WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Đại Bi Quán Thế Âm hay Liên Hoa Bộ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486713
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Đại Bi Quán Thế Âm hay Liên Hoa Bộ   26/9/2009, 18:12


Đại Bi Quán Thế Âm
hay Liên Hoa Bộ


Cư sĩ Liên Hoa










- Kính dâng lên chư Tổ, Ân sư Cốù Sa môn Thích Viên Đức, Sa




môn Thích Quảng Trí và những hành giả Du già đã và đang





âm thầm nuôi dưỡng, duy trì và phổ biến Mật giáo tại Việt





Nam.




- Kính tri ân những tác giả các quyển sách mà tôi đã trích đăng




hay tham khảo khi viết bài tiểu luận nầy.




- Thương tặng Thanh- người vợ và là người bạn đồng hành.








Nhạn quá trường không




Ảnh trầm hàn thủy




Nhạn vô di tích chi ý




Thủy vô lưu ảnh chi tâm



Thiền sư Hương Hải



Tạm dịch :




Nhạn bay giữa trời




Bóng chìm dưới nước




Nhạn không lưu ảnh để lại




Nước chẳng lưu bóng làm chi






Hình ảnh Quán Thế Âm là biểu tượng sống động của tình yêu
tuyệt vời, cao độ trong Phật giáo, đó là tinh thần Đại bi.



Phải chăng phạm trù Đại bi chỉ ứng dụng cho con người hiện
đại, hay tiếng niệm Quán Âm là tiếng cầu cứu thống thiết nhất của
nhân loại trước họa diệt vong? Chúng ta càng ngày càng sống trong
một xã hội được khoa học kỹ thuật phục vụ, và càng lúc, vì ảnh hưỡng
của môi trường sống chung quanh, ta càng quên mất chính ta. Tây
phương đã lẫn lộn giữa tiện nghi và tiến hóa, và Đông phương chỉ vì
mặc cảm thua kém về kỹ thuật khoa hoc, đã và đang tiến bước theo đà
của Tây phương cũng như đã dần dần đánh mất những bản sắc cao đẹp
nhất của Đông Phương: Đó là đời sống tâm linh. Cần nhấn mạnh
là chúng ta không chống đối sự tiến bộ, sự phát triển của khoa học,
nhưng làm sao phải quân bình giữa tinh thần và vật chất, cũng như
phân biệt rõ giữa tiện nghi tiến hóa



Phật giáo nhận thức rằng: “Con người hay hữu tình nơi
đâu vẫn đều khổ. Khổ vì sanh, già,bệnh,chết, vì lục dục thất tình
làm điên đảo, đố kỵ, tranh giành, thù hận, chém giết . . Quá khứ đã
vậy và tương lai cũng vậy, chỉ trừ khi con người đã vượt thoát khỏi
sự chấp trước trong vòng nhị nguyên
”.



Đó cũng là ý nghĩa xuất hiện trên thế gian của Đức Phật.



Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Ta vì đại
sự nhân duyên mới xuất hiện ở đời, đó là khai thị cho chúng sanh Ngộ,
Nhập Phật Tri Kiến
”.



Cho nên, tìm hiểu về Đức Quán Thế Âm Bồ tát trong Mật giáo,
chính là sống trong lòng từ bi vô bờ bến của Đức Phật, trong tinh
thần Đại nguyện của Bồ tát Hạnh, cũng là sống với chính mình, làm
cởi bỏ tất cả mọi phiền trược, thành kiến v.v...để thể nhập vào Đại
bi Thai tạng giới, thể hiện tinh thần cứu khổ, ban vui được hiện
thực trên mỗi con người, mỗi hành giả.




Vậy, Đức Quán Thế Âm trong Mật giáo ra
làm sao?



Quan Âm hay Quán Âm, gọi đủ là Quán Thế Âm. Tiếng Phạn gọi
là Avalokiteshvara. Quán là quán tưởng, có nghĩa là xét thấy bằng tư
tưởng và trong tư tưởng, tức là trí năng quán. Thế là thế
gian, tức cảnh sở quán. Âm là tiếng hay âm thanh.



Quán Thế Âm có nghĩa là xét thấy, xét nghe tiếng của thế gian đau
khổ, lo sợ. Bởi tất cả chúng sanh đều có hoặc nghiệp nên mới hòa hợp
với nhau mà hiện ra các khổ tướng báo thân. Cho nên, Quán Thế Âm
cũng có nghĩa là Trí năng quán, tiêu biểu cho Đại bi, Đại từ của Đức
Phật, tức Tâm. Mà tâm thời ai cũng có, cho nên Đức ấy có thể hiện
trong bất luận chúng sanh nào, từ cõi Thiên xuống đến cõi người,
A-tu-la v.v…để độ thoát những chúng sanh trong 3 nẻo dữ (Địa ngục,
ngạ quỉ, súc sanh ).



Quán Thế Âm gồm 2 nghĩa :



- Về Nhân hạnh : Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói rằng: “Tiếng
bị nghe được gọi là Cảnh sở quán, do tâm không duyên cảnh nào khác
mà mỗi mỗi đều an trụ vào Như Lai Tạng
”. Đây chủ yếu là lấy Văn
-Tư -Tu làm cho nhĩ căn viên thông. Bởi vì, nếu có thể quay ngược
lại để nghe nơi tự tánh, thời năng văn của tâm và cảnh sở
văn
thảy đều tiêu tan, dung hội- tâm mới được tư tại, viên
thông.



- Về Quả đức : Từ nhân hạnh, nay lấy chữ Âm làm đại biểu
cho tất cả những tiếng khổ đau, cũng là tiếng kêu vang thống thiết
của chúng sanh đang ngụp lặn trong phiền não, si mê. Bồ tát dùng
nguyện lực đại bi đã từng thường xuyên quán sát chúng sanh khổ não,
gặp có cảnh xưng niệm danh tánh mình để cầu cứu độ thoát, Bồ tát
liền đem ngay trí đại bi soi xét tất cả, tức tốc thi hành cứu độ
ngay.



Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn do Thái Hư Đại sư giảng
lục có giải thích rõ về chữ Quán và 5 pháp Quán như sau:



1- Chân quán : Là dùng diệu trí quán sát nơi chân tánh
để biết thân tâm mình, thân chúng sanh, tất cả đều bình đẳng không
hai- Đây tức chân khởi nguyên của đồng thể đại bi.



2- Thanh tịnh quán : Là quán sát nơi tịnh pháp từ xưa
đến nay chẳng tương ứng cùng với nhiễm pháp, xa lìa 2 món chướng
ngại là cái ta và vật của ta.



3- Quảng đại trí tuệ quán : Vì tự tâm thanh tịnh, nên
quán sát nơi pháp hai Đế Chân Tục, mỗi mỗi đều soi
rõ làu làu không có sót lọt.



4- Bi quán : Là quán nơi giữa chúng sanh và Phật đều
đồng thể, do đó; mới thương chúng sanh vì họ bị hoặc-nghiệp nên
không thoát khỏi khổ não.



5- Từ quán : Là Bồ tát Quán Thế Âm vì lòng bi nguyện cứu
khổ, nên thường nghĩ ban điều vui, an lành cho chúng sanh.



Do Quán tự nầy, hiện rõ ánh sáng Vô cấu Thanh tịnh, tức ánh
sáng của trí tuệ năng phá các tăm tối phiền não, nhờ đó hàng phục
được bổn tâm. Cho nên, mới năng đem trí quang minh mà soi khắp các
cõi để cứu khổ chúng sanh. Đây chính là diệu dụng lợi tha.



