Kẻ thì mai mỉa: Sãi kia tu có trót đời
không? Rốt cuộc vì không chịu xưng tội tình và một mực kêu oan cho nên sãi Kính
Tâm phải bị đem ra tra tấn.
Đứng trước cảnh thịt nát máu rơi và thấy trò bất tỉnh, sư ông mới động mối từ
tâm đứng ra xin bảo lãnh cho trò để sau này về nhà khuyên nhủ dạy răn.
Thấy thế hương đảng cũng niệm tình ưng thuận cho sư tiểu cùng về. Đến chùa, Sư
ông dạy tiểu ra ở ngoài tam quan để tránh tiếng không tốt cho chùa.
Thời gian qua, Thị Mầu đến ngày mãn nguyệt khai hoa, hạ sanh đặng một mụn con
trai. Nàng bèn bồng hài nhi đến cửa tam quan bỏ đó rồi về, nói rằng: “Con của
ngươi, đem trả cho ngươi.” Sãi Kính Tâm đương tụng kinh nghe đứa nhỏ bị bỏ dưới
đất giãy giụa khóc la, động mối từ tâm người bèn ra ẵm đứa bé vào, mướn vú nuôi
bên tự. Mẹ vò nuôi con nhện lắt lẻo qua ngày.
Hết thời trì kinh thì sãi Kính Tâm lại phải giữ gìn bồng bế đứa trẻ. Nghe vậy,
sư cụ mới vời sãi Kính Tâm vào mà trách rằng: “Trước kia con nói rằng con bị hàm
oan, mà nay như thế thì chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa là ai?”
Sãi Kính Tâm bèn bạch rằng: “Bạch sư phụ, khi xưa sư phụ có dạy đệ tử rằng cứu
đặng một người, phước đức hà sa. Đệ tử vâng lời thầy mới cứu mạng đứa trẻ này,
chớ kỳ trung con không có ý chi hết.”
Tuy vậy sãi Kính Tâm cũng không đặng phép vô ra trong chùa để tránh tiếng cho
chùa.
Đứa trẻ khi đặng hai, ba tuổi đã có vẻ thông minh và giống sãi Kính Tâm như hệt.
Khi hài nhi đúng ba tuổi thì sãi Kính Tâm đến ngày phải theo Phật. Biết trước
giờ phân ly, sãi Kính Tâm mới viết hai bức thơ gởi lại, một kính gởi cho sư cụ,
còn một bức thì gởi cho cha mẹ ruột. Khi sãi Kính Tâm tắt hơi thì đứa nhỏ y như
lời cha dặn đem bức thơ vào dâng cho sư cụ.
Xem thơ xong, sư ông rất ngậm ngùi, bèn phái vài vị ni cô ra coi tẩm liệm. Khám
xét xong thì mới hay sãi Kính Tâm là nhi nữ trá hình.
Tin ấy truyền ra hương lân nhóm lại đòi cha con Thị Mầu đến buộc tội cáo gian và
phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho sãi Kính Tâm.
Bằng chứng sờ sờ phú ông phải chịu, Thị Mầu xấu hổ muôn phần bèn quyên sinh để
trốn khổ nhục.
Đến ngày an táng sãi Kính Tâm thì thiên hạ đồng thấy Phật hiện trên mây rước hồn
sãi Kính Tâm là nàng Thị Kính. Hai vợ chồng Sùng Ông và Thiện Sĩ đặng thơ và hay
tin đau đớn này đồng có đến dự. Sau cuộc tống táng vợ xưa Thiện Sĩ ăn năn lỗi
trước bèn phát nguyện tu hành.
Tục truyền rằng Thiện Sĩ sau đắc quả thành con chim ngậm xâu chuỗi bồ đề, đậu
một bên Đức Phật Quan Âm, Đức Phật Quan Âm cũng độ luôn con của Thị Mầu đắc quả
hầu gần bên Ngài.
Ngày nay, người xứ ta và người Tàu khi họa tượng Phật Quan Âm thì thường họa một
bà đội mũ ni xanh hoặc đen, ngồi trên tòa sen hoặc thạch bàn, bên tay mặt có một
con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chắp tay hầu. Ấy
là con của Thị Mầu.
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Nguồn St khác   6/9/2009, 18:17



Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Quan Thế Âm tiếng Phạn là “Avalokitesvara”
dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại …Danh hiệu Quan Thế
Âm, nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để
độ cho họ thoát khổ.
Theo Kinh Bi Hoa thì ở
vào đời quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng Như Lai. thời đó có
vua Chuyển Luân Thanh Vương là Vô Chánh Niệm. Vua có quan đại thần là
Bảo Hải, phụ thân của đức Bảo Tạng khi chưa xuất gia đối trước Đức Phật
Bảo Tạng phát ra 48 đại nguyện.

