WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486715
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ   1/10/2009, 14:19


MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ




Lời nói đầu:



Bài
viết không có ý cổ võ hay bài bác tín ngưỡng này của một số người. Tôi
chỉ ghi lại những điều còn trong ký ức cùng vài ba nhận xét riêng. Sự
sai sót mong các vị cao niên, người thâm cứu chỉ bảo. Ngoài ra hy vọng
giúp những bạn trẻ thêm dữ kiện khi có người ngoại quốc đề cập đến.


X
ã
hội Việt Nam từ khi lập quốc, có nền văn hiến, Tam Giáo (Nho, Thích,
Lão) sau này thêm Thiên Chúa Giáo là những tôn giáo lớn đã được du
nhập, truyền bá và ngày một phát triển trong dòng sinh mệnh dân tộc.
Gần đây thêm Hồi Giáo, Cao Ðài, Phật Giáo Hòa Hảo cũng có hàng triệu
tín đồ, gần hơn nữa có Bahai.
Dân Việt trọng tôn giáo, có tinh thần hòa đồng, hòa ái, chẳng những
không bài xích tôn giáo khác, mà dù tín ngưỡng khác nhau nhưng nhiều
người theo tôn giáo này vẫn giữ một số ảnh hưởng của tôn giáo khác.

Tín ngưỡng đề cập trong bài viết, cách thông thường gọi là lên đồng,
với những người tin theo gọi là thờ Mẫu, hay thờ Tứ Phủ. Từ đây tôi xin
dùng từ thờ Mẫu và những từ ngữ đúng như người thờ Mẫu sử dụng.


Mấy năm gần đây có ít phái đoàn ngoại quốc đến Việt Nam tìm hiểu việc
thờ Mẫu, sau đó nhận định đây là đạo Bản Ðịa Việt Nam (đạo Mẫu). Tôi
không đồng ý vì việc thờ Mẫu theo tôi, cao nhất cũng chỉ là sự tôn thờ
Tiên Thánh theo ảnh hưởng Lão Trang, chưa hội đủ những yếu tố theo định
nghĩa thông thường về tôn giáo như nhiều người thường đồng ý.

Trước hết, người tin theo Mẫu tôn thờ vị Chủ Tể nào, theo giáo thuyết
nào, hệ thống tổ chức ra sao? Theo lịch sử và truyền thuyết dân tộc
Việt có “tứ bất tử”: Ðức Thánh Gióng, Ðức Tản Viên, Chử Ðồng Tử và Bà
Chúa Liễu Hạnh. Ba vị trước chỉ theo huyền thoại, riêng Bà Liễu Hạnh
được truyền tụng là vị nhân thần, có thật, quê ở Phủ Giầy (Nam Ðịnh,
miền Bắc) vào khoảng cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Những người thờ Mẫu
đã tôn thờ hai vị nhân thần là Ðức Thánh Trần (Hưng Ðạo Vương) và Liễu
Hạnh Thánh Mẫu (Liễu Hạnh Công Chúa hay Cát Vân Thần Nữ). Một vị biểu
tượng cho người Cha, một cho người Mẹ, do đó đền Kiếp Bạc (quê hương
Ðức Thánh Trần) Ngài được thờ với những danh xưng Ðức Ông hay Ðức Cha
Việt Nam và ở Phủ Giầy (quê hương Liễu Hạnh Thánh Mẫu) Bà được tôn xưng
Ðức Thánh Mẫu, Ðức Mẹ Việt Nam hay Mẫu. Ðể nhắc nhở, dân gian thường
truyền tụng câu: “Tháng bẩy giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”.

Sau di cư 54, tại Sài Gòn Hội Bắc Việt Tương Tế đã dựng đền thờ Ðức
Thánh Trần trên đường Hiền Vương và Phủ Giầy Vọng Từ ở Gia Ðịnh để
quanh năm hương khói nhất là vào các ngày hội. Những dịp này, ngoài lễ
nghi linh đình trong đền còn tổ chức rước kiệu trên các đường phố.
Những Ông Ðồng, Bà Ðồng khăn áo rực rỡ, gươm giáo, chiêng trống được sự
chú ý của người hiếu kỳ đứng dọc bên đường.

Từ những thế kỷ trước, ngoài Ðền Kiếp Bạc, Phủ Giầy còn nhiều Ðền, Ðiện
rải rác nhiều nơi ở miền Bắc như đền Bắc Lệ, đền Sòng, Ninh Giang… để
thờ hai Vị. Từ địa vị đại anh hùng dân tộc, một số người đã mê tín hóa
bằng cách truyền tụng Ðức Thánh Trần hiển linh qua xác thân những người
ngồi đồng để trừ tà ma qua câu chuyện Phạm Nhan, tướng giặc Nguyên. Chỉ
có Ðức Thánh Trần mới trừ được Nhan vì Nhan có pháp thuật tự mọc lại
đầu sau khi bị chém. Cuối cùng Phạm Nhan phải phục pháp Thánh, hóa thân
thành con muỗi chuyên hút máu người, không còn tác oai tác quái nữa.

Cũng có một số người tôn thờ nhị Vị nhưng nhận thức cao hơn cho rằng
hai Vị biểu tượng tốt đẹp nhất cho người Cha và người Mẹ. Ngoài ra cũng
mang ước vọng theo gương một người Cha anh hùng, trung quân ái quốc, đã
dẹp thù riêng (giữa Hưng Ðạo Vương và nhà Vua) để chung lo việc nước,
nhờ đó bảo vệ được độc lập dân tộc qua bài học lịch sử chống quân
Nguyên không người Việt nào không biết. Còn Liễu Hạnh Thánh Mẫu, một
biểu tượng và ước mong về người Mẹ Việt Nam đức hạnh, tài hoa, nhan
sắc.

Theo truyền tụng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là Công Chúa của Ngọc Hoàng, tài
sắc vẹn toàn. Bà thường ẩn hiện, vân du những nơi cảnh sắc hữu tình,
đàm luận, xướng họa với những danh sĩ trong đó có Trạng Bùng Phùng Khắc
Khoan (1528-1613) qua chuyện kể sau.

Trạng Bùng tự Hoằng Phủ, hiệu Nghị Trai làm quan đến Hộ Bộ Thượng Thư
có công giúp Chúa Trịnh phù Lê diệt Mạc. Một lần đi sứ Trung Hoa đến
nơi kia thuộc địa phận Lạng Sơn, gặp cảnh sắc rất nên thơ, muốn ngoạn
cảnh Quan Trạng cho lệnh dừng binh. Vừa xuống kiệu, Ngài bỗng thấy một
quán lá bên đường tuy bằng tre trúc nhưng rất hữu tình. Quan để tùy
tùng ở lại, một mình bước vào quán. Quán nằm dưới ba cội tùng cao chót
vót, cành lá xanh tươi. Bên trong chỉ có chiếc bàn tre, trên đặt đĩa
đào, một đĩa xôi và bình rượu. Chủ quán bước ra thi lễ. Thoạt nhìn,
Trạng bàng hoàng ngỡ tiên nữ giáng trần, vì không thể có trang tuyệt
sắc giai nhân giữa chốn thâm sơn cùng cốc như nơi đây. Sau khi an vị,
Trạng nhìn trên bàn, hỏi chủ quán:
- Nàng chỉ tính bày bán cho một người hay sao mà đơn bạc như vậy?
Giai nhân cúi đầu mỉm cười đáp:
- Dám bẩm Quan Ngài, quả như vậy, vì thiếp trộm nghĩ Ngài