Còn căn cứ vào Quả đức mà nói, thời mười Phuong ba đời các
Đức Phật , có Ngài nào mà không đem từ bi quán soi các khổ não của
chúng sanh để mà cứu vớt. Do đó, không vị nào không là đồng danh
đồng hiệu Bồ tát Quán Thế Âm. Và chúng sanh đâu có gì sai khác, vì
chúng sanh là Phật sẽ thành. Âm thanh chẳng những là tiếng từ miệng
phát ra, mà trong tâm chúng sanh những khi mặc niệm cũng là âm. Bởi
vì là từ danh thể làm hiện cảnh, rõ nghĩa, mà tâm là duyên cảnh xét
lấy nơi nghĩa. Cho nên, hễ động nơi bên “trong” cũng là tiếng
của tâm, nên cũng chính là niệm Quán Thế Âm của bổn tâm mình.



Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn nói thêm: “Vì được viên thông
vô thượng, cho nên Ngài có 4 Đức vô tác nhiệm màu không thể nghỉ bàn:



1-Một là xoay tánh nghe để nghe tiếng mầu nhiệm của nội tâm. Tánh
nghe nầy không chút ô nhiễm, nên ngăn dứt tất cả âm thanh đối tượng.
Bấy giờ, tánh thấy, nghe , ngửi, nếm, xúc, biết của 6 căn còn là một
tánh giác thanh tịnh có thể thay thế cho nhau mà không ngăn ngại. Do
đó, có thể hiện ra nhiều tướng và nói vô số Chân ngôn bí mật, từ 1
đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, 108 đầu, 1000 đầu, 10.000
đầu cho đến 84.000 đầu. Hoặc có thể hiện ra 2 tay, 4 tay, 6 tay, 12
tay, 14 tay, 18 tay, 10 tay, 24 tay, 108 tay, 1000 tay, 10.000 tay
cho đến 84.000 tay uyển chuyển, và biến hiện về mắt cũng như mắt
vậy, nhưng có mắt thanh tịnh hoặc uy từ, hoặc uy, hoặc định, hoặc
huệ tuỳ duyên cứu độ cho chúng sanh được tự tại



2- Hai là tánh nghe và suy nghĩ
thoát ra khỏi 6 trần, như âm thanh luồn xuyên qua vách. Do sức nhiệm
màu vô tác, nên hiện nhiều hình tướng, nói nhiều chân ngôn đem lại
cho chúng sanh được sức vô úy. Cho nên danh xưng của Ngài trong muời
phương vi trần, goị là Bậc Thí Vô Úy.


3- Do sự tu tập là phát huy
căn bản thanh tịnh sẳn có, nên được viên thông mầu nhiệm. Đi đến nơi
nào hay thế giới nào, cũng tuỳ theo sự cầu cứu của chúng sanh mà
thương xót tế độ.


4- Do được Phật tâm, chứng
ngộ đến chỗ cứu cánh nên có thể đem các thứ trân bảo cúng dường Thập
phương Như Lai. Đến như các chúng sanh trong pháp giới muốn cầu
trường thọ, được trường thọ, cho đến cầu Đại Niết bàn cũng được Đại
Niết bàn.


Sự chứng đắc viên thông nầy đến từ cửa ngõ nhĩ căn quán
chiếu đến tột cùng viên mãn về âm văn ( nghe tiếng
) mà được Tam muội, bởi vì tánh và nghe và thấy tròn sáng
châu biến mười phương”






Vì chúng sanh có thiên hình vạn chủng, nghiệp sai biệt nên do tâm
sai biệt mà chiêu cảm hình tướng. Cho nên, trong Bộ Mật tạng của
Tông Mật, Đại Bi Quán Thế Âm cũng biến hiện ra nhiều thân hình như
Thiên nhãn Thiên tý Quán thế Âm , Thập Nhất Diện Thánh Quán tự Tại,
Quyến Sách Quán Thế Âm, Khổng Tước Quán Thế Âm, Bạch Y Quán Âm,
Chuẩn Đề Quán Âm v.v.. Để thuyết pháp hoặc nói chú độ chúng sanh. Có
nghĩa là Thần chú của Đai bi Quán Thế Âm nhiều nhất trong Bộ Mật
Tạng, tương ưng vớùi những trạng thái thống khổ của chúng sanh trong
3 cõi, 6 đường. Có thể nói đến Phẩm Phổ Môn trong Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, cũng có nói đến 7 nạn, 2 cầu, và 32 ứng hóa thân của Bồ
tát Quán Thế Âm cũng cùng ý nghĩa cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh.



Mật giáo cũng là một trong mười Tông phái của
Phật giáo. Mật giáo lấy phương pháp Tam mật gia trì làm căn bản. Đây
là pháp của Đức Như Lai Đại Nhật hay Tỳ-lô-giá-na (Vairocana), là
Pháp thân của Đức Phật- có nghĩa là phương pháp được xướng khởi trên
mặt Quả hay là trên sự chứng nghiệm rồi. Tam mật gia trì, đó là
thân-khẩu-ý.



* Thân: Ngồi kiết già hay bán già, còn gọi là Thân Kim Cang-
tương ứng với Pháp thân.



* Khẩu: Miệng tụng trì Thần chú, còn gọi là Khẩu Kim Cang, ứng
với Ứng Thân.



* Ý: Quán tưởng chủng tự hoặc Bổn Tôn, còn gọi là Ý Kim Cang,
tương ưng với Hóa Thân.



Khi Tam mật tương ưng, chính là ngay trong khoảng sát na đó
đã thể hiện trọn vẹn hình ảnh Bổn tôn hoặc Đức Phật. Liên tục gia
công hạnh pháp tức liên tục thể nhập hình ảnh đó,tức tâm, tức ngay
thân nầy phá trừ nội ngoại chướng, thành Phật.



Mật giáo lại chia ra làm 2 loại:



1-Kim Cang giới tức Không, còn gọi là Trí tuệ Bát nhã, Đại




Viên Cảnh Trí.




a/- Trí đức bền vững không hư hoại.




b/- Năng dung phá tan tất cả phiền não.



2- Thai tạng giới tức Hữu, còn gọi là Đại Bi Tâm, tức Diệu Quán



Sát Trí.




a/- Ẩn phú : Lý thể ẩn trong phiền não.




b/- Hàm tàng : Lý thể đầy đủ công đức, ví như thai mẹ




hàm tàng thân con.



Thai tạng giới như cái bào thai, tiêu biểu Bi Trí tánh đầy
đủ. Thai nhi còn là biểu tượng cho chính hành giả tu trì chân ngôn.



Thai tạng giới còn bao gồm 3 Bộ :



1- Phật Bộ : Do Đức Như Lai Đại Nhật làm chủ, nghĩa Bi Trí
đầy



đủ, giáo đại viên mãn.



2- Liên Hoa Bộ : Do Đức Bồ Tát Quán Thế Âm làm chủ, có



nghĩa là Đại Bi Tâm hay trụ tướng



pháp lành, ví như hoa sen tươi đẹp trong bùn.



3- Kim Cang Bộ : Do Bồ Tát Kim Cang Thủ làm chủ, là Trí tuệ



và Lục dụng của Như Lai, hay phá tan mọi nghiệp khổ, dụ rắn



chắc như Kim Cang.



( Vì muốn làm sống động hình ảnh Đức Đại bi Quán Thế Âm hay
Liên Hoa Bộ trong Mật giáo, nên tôi đã dẫn chứng đến nhiều danh từ
của Mật giáo. Còn nói rõ về ý nghĩa cũng như phương pháp tu trì
Chân ngôn là một việc khác và sẽ được nói trong quyển “ Tinh yếu
Mật giáo Việt Nam” ).