Do đó, Đức Bảo Tạng thụ ký cho Vua (khi đó đã là Pháp Tạng Tỳ Kheo) sau này thành Phật hiệu là A Di Đà ở vào thế giới cực lạc.





Trạm trổ Bồ Tát Quan Âm tại Trung Quốc. Nhiều cánh tay của Bồ Tát tượng trưng cho khả năng cứu giúp chúng sinh vô tận.
Vua Chuyển Luân có nhiều con. Con cả là Thái
Tử Bất Tuấn cũng do ngài Bảo Hải khuyến tiến. Thái Tử cũng đi xuất gia
theo cha và đối trước Đức Bảo Tạng Như Lai phát ra bảo nguyện đại bi
thương xót, cứu độ tất cả các loài chúng sanh bị khổ não. vì vậy Đức
Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử thành Bồ Tát hiệu là Quan Thế Âm, còn Bảo
Haỉ là tiền thân của Đức Thích Ca Mầu Ni.
Đức
Bảo Tạng thụ ký cho Thái Tử rằng: “Vì lòng đại bi Ông muốn quán niệm
cho tất cả chúng sanh được cùng về cõi an lạc (cực lạc). Vậy từ nay đặt
tên cho Ông là Quan Thê Âm….



Bồ Tát Quan Thế Âm là hiện thân của Từ Bi,
Ngài phát đại nguyện thực hiện từ bi cùng tận trong đời vị lai, nếu
chúng sinh còn đau khổ. Vì chỉ có từ bi mới giải trừ đau khổ, cũng như
chỉ có trí tuệ mới diệt được ngu si. Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm thiết
lập tâm đại từ, đại bi mà thực hiện đại thệ nguyện độ sanh của Ngài.



TỪ là đem niềm vui đến cho kẻ khác. Chữ Từ
như người ta thường nói: Từ thiện, từ ái, từ mẫu, từ tâm. Từ tâm đối
với ác tâm, sân tâm, ích kỷ tâm….BI là phương châm, là cách thức hành
động để cứu khổ.
Từ là lòng yêu thương, Bi
là ra tay giải quyết và dấn thân nỗ lực làm việc để cứu giúp thực tế.
Tóm lại Tu Bi: Thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ niềm an lạc vui
sướng gọi là Từ (maritrya, maitri). Đồng cảm nỗi khổ và thương xót
chúng sinh, trừ bỏ nỗi khổ cho họ gọi là Bi.



Quán Thế Âm xưa kia Ngài đã thành Phật hiệu
là “Chánh Pháp Minh Như Lai”. Ngài thị hiện làm Bồ Tát vì muốn đảm
đương công tác cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Đức Bồ Tát quán thấy
Phật và chúng sanh đồng chung một bản thể, đồng chung một giác tánh duy
nhất, nhưng Phật đã giác ngộ mà chúng sanh thì còn mê.



Do đó, Đức Quan Thế Âm tức là một vị Phật
tương lai sẽ bổ vào ngôi của Đức Phật A Di Đà, thì ngài cùng với ngài
Đại Thế Chí (kiếp xưa là em ngài, con thứ vua Chuyển Luân cũng cùng
Ngài đồng thời được Đức Bảo Tạng thụ ký) giúp việc giáo hoá độ sanh cho
Đức Phật A Di Đà và 2 Ngài cũng ứng thân xuống sa bà trợ giáo cho Đức
Thích Ca Mâu Ni.






Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm có chép lời Ngài bạch với Đức Thếâ Tôn rằng:


“Con nhớ cách đây vô số hằng hà sa kiếp về
trước có Đức Phật ra đời hiệu là Quan Thế Âm, từ Đức Phật kia dạy con,
do nghe, nghĩ và tu mà vào Tam Ma Đề” Do đó nên biết: Ngài đã phát tâm
Bồ Đề từ đời Đức Phật Quan Thế Âm trong vô số hằng hà sa kiếp về trước
do nghe Phật truyền pháp, Ngài đã nhận định pháp tu viên thông về nhĩ
căn là hơn tất cả, do ngài khó chứng viên thông ở nhĩ căn nên được Đức
Phật thụ ký cho ngài danh hiệu Quán Thế Âm, một danh hiệu mà chúng sanh
ở mười phương cung kính chấp trì, nhất là trong những lúc nguy hiểm,
đau khổ.