Mật giáo lấy âm thanh làm chủ. Đây cũng là sự liên hệ mật
thiết với Đại bi Quán Thế Âm, tuy như 2 mà là một. Tay bắt Ấn, miệng
niệm chú cũng là khởi động của âm thanh, những ba động. Ý quán tưởng
cũng là những âm thanh của tâm.



Âm của tâm tức Diệu âm, gồm ý nghĩa bất tư nghì, tức tâm
Phật hay tâm của Bổn tôn. Cái tâm bao trùm tất cả để tùy sự cầu cứu
của chúng sanh mà cứu vớt và tùy duyên giáo hóa, hay phương tiện thi
thiết pháp âm, tức nơi Quyền lý Thiệt. Nhưng vì nguyên lai Bản thể
chẳng dời đổi, lay động, nên tùy duyên mà thường bất biến. Có nghĩa
là nơi Dụng hiện Thể, hiển hiện Diệu Âm hoặc Quán Thế Âm.



Tâm Phật và chúng sanh nào có khác nhau, chỉ duy có bên Mê
bên Ngộ, tịnh-nhiễm, giải thoát và ràng buộc. Cho nên, để thể nhập
vào Đại bi Thai Tạng giới, hành giả phải hành trì, có nghiã là thọ
trì, gìn giữ, tức Niệm. Trì Niệm gồm đủ 2 nghĩa : Sự và Lý.



Khi trì niệm chân ngôn là Sở trì. Tâm ta là tâm Năng niệm,
biết tâm năng niệm của ta, tức hiển lộ Danh sở niệm. Lìa tâm, không
có Danh sở niệm, cũng như lìa Danh, không có Tâm Sở niệm. Ngoài Sở
không Năng, ngoài Năng không Sở. Đó chính là Nhất tâm, còn gọi là Lý
trì. Sự chẳng rời Lý, Lý nhờ sự hiện, chẳng rơi vào Không hoặc Hữu,
không vướng hai bên, hợp với Tự tánh Chân tâm, gọi đó là Phạm Âm.



Cũng như khi niệm, niệm trước chẳng sanh, tức sống trong
tự tánh định
, không lìa Thể Chân như thanh tịnh, tức không vọng
động. Niệm sau chẳng diệt, tức vào nơi tự tánh huệ, bổn tánh tự tại
ứng động, phát ra diệu dụng, hiểu rõ và phân biệt tất cả Sự-Lý, mọi
vật. Tuy nói trước sau, nhưng không có thời gian hiện diện, vì tức
thời hay tương tức.



Do thể hiện được sự kết hợp với Chân tâm, ba độc
tham-sân-si liền tiêu trừ, tức thành được 3 Đức của Mật tạng: Pháp
thân, Bát nhã, Giải thoát. Đức nầy như sóng Hải triều âm làm tan mọi
vọng niệm của chúng sanh để đưa đến Bờ giác. Đó cũng là Hạnh của Bồ
tát: Trên cầu Phật đạo- đó là Phạm âm. Dưới hợp với cơ nghi,
cứu độ chúng sanh- đó là Hãi triều âm.



Đại bi Quán thế âm của Mật giáo, tức là Bồ tát tự tánh của
chúng sanh. Chúng sanh là chúng sanh ở trong tâm của Bồ tát, đem
chúng sanh ở trong tâm Bồ tát mà đảnh lễ Bồ tát trong chúng sanh,
nên Năng–Sở lễ tánh đều vắng lặng- Gọi là thị hiện Quán Thế Âm.



Đạo Phật là Đạo của hành động, của Dấn thân. Hình chữ Vạn
( ) hình dung rõ ràng hôn cái Lý nầy: Bất dịch (Tỉnh) nằm
trong cái Lý biến dịch (Động). Nên, hành động hay dấn thân của Đạo
Phật, của Mật giáo đòi hỏi hành giả phải thể nhập vào để thể hiện
hay nhập thể để nhập thấ.



Thể nhập là Chánh niệm. Chữ Niệm (




) gồm có: trên chữ Kim (=hiện nay ), dưới chữ Tâm (= lòng ), tức là
tấm lòng của hiện nay. Ý nói rằng: “Không nên dùng tâm quá khứ
hoặc tâm vị lai mà niệm, chỉ nên dùng tâm hiện tại mà niệm
”.



Do tâm hiện tại niệm, từ nơi đó suối nguồn của tâm Từ bi và
Trí tuệ tràn ngập. Có Trí tuệ để quán sát sự vật như thật để đi sâu
vào thức tánh và từ đó, khởi lên Tâm Từ cứu độ. Kinh Từ Bi (Karaniya
Metta Sutta), bộ Kinh thường được trì tụng trong Phật giáo Nguyên
thủy đã nói rõ về Chánh niệm nầy:
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486713
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Đại Bi Quán Thế Âm hay Liên Hoa Bộ   26/9/2009, 18:12

Karaniya matthakusalena - yam tam satam padam abhisamecca-Sakko
uju ca suju ca - suvaco c’assa mudu anatimani.



Santussako ca subharo ca - Appakicco ca sallahuka
vutti-Santindryo ca nipako ca -Appagabbho kulesu ananugiddho.



Na ca khuddam samacare kinci – Yena vinnu pare upavadeyyum –
Sukhino Va khemino hontu – Sabhe satta bhavantu sukhitatta.



Ye keci panabhutatthi – Tasa Va thavara va anavasesa – Digha Va
ye mahanta Vamajjihima rassakanukathula.



Dittha Va yeva addhittha – Ye ca dure vasanti avidure – Bhuta
Va sambhavesi Va – sabhe satta bhavantu sukhitatta.



Na paro param nikubbetha – natimannetha katthacinam kanci –
Byarosana patighasana – nanna mannassa dukkha miccheyya.



Mata yatha niyam puttam – ayusa ekaputta manurakkhe – Evampi
sabba bhu tesu – Manasam bhavaye aparimanam.



Mettanca sabbha lokasmin – Manasam bhavaye aparimanam – uddham
adhonaca tiriyanca asambadham averam asapattam.



Tittham caram nisinno Va – sayano Va yavat’assa vigatamiddho –
Etam satim adhittheyya – Brahmametam viharam idha mahu.



Ditthinca anupagamma silava – dassassena sampanno – Kamesu
vineyya gedham – Nahi jatu gabbhaseyyam puna reti’ti.



Bản dịch của Ngài Bửu Chơn :



( Người trí tuệ biết rõ những sự hữu ích, muốn giác ngộ theo
các pháp yên lặng là Niết bàn, thì người ấy nên có sự dũng mãnh,
thân khẩu-ý chân chánh, dễ dạy, tánh nết mềm mỏng, không ngã mạn
thái quá.



Là người tri túc dễ nuôi, ít bận rộn, thân tâm nhẹ nhàng, có
lục căn thanh tịnh, có trí tuệ, rất cẩn thận, không quyến luyến theo
kẻ thế.



Các bậc trí tuệ hằng khinh bỉ những kẻ khác, tạo những nghiệp
ác nào thì người có trí không nên hành theo những nghiệp ấy. Nên rải
lòng từ ái đến tất cả chúng sanh như vầy: “Cầu xin cho tất cả chúng
sanh hằng được sự an vui, yên ổn”.



Tất cả chúng sanh không có hạn định, dầu là chúng sanh có sự
kinh hãi, là còn lòng tham muốn, hoặc các bậc hiền triết đã dứt lòng
tham muốn. Chúng sanh nào có thân hình dài hoặc lớn, trung hoặc vắn,
gầy hoặc béo.



Chúng sanh mà ta thấy hoặc không thấy được, ngụ nơi xa hoặc
gần, đã sanh ra rồi hoặc đang tìm nơi thác sanh: Cầu xin cho chúng
sanh đó hằng được sự an vui.



Chúng sanh không nên hăm dọa và hãm hại lẫn nhau, không nê
khinh dễ kẻ khác dầu là nhỏ nhoi, chút ít, không nên làm khổ lẫn
nhau vì sự nóng giận bất bình là sự bực tức trong tâm.



Người mẹ dám liều sanh mạng để bảo dưỡng con mình là con một
thế nào, thì người nên rải lòng từ bi vô lượng vô biên đến tất cả
chúng sanh cũng như thế ấy.



Người có tâm từ ái vô lượng vô biên là không bực tức, không thù
oán, không kẻ nghịch, nên rải đến tất cả chúng sanh trên thế giới,
là rải nơi hướng trên, hướng dưới, bên ngang và khoảng giữa.



Người đó dầu lúc đi đứng nằm ngồi, không có ngủ mê lúc nào, thì
nên niệm tâm từ ái đến lúc đó. Các bậc trí tuệ gọi những tư cách đó
là Phẩm Phạm Hạnh trong Phật pháp.



Người có tâm từ ái không tà kiến, có giới hạnh được đắc quả
Tu-đà-hoàn là người đã dứt bỏ sự vui thích theo ngũ trần và không
còn thọ sanh vào thai bào nữa”.



Thật vậy, có chánh niệm mới thể nhập được Thực tánh, thể
nhập vào suối nguồn Chân Tâm vốn đầy đủ Từ bi và Trí tuệ, Hạnh
nguyện. Có thể nhập để từ đó thể hiện. Thể nhập vào Bổn tôn, tức
thấy rõ Bộ mặt muôn đời của mình. Nhận thức rõ các pháp là huyễn,
phiền não tức Bồ đề. Chúng sanh tức là Phật, mê là ngộ v.v. .




Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo đàn nói:






Bồ đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bản lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai







Dịch :







Bồ đề vốn không cây

Gương sáng cũng không đài

Phật tánh thường thanh tịnh

Chỗ nào nhuốm bụi nhơ







Từ chỗ Chân không Diệu hữu mới thấy được pháp giới trùng
trùng duyên khởi, tương tức tương nhập: Một la tất cả, tất cả là
một, tất cả là tất cả. .



Đó là Trí tuệ, có Trí tuệ mới có Từ bi hoặc có Từ bi mới có
Trí tuệ. Trí tuệ và Từ bi là một, từ đó, hạnh nguyện độ sanh tự
nhiên tràn trề, tức là thể hiện Đại bi Quán Thế Âm.



Hành giả sống trong tâm thức của Bổn tôn, gọi đó là “Gia
do ánh sáng mầu nhiệm của Bổn tôn chiếu rọi vào. Thu nhận và hòa
đồng cùng ánh sáng đó, gọi là “Trì”. Hai bên thừa tiếp nhau,
nên gọi là Tam Mật Gia Trì, hay Định Huệ.- gồm ý nghĩa:



Huệ là Trí Đức Trang Nghiêm.



Định gọi là Phước Đức Trang Nghiêm.



Đây là Lưỡng Túc Tôn, tức Pháp thân hay Như Lai Đại Nhật.



Bộ Kinh Đại Thừa Trang nghiêm- Một Bộ Kinh tối ư quan trọng
của Mật giáo, nêu rõ lý tưởng Từ Bi trong Trí Tuệ, hay ngược lại,
Trí tuệ là Từ bi. Đây cũng là Bộ Kinh của Mật tạng nói lên sự thể
hiện hay là con đường dấn thân của Đức Bồ tát Quán Thế Âm.




Sao gọi là Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương ? Vì Kinh nói
nơi Tự tánh gồm có đầy đủ Phước Huệ.



Nơi Tự tánh là Sở Trang Nghiêm, còn nơi Phước Huệ là Năng
Trang nghiêm. Năng Sở chẳng phài 2, nên gọi là Diệu Trang Nghiêm,
bao gồm đầy đủ Tam học là Giới-Định-Huệ và Đà-la-ni.



Kinh cũng thuyết về SÁU CHỮ ĐẠI MINH CHÂN NGÔN, đó là :



OM- ( ) : Ý nghĩa Quy mạng hay trở về. Sắc màu trắng,



thoát Thiên giới.



MA ( ) : Sắc xanh, thoát A-tu-la.



NI ( ) : Sắc vàng, thoát Nhân.



BÁT ( ) : Liên Hoa tức Quán Thế Âm. Sắc lục, thoát



Bàng anh.



MÊ ( ) : Sắc đỏ, thoát Ngạ quỷ.



HÙM ( ) : Sắc đen, thoát Địa ngục.



Những màu sắc cũng như những cảnh giới vượt thoát khỏi,
tương ứng với những hình ảnh của cận tử nghiệp hay thân
trung ấm
. Tuy nhiên, đề cập đến Liên hoa Bộ, chúng ta thấy rằng:
Đây la một may mắn vô cùng cho các Phật tử, vì Chân ngôn Lục tự Đại
Minh nầy là Pháp bảo của Đức Bồ tát Quán Thế Âm trao lại cho cuộc
đờøi. Sáu chữ nầy có công năng đưa hành giả thoát ra khỏi Tam giới
Lục đạo. Nhưng, làm sao để giải thoát ra khỏi khổ nạn nầy? Làm sao
để trang nghiêm thân để thân là Bồ tát Quán Thế Âm? Làm sao để tìm
học và thọ trì? v.v.. .



Trong Kinh, Đức Phật dạy: “Nếu Thiên nam và Thiện nữ y
pháp niệm Sáu chữ Đại Minh Đà-la-ni nầy, người đó chắc chắn đắc
Tam-ma-địa, an trụ nơi đạo giải thoát, không thể nghỉ bàn.


Lúc đó, Bồ tát Trừ Cái Chướng
bạch Phật rằng:


- Bạch Đức Thế Tôn! Con phải
đến nơi đâu để lảnh thọ Sáu chữ Đại Minh. Kính mong Ngài từ bi chỉ
dạy”.


Phật dạy rằng: ‘Nầy Thiện nam
tử! Ở tại thành Ba-la-nại có một vị Pháp sư, thường phát tâm khóa
tụng thọ trì Sáu chữ nầy”.


- Bạch Đức Thế Tôn, con nay
muốn qua thành đó và muốn được thấy Pháp sư để lễ bái cúng dường.


Phật dạy: “Lành thay Thiện nam
tử! Ông nên biết rằng, vị Pháp sư kia rất khó gặp. Thấy được Pháp sư
đó cũng như thấy Đức Như Lai, như thấy được công đức Thánh địa, như
thấy phước đức chứa tụ, như Pháp tạng, như Châu Ma-ni Như Ý cứu đời.


Thiện nam tử! Nếu ông thấy vị
Pháp sư đó, không được sanh lòng khinh mạn nghi ngờ. Thiện nam tử,
cũng chớ nên thoái thất tâm Bồ đề. Ta sợ ông thoái thất địa vị Bồ
tát, vì vị Pháp sư kia giới hạnh khuyết phạm, lại có vợ con, đại
tiểu tiện dính dơ cà sa, trông không oai nghi”.


Bầy giờ Bồ tát Trừ Cái Chướng
đem vô số chúng xuất gia Bồ tát, Trưởng giả, Đồng tử và vì muốn hưng
khởi đại lễ cúng dường, nên đem Thiện Bảo Cái cõi Trời và các thứ
mão báu, châu báu …và đến chỗ ở của Pháp sư, rồi cúi đầu đảnh lễ sát
chân của Ngài để cầu Pháp Lục tự.


- Đây là Đại Pháp tạng, Cam lộ
vị tạng, là bể pháp thâm sâu, vi diệu. Đức Như Lai Đẳng Giác biết rõ
về ông. Nay tôi khao khát Chánh pháp, nguyện cầu ban cho Pháp vị
khiến được an trụ nơi Pháp chủng Bồ đề.


Pháp sư nói rằng: “Nếu được
sáu chữ Đại Minh Đà-la-ni nầy, thì không thể bị ba độc tham-sân-si
làm ô nhiễm. Như được Vô Thượng Trí, Như Đại Giải Thoát. Tất cả Trí
tuệ Mẫu đều xuất phát từ đó, tất cả Như Lai Đẳng Giác và các vị Đại
Bồ Tát thảy đều cung kính chấp tay làm lễ. Thiện nam tử! Bồ tát tu
pháp nầy, tức được đầy đủ Sáu Ba la mật”.


Bấy giờ Pháp sư Ngài hiện thân
tướng Liên Hoa Thủ, Liên Hoa Cát Tường, Bồ tát Tự Tại Quán Thế Âm vì
Bồ Tát Trừ Cái Chướng trao truyền Sáu Chữ Đại Minh Đà-la-ni”.


Tại sao cầu Sáu chữ Chơn ngôn
nầy lại không cầu nơi Đức Phật, nơi các vị Đại Bồ tát hoặc các vị có
những hình dạng đặc biệt hay hiển lộ ra những đức hạnh oai nghi,
siêu việt v.v… làm dễ kính phục, mà lại cầu thọ lãnh Pháp nơi một vị
Cư sĩ khiếm khuyết oai nghi, vợ con đùm đề, đại tiểu tiện dơ dáy,
dính cà sa?



Như chúng ta được biết, Đạo Phật là đạo của hành động và
hành động thì tác động lên tất cả mọi sự vật, mọi tư tưởng. Bản chất
của hành động bao gồm Trí tuệ ( Sự hiểu biết ) và Từ bi ( Tình
thương ).



Kinh Hoa Nghiệm nói rằng: “Nhất thiết duy tâm tạo”.



Tâm con người như người họa sĩ vẽ lên tất cả các nét của
cuộc sống. Tâm là một năng lực có thể gây nên mọi sự mầu nhiệm hoặïc
xấu xa. Cho nên, hành động theo đạo Phật như - bản chất- đưa
chúng sanh đi thẳng vào Chân lý. Tuy nhiên, Chân lý lại không thể
tách rời khỏi cuộc đời, khỏi con người, vì nếu trần gian ô trược nầy
là đất chết, thì cũng chính nơi đây là đất sống, như phiền não tức
Bồ đề. Không có một sự giải thoát nào tách rời khỏi con người hoặc
cuộc đời uế nhiễm nầy.



Con ngươi vì do vô minh, vì thành kiến, cố chấp, thiếu
thông cảm v.v..làm thành một lớp màn che phủ Chân tâm, tức Bản Giác.



Trong quyển Tự điển Phật học Hán Việt, Tập 2, trang 1684:
Bồ tát Trừ Cái Chướng là tên tắt của “Trừ Nhất thiết Cái chướng”.



Cái là tên khác của phiền não, che lấp cái tâm của chúng
sanh, làm chướng ngại Thánh đạo, khiến thiện tâm không nẩy nở được,
ví dụ như Ngũ cái: 1- Tham dục, 2- Sân nhuế, 3- Thụy miên (Biếng
nhác, ham ngủ), 4- Trạo hối (Xao động, hối hận) 5- Nghi pháp (Ngờ
vực Chánh pháp) v.v… Như Kinh Vô Lượng Thọ, quyển Hạ nói: “ Sự thanh
tịnh do xa lìa triền cái, cái tâm không lừơi biếng giải đãi” hoặc
trong Pháp giới thứ đệ, quyển Thượng: “Cái có nghĩa là che lấp tâm
hành giả, khiến lòng tin thanh tịnh không thể nẩy sanh được”.



Vị Bồ tát Trừ Cái Chướng biểu tượng như là một con người
bình thường như chúng ta, là chúng ta. Một con người đang bị ràng
buột trong với những nội kết, những đau thương của ngã và pháp chấp,
tuy nhiên lại mang một tâm thức cầu đạo. Người đã mang nổi niềm khao
khát giải thoát, hơi thở choáng ngợp trong sự tù hảm của nội tâm
muốn vươn lên, hai tay chới với giữa khoảng không gian. Người đã đem
tất cả những gì quý nhất để đảnh lễ vị Pháp sư để cầu thọ lảnh Sáu
Chữ Đại Minh Đà-la-ni. Điều nầy làm cho chúng ta liên tưởng đến
những mẩu chuyện kể về Tiền thân của Đức Phật đi cầu Pháp, chỉ 1 câu
hay 1 bài kệ mặc dù phài hy sinh đến tánh mạng v.v.. Đó là những tấm
lòng tha thiết vì sanh tử đại sự, vì muốn đắc thành Chánh quả.




Thành Phật có nghĩa là trở về Thủy giác, Chân tánh, cho nên không
có nghiã là xa lánh cuộc đời. Sáu chữ Đà-la-ni mầu nhiệm nầy nằm sẳn
trong tâm thức của mỗi người, mọi chúng sanh biểu hiện như lục dục,
thất tình làm điên đảo con người. Thành Tất điạ có nghiã là chuyển
lục thức thành Ngũ Trí Như Lai, chuyển Lục tự thành chân tâm tức xé
bỏ mọi cái chướng, triền phược, chấp trước…




Bản giác ví như vàng khối, tức biểu tượng chúng sanh đều có Phật
tánh. Còn Thủy giác ví như vàng đã thành những đồ mỹ khí, trở về
Chân Như Thực tánh, hội nhập vào Bổn tôn hay Thực tại. Sự hội nhập
nầy không phải bằng Trí năng mà bằng tất cả sự sống tâm linh, gột
rửa con người hắc ám, củ kỷ, đạt đáo bỉ ngạn.



Vị Pháp sư hiện thân sống giữa đời và thành Phật giữa
phiền nảo vô minh, như bông sen vươn lên giữa bùn lầy nhầy nhụa, như
ánh mặt trời làm tan chảy những tảng băng dày đặc thành kiến, sai
lầm.




Núi thành núi, sông thành sông



Đâu có gì
sai khác giữa Phật và chúng sanh, giữa mê và ngộ. Pháp sư tuy ở giữa
cuộc đời, nhưng Ngài đã thực chứng. Thực chứng bằng thực nghiệm của
cuộc đời sanh tử, không phải là cái biết có tính cách lý luận của
Trí năng, mà là cái biết đã được thực nghiệm bằng sự sống của bản
thân. Ngài đã yêu cái trần gian , yêu chúng sanh vì đó là tâm của
Ngài. Qua Kinh, trông Ngài vẻ bề ngoài như phi pháp, quần áo lôi
thôi lếch thếch, ăn nói ngông nghênh, nhưng tất cả hành trạng đó chỉ
để thể hiện hay biểu tượng cho cái tâm không vướng mắc, rong chơi,
vuợt chốn nhị nguyên đối đải, hoàn toàn giải thoát.



Ngài đã
quán chiếu thực tại và đi xuyên suốt thực tại và thực tuớng của nó,
quán rõ cảnh giới đều do Tâm lưu xuất và đạt Đại Tự Tại. Quán biết
căn cơ của chúng sanh mà hoá độ, nên Ngài là hiện thân của Đại bi
Quán Thế Aâm , gần gủi chúng sanh, gần gũi con người, tự tại vô ngại
mà thể hiện Bi Trí, Lý Sự vô ngại, đầy đủ đại hùng đại lực, xem
thường tất cả mọi sự thăng trầm, khổ vui, phân biệt của cuộc đời.



Đó chính là
bàn tay “Tài thủ đắc vật”, nói theo ngôn từ Mật giáo, có
nghĩa là đầy đủ “phương tiện thiện xảo” để tuỳ căm cơ độ
sanh. Còn gọi là Đà-la-ni môn, theo Kinh Lăng Nghiêm nói:” Khi đã
chứng được Đà la ni môn nầy là chứng biết vạn pháp sai biệt” hay còn
gị là “Du hí thần thông tam muội”, đi vào cuộc đời sanh tử như một
trò du hí độ sanh.



Thiền sư Lâm
Tế nói về Du hí Thần thông như sau:” Vào thế giới sắc không bị sắc
đánh lưà,vào thế giới âm thanh không bị âm thanh đánh lừa, vào thế
giới hương-vị-xúc-pháp không bị hương-vị-xúc-pháp đánh lừa. Thành
tựu được sáu thần thông tức đạt được Không tướng của Sáu trần. Tuy
còn là thân ngũ uẩn hữu lậu, nhưng thực là đang đi thần thông trên
đất”.



Câu nói nầy
hẳn nhiên bổ túc, bóc trần được hình ảnh linh động, kỳ đặc của Pháp
sư tứ c Bồ tát Đai bi Quán Thế Aâm qua biểu tượng trong Kinh Đại
thừa Trang Nghiêm Bảo Vương.



Do đó, Đức
Phật mới nói với Bồ tát Trừ Cái Chướng (Đây có nghĩa Sở tri, chướng
ngại, định kiến ) rằng: ”Pháp sư đó thường phát tâm koá tụng, thọ
trì Lục tự nầy (sống hồn nhiên trong Đại bi Thai tạng giới ), nên
thấy vị Pháp sư đó cũng như thấy Đức Như lai. Đây là Pháp tạng (Chân
tâm hay Châu Ma-ni Như ý (thể hiện Đại bi) và Pháp sư sống giữa đời
thưòng để giác ngộ cuộc đời, ban vui cứu khổ.



Qua Mật giáo,
qua Liên hoa bộ mà Đức Bồ tát Quán Thế Aâm là Chù bộ, chúng ta nhận
thấy Ngài không chỉ hiện thân trên con người, vì con ngưòi, mà còn
hoá thân vì những chủng loại khác nhau như : noãn, thai, thấp, hoá
v.v.. vì tâm bao trùm tất cả. Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn nói rằng:”
Phải biết hư không sanh trong tâm của ông, cũng như một đám mây điểm
giữa bầu trời, huống là các thế giới ở trong hư không”.



Chân tâm rộng
lớn, biến khắp viên mãn, bao gồm mười phương.



Chúng ta từ
vô thủy đến nay không rõ tâm nầy, vọng thấy các tướng cũng như con
mắt bệnh, nên thấy hoa đốm giữa hư không. Ơû trong Chân tâm vốn đầy
đủ vô tận sắc tâm công đức, tức cùng Tỳ-lô-giá-na ( Vairocana ) thân
tâm bình đẳng. Cho nên, muốn thành tựu Phật quả, cần phải ngộ
Tỳ-lô-giá-na giới.



Ngài Thành
Lương thì nói rằng:” Không nương sự Ngộ nầy, việc làm không chân
chánh, sự tu hành của mình sẽ ràng buộc thành nghiệp
”. Cho nên,
Chân tâm nầy biểu tượng là Đàn tròn ( Viên Đàn ) trong Bộ Liên Hoa
của Mật giáo, bao gồm Bi-Trí, Lý-Sự viên dung.
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486713
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Đại Bi Quán Thế Âm hay Liên Hoa Bộ   26/9/2009, 18:13







Theo Đại Trí Độ Luận
viết: “Mọi hiện tương đều gồm trong 2 phạm trù Vật lý và Tâm lý,
ngoài ra không còn gì khác. Trên phương diện phân biệt, ta nhận thấy
Tâm và Vật khác nhau, nhưng trên bình diện Giác ngộ, mọi hiện tựơng
đều từ Tâm. Tâm mầu nhiệm mà Vật cũng mầu nhiệm ( Diệu Sắc Diệu Tâm
). Tâm là Vật, mà Vật cũng là Tâm, ngoài Tâm không Vật, ngoài Vật
không Tâm. Cả 2 tương nhiếp lẫn nhau, nên gọi là bất nhị
”.



Câu nầy cũng
nói lên tinh thần của Liên Hoa bộ, như đã nói ở trước, Liên hoa bộ
bao gồm đủ : Phật, Liên hoa và Kim cang bộ. Phật bộ là Thực tại,
biểu tượng là hình vòng tròn hàm chứa Bi Trí, Tâm Vật….đây là ý
nghiã thể nhập vào Bổn tôn hay đắc Tam mật gia trì của Mật giáo.



Trong Kinh
Dịch có nói: “Tẩy tâm, thối tàng ư Mật “.



Chữ Mật nầy
thì đồng nghĩa với Chân tâm. “Tẩy tâm” là gột rửa Tâm mình, gột rửa
những meo mốc của quá khứ, những thành kiến phải quấy, thiện ác
v.v…để trở về với Chân tâm. Chân tâm khác với cái tâm nhị nguyên. Ơû
đây, Chân tâm là biểu tượng cho cái vòng tròn, như cái lòng của
biển cả.



Theo quan
niệm “vật thể “ của Tây phương, vòng tròn hònh căng lên giống như
cái bầu của người đàn bà. Do đó, thường biểu tượng cho đàn bà và sự
sanh nở qua những nét tròn.



Quan niệm của
Đông phương, tròn là biểu tượng cho sự biến dịch, va chạm vào nhau
mà không gây hại cho nhau. Đây là hoà đồng phải có trong mọi sự sống
chung, để sanh tồn. Ví dụ: gặp thhời tiết băng giá hoặc điều kiện
thiên nhiên khắc nghiệt, thù ngịch,; thì loài vật có khuynh hướng
thu tròn lại để bảo tồn năng lượng.



Còn quan niệm
của Mật giáo, vòng tròn biểu tượng cho Đại Viên Cảnh trí, như các
Kinh Đà-la-ni trì tụng Pháp nói:” Tam ma địa hay Du già trì là tưởng
Tâm thành vòng tròn sáng” (Mặt nguyệt )



Mật giáo chỉ thẳng chân
tâm, không qua con đường lý luận trí năng. Vị Du già sư qua Đàn
pháp, Ấn khế, Chân ngôn v.v…đẩy hành giả vào tâm điểm của vòng tròn,
đó là tâm điểm của Thực tại. Dĩ nhiên, người hành giả đã trải qua
bao nhiêu là thăng trầm, miên mật trong biển Pháp và vị du già su đã
nhìn thấy ra căn cơ đã chín nuồi. Đàn Pháp chỉ là môi giới làm cho
hành giả thể nhập thẳng vào dòng sống đó.



Chúng ta phải quen với
ngôn ngữ Mật giáo, vì ngôn ngữ đó thường biểu lộ qua Ấn khế, Quán
tưởng, Chân ngôn, Đàn pháp, vì đó bao hàm nội dung hoặc Tâm ấn ẩn
tàng sự Giác ngộ của Bổn tôn hay Đức Phật hoặc vị Thượng sư. Về mặt
Lý tánh, thì đồng thể giữa chúng sanh và Phật. Về mặt sai biệt, như
trong Hiển Mật ViênThông nói:” Ly tướng ngoài cầu lấy Vô tướng
và Vô tướng chính là Thực Tướng.



Kinh Quảng Bát lầu Cát
còn nói rằng:” Chân ngôn là Mẹ của chư Phật”. Thần Biến sớ gọi đó là
Vô tướng Pháp giới. Mỗi mỗi chữ đều gồm đủ Giới-Định-Huệ, đủ muôn
hạnh không ngoài Lục độ, Lục độ không lià Tam học”.û



Vì thế, chân
ngôn cần phải được Mật truyền, không được giải thích, vì nếu giải
thích từng chữ, từng câu sẽ không đủ hết ý nghiã, hơn nữa, còn thành
những ý niệm, định niệm, phân đoạn v.v…khiến hành già xa lìa Chân
tâm. Khi chia xẻ Thực tại, Thực sẽ là vô nghĩa.



“Thời gian
suy nghĩ, mây xa ngàn dậm” ( Thiền sư Trí Bảo, phái Vô ngôn Thông ở
Việt Nam ).



Tuy nhiên,
làm hiển lộ Chân tâm hay thể nhập vào Tâm ấn của Đức Như lai ( Đại
bi Thai tạng giới ) được hay không, phải do Công Năng miên mật của
hành giả. Tại sao phải hội đủ Công Năng?- vì lẻ, như yá nghĩa được
nói sau về Công Năng: Tinh Cần tu hành, gọi đó là Công
phải đủ Tín nguyện, đó là Năng.



Không hành
trì, không Tín nguyện, chúng ta mãi mãi đứng xa khoảng trời Mật nhủ,
trừ phi phải là bậc đã đầy đủ túc duyên, gieo trồng căn lành nhiều
đời nhiều kiếp.



Do Công Năng nầy, hành
giả liên tục gia trì ( miên mật) trong dòng sống Thực tại, kết được
Thánh thai Đại bi Quán Thế Âm, vì làm bùng vở cái hữu ngã, chấp
trước, vị ngã để nhảy vào vô ngã, một chân trời thênh thang, vô
tướng, vô cầu, nhưng đầy hạnh Đại bi.



Trong Kinh Tăng A-hàm
viết:”Tác ý tức nghiệp” hay Kinh Kim Cang:”Ứng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm”. Nghiệp ở đây là Bạch tịnh nghiệp, đã tịnh hoá, trở về với
Chân tâm. Như Lục tự Đại minh còn nói:” màu trắng là tổng hợp của
7 màu, nó chỉ cho sự bao dung vô cùng tận trong sự hoà hợp của Tâm
”.



Vào thế kỷ 17, nhà Bác
học Newton sau khi làm thí nghiệm ánh sáng mặt trời xuyên qua hình
lăng trụ bằng thủy tinh, đã đi kết luận sau:” Một mảnh thủy tinh
hình lăng trụ có thể phân chia ánh sáng mặt trời thành 7 màu khác
nhau”.



Các nhà Bác học thường
gọi màu sắc trên là linh hồn của ánh sáng. Hai nhà Bác học Thụy sĩ
là Georg Agricola (1499-1555)- người lập ra ngành mỏ và Paracelse
(1493-1544)- người cha đẻ của thuật luyện kim đơn, đã phát hiện
rằng:” Từ màu sắc của ngọn lửa, chúng ta suy luận và biết vật thể
đang cháy”.



Qua phương pháp suy luận
qui nạp, chúng ta nhận thức rõ màu trắng là tổng hợp của 7 màu và
qua Mật giáo, Bạch tịnh thức bao hàm sự chuyển y, chuyển hoá của lục
dục thất tình hay “Phiền nảo tức Bồ đề”. Đây là đường rrở về Chân
tâm và Khí.



Mật giáo quan niệm rằng
làm chủ được thân-khẩu-ý, tức đạt được tam muội ( Chánh định ). Cũng
như nếu biết xử dụng hơi thở (khí) và âm thanh (Phạm âm) sẽ tạo ra
được những luồng ba động có năng lực sáng tạo. Năng lực sáng tạo nầy
trưởng dưỡng Thánh thai Đại bi và Trí tuệ, do sự trở về với Bạch
Tịnh Thức.



Chủng tử của Bạch tịnh
thức theo Đại bi Quán Thế Âm hay Liên hoa bộ là Hật-rị (
Hrih ). Theo A-di-đà Nhất tự Tâm chú, chân ngôn chủng
tử nầy luôn luôn đi theo với Lục tự : Om- Mani Padme Hùm, Hrih ( Đoá
sen trong viên ngọc ma-ni ( như ý ) được hình thành trong Bạch tịnh
thức.



Chữ Hrih gồm đủ 4 chữ để
thành một chân ngôn. Chữ HA



( H ) tự môn, có nghiã là
tất cả pháp nhơn bất khả đắc. Chữ RA



( R ) tự môn, nghiã là
tất cả pháp ly trần. Trần nghiã là ngũ trần gồm:
sắc-thanh-hương-vị-xúc. Đây, cũng gọi là 2 thứ chấp trước Năng thủ
và Sở thủ. Chũ Y ( I ) là tự tại bất khả đắc. Chữ ÁC ( H ) gọi
là Niết bàn. Do Giác ngộ các pháp vốn không sanh, xa lià 2 thứ chấp
trước, nên chứng được Pháp giới thanh tịnh.



Chữ Hrih nầy cũng gọi là
tâm hổ thẹn, hay Tàm quí. Thẹn với luơng tâm mình, và xấu hổ đối với
nguời khác, vì thế không làm điều bất thiện, đầy đủ tất cả các pháp
lành vô lậu. Trong Liên hoa Bộ gọi là Pháp bộ, chuyển thành Diệu
dụng. Do chuyển được Lục dục thành Tịnh thức, đây là Tịnh thổ của
Tâm do sự trở về (chuyển y) và phương Tây là biểu tượng của Tịnh
thức nầy. Mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương tây.



Qua đôi mắt hạn hẹp của
chúng ta, mặt trời đã lặn khi ở cuối phương tây. Nhưng, nó lặn để mà
mọc lại rõ ràng ánh sáng rực của buổi bình minh: Xuân Hạ Thu Đông
vẫn tuần tự trôi qua, ngày lại đến đêm, rồi lại ngày. Nơi nầy vừa
chấm dứt, nơi kia lại bắt đầu, liên tục…



Thiền sư Mãn Giác nói
rằng:







Mạc vị xuân, hoa lạc tận



Đình tiền tạc dạ, nhất
chi mai







Dịch:


Chớ bảo xuân tàn, hoa ruing
hết



Đêm qua sân trước, một cành
mai



Theo Abhidharma
:”Sự sanh và sự chết bất cứ lúc nào cũng xuất hiện đồng thời”.



Cho nên, trở về với Tịnh thổ,
có nghĩa là chết đi con người cũ kỷ, con nguời của sách vở, của của xã
hội, của nhị nguyên, của nhân vị tạo thành. Con người của kiến thức, của
truyền thống lâu đời không biến cải v.v… ( Huyền nhai tận thủ, tuyệt hậu
tái sanh : Vực thẳm buông tay, chết đi sống lại ).



Không chết con người nầy, sẽ
không bao giờ chuyển y được và sẽ không là con người của Đại bi Đại trí.
Oâm cái vị ngã hạn hẹp vào mình, thì bầu trời bao la chỉ còn gom lại
trong lòng bàn tay, chật cứng. Chết đi con người cũ, nghĩa là phá tung
cái vị ngã để hoà vào vô ngã, của vùng trời bao la vô cùng tận.




Ngài Điều Ngự Giác Hoàng nói:
“Nhất hồi niêm xuất, nhất hồi xuân “. Con người mới, con người của vô
ngã, của cái tâm bao dung, là con người giải thoát tự tại, và là một Đại
bi Quán Thế Âm. Đó là một biểu tượng cực đẹp, sống động ban vui cứu khổ,
là cứu cánh của Mật giáo.



Trên cái bàn viết của tôi,
motä cái lọ nhỏ nằm trên bàn, vài nhánh cây vạn niên thanh ( tên thường
gọi là cây trầu bà ) được cắm vào đó, lẫn với sỏi, nuớc. Mỗi ngày, tôi
nhìn nó và uớc muốn nó sẽ lớn, xanh. Nay thì nó đã thêm nhiều lá,xanh
mưót, tràn đầy sức sống, yểu điệu, vươn mình khoe sắc. Từ cuối thân,
những mầm rễ trắng nhú ra, mỉm cười. Có những nhánh dài màu xám nhạt,
len lỏi qua kẻ hở của những hạt sỏi chồng chất nhau, bám rễ và hút nước.
Một mẫu thiên nhiên nhỏ được tôi nuôi dưỡng bằng chính tình thương của
tôi. Tôi đã nhìn nó hàng ngày và nó đã sống dậy, không chỉ vì nuớc mà
còn, cũng vì lòng thương, tình cảm của người bạn săn sóc nó.



Tình thương phải chăng làm
cho cuộc sống có ý nghĩa và sống dậy. Chúng ta đã có bài học yêu thương
đầu đời bằng tình thương của cha mẹ và khi lớn lên, với thiên nhiên, với
mọi sự vật chung quanh. Sự hiện hữu của một người là do tình thương của
bao nhiêu ngưòi khác, tương tức tương nhập và ngược lại. Sự dau khổ, sự
vô thường, sự chia cách, được thua, vinh nhục, giàu nghèo v.v..đã không
làm cho chúng ta trưởng thành và nhiều tình thương hơn sao?



Cho nên, tình thương chính là
sự sống. Sự sống vươn mình hiển hiện khắp mọi nơi, thì Đại bi Quán Thế
Âm cũng thể hiện, phân hình khắùp nơi chốn cần cầu. Tình thương- đó là
Phật giáo, vì đến từ cái tâm trưởng thành. Tình thương không thể có
trong một con ngưòi nhiều thành kiến, đố kỵ, hận thù…Tình thương chỉ có
thật khi con người thông cảm lẫn nhau do sự hiểu biết chân thành và nhận
ra nhau là những vị Phật sẽ thành. Những lớp phủ bề ngoài chỉ là những
nghiệp lực tác động đến, còn Tâm Phật vẫn luôn ngời sáng.



Đời sống cuồn cuộn trôi như
nước chảy qua cầu, có ai bắt được dòng nuớc vừa trôi qua. Mọi sự luôn
biến dịch trong từng sát na một, nhưng mỗi lúc lại chứa đựng cả thiên
thu. Trong nhà thiền gọi là: “Nhất niệm vạn niên “.



Chúng ta đang đứng trước một
nền văn minh vật chất cực thịnh, quay cuồng mọi người trong những mắc
xích, mà mỗi người là một mắc trong đó. Chúng ta chạy theo thời gian, dù
thời gian vật lý một ngày chỉ có 24 giờ, ta vẫn cảm thấây thiếu, vì tâm
luôn bất an. Chúng ta nhận lầm tiến bộ vật chất là tiến bộ tâm linh và
vô tình, lại đang bán linh hồn cho những tiện nghi đó. Cho nên, tấm lòng
Đại bi thể hiện trong lúc nầy là cùng nhau làm cho vật chất có ý nghĩa
tiến bộ thực sự là để phục vụ con người đúng nghĩa. Và chung quanh chúng
ta, bao hoàn cảnh đau khổ đã đang có mặt, trong ta hay trong những người
thân, bạn bè, người xa lạ…Chiến tranh, thiên tai, nạn tại và là nổi bức
xúc thường trực ảnh hưởng đến mọi thân phận con người, bất kể địa
phương, giai cấp, màu da chủng tộc, tôn giáo, văn hoá v.v..Hình ảnh của
Đại bi Quán Thế Âm trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, để Chánh báo
chuyển hoá Y báo, để cảnh khổ được dập tắt, lò lửa hận thù biến thành lò
sen thanh khiết, diệu hiền.



Thực sự, cuộc sống không có
gì mâu thuẩn; mâu thuẫn hay không là do chúng ta đem đến cho nó với ý
niệm vị kỷ, đặt định, ưa ghét, khen chê v.v…Con người là một cái gì vô
tậtn (Phật tánh), cuộc sống cũng vô tận (Pháp giới sum la vạn tượng,
trùng trùng duyên khởi). Đem cái vô tận ở bên trong mà ứng với cái vô
tận ở bên ngoài, đó gọi là Đại bi Quán Thế Âm.



Làm sống lại hình ảnh của Bồ
tát Quán thế Âm trong Mât giáo, chủ đích của chúng tôi mong ước rằng tất
cả chúng ta hãy trở về với Quán Thế Âm của tự tánh mà mọi người đều có
đủ, để cứu khổ ban vui cho mình, cho tất cả mọi người, mà chính ta cũng
là một sự sống trong đó.



Có đường nào không quanh co,
khúc khuỷu



Có đuờng nào thẳng hoài, êm
dịu bước chân đi



Người có đến, có đi



Cỏ cây, hoa lá đều vẫn vậy



Chim vẫn hót reo vui trong
trong nắng bình minh



Hay buổi chiều tà về nắng
nhạt



Xuân Hạ Thu Đông vẫn tuần tự
trôi qua



Đã bao lần, ta không nhìn
thấy



Nhưng hôm nay, Ngài đến



Mắt Liên hoa nhìn suốt đại
thiên



Những tia sáng dịu hiền, mắt
trong như nước cam lộ



Bàn tay Phât thủ giang rộng
đến vô thỉ vô chung



Mảnh Thiên y khua động bao
tầng vũ trụ



Nhành dương chi rải, dập tắt
mọi hận thù,



vén lên màn ánh sáng



Đại bi Quán Thế Âm!



Người hởi người!



Người là ta hay ta chính là
Người



Ta vẫn thấy người trong mọi
sinh vật



Vẫn thấy Nguời trong vô cùng
pháp giới



Ta vẫn thấy trong mỗi cầu
mong, tâm niệm



Xuân Hạ Thu Đông vẫn tuần tự
trôi qua



Chim vẫn reo vui



Cỏ cây hoa lá đều cũng vậy….






Tiết Hạ năm Mậu Thìn
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đại Bi Quán Thế Âm hay Liên Hoa Bộ   

Về Đầu Trang Go down
 
Đại Bi Quán Thế Âm hay Liên Hoa Bộ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu! :: >>>Mật Tông-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Have a free blog with Sosblogs