Ngoài ra, Kinh Quán Âm Tam Muội nói: “Xưa kia
Ngài Quán Thế Âm đã thành Phật hiệu là “Chính Pháp Minh Như Lai”. Tiền
thân Đức Thích Ca hồi ấy đã từng ở dưới pháp toà, sung vào trong số đệ
tử khổ hạnh để gần gũi”. Ngày nay Đức Thích Ca thành Phật, thời Ngài
trở lại làm đệ tử để gần gũi lại:” Một Đức Phật ra đời thì hàng ngàn
Đức Phật phù trì”.



Trong Kinh Đại Bi Tâm Đà Na Ni thì chép lời
Ngài bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn ! con nhớ vô lượng ức kiêp trước
có Đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quan Vương tĩnh trụ Như Lai” Đức Phật
ấy vì thương đến con và tất cả chúng sanh nên nói ra môn Đại Bi Tâm Đà
La Ni. Ngài lại dùng cánh tay sắc vàng xoa đầu con mà bảo:”Thiện Nam Tử
! Ông nên trụ trì tâm chú này và vì khắp tất cả chúng sanh trong cõi
trược ở đời vị lai mà làm cho họ được sự lợi ích yên vui lớn.” Lúc đó
con mới ở ngôi Sơ Địa, vừa nghe xong thần chú này liền vượt lên chứng
đại Bát Địa”.



Mật tông thì theo trong Kinh Đại Bản Như Ý nói có 8 vị đại Quan Âm là:


1) Viên Mãn Ý, Nguyệt Minh Vương Bồ Tát.


2) Bạch Y Tự Tại.


3) Cát La Sát Nữ.


4) Tứ Diện Quán Âm.


5) Mã Đầu La Sát.


6) Tỳ Cầu Chi.


7) Đại Thế Chí.


Cool Đà La Quan Âm (Quán Âm Chuẩn Đề).


Ngài có đức uy thần công đức và lòng từ bi
rất lớn. Ngài vốn không phải là nữ tướng, nhưng vì ngài thường cứu khổ
cứu nạn cho chúng sinh (mà phụ nữ thường nhiều khổ nạn hơn so với nam
giới) cho nên giới phụ nữ đặc biệt tín ngưỡng về Ngài. Nên chúng sanh
mới tưởng tượng ra Ngài là nữ tướng để tiện hoá độ cho phụ nữ. Theo
Kinh A-Di-Đà nói: Người sanh về cõi cực lạc tuy chưa chứng quả Thánh,
vẫn không có tướng nam, tướng nữ. Kinh A Hàm nói người nữ có 5 chướng
không thể thành Phật…..Thế mà Bồ Tát Quan Thế Âm lại hiện thân người Nư
ư?



Bồ Tát Quan Thế Âm hiện thân của Đức Từ Bi,
muốn nói lên tình Mẹ thương con, Mẹ đối với con là tình thương chân
thành, tha thiết nhất không có tình thương nào sánh bằng. Cho nên, Đức
Quan Thế Âm hiện thân là một người mẹ hiền của nhân loại, hay của tất
cả chúng sinh.



Căn cứ theo hình tướng đã thể hiện và đức
tính Quan Thế Âm đã cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh, nhân loại được
thoát khổ đau ở sa bà này to lớn biết chừng nào !



Chân như đạo Phật rất mầu


Tâm trung chữ hiếu niệm đầu chữ nhân


Hiếu là độ được song thân


Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài


Tinh thông nghìn mắt nghìn tay


Cũng trong một điểm linh đài hóa ra


Xem trong biển nước nam ta


Phổ môn có Đức Phật Bà Quan Âm.


Cho nên, Phật Tử chúng ta dù tu theo pháp môn
nào: Mật Tông, Tịnh Độ hay Thiền Tông cũng phải thường xuyên niệm hồng
danh của Ngài. Ngài gia hộ, độ trì cho mới thoát khỏi tai nạn, khổ ách
mỗi khi đến với mọi người chúng ta đều phải niệm “Nam Mô Đại Từ Đại Bi
Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” thì được giải thoát, tai qua nạn
khỏi và sự nghiệp tu hành mới mau chóng thành tựu theo sở cầu như nguyện



*/ Tuệ Minh Đạo
Về Đầu Trang Go down
 
SỰ TÍCH ĐỨC QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Mình là sỹ quan boong tàu chạy tuyến châu á, nay muốn tìm việc trên bờ
» Nhận làm giấy tờ hàng hải và dịch vụ thi sỹ quan
» Vấn đề thi sỹ quan vận hành?
» Những điều Sĩ quan Vận hành Boong (Phó 2, Phó 3) cần biết
» Tài liệu ôn thi Sỹ quan vận hành

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu!-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Free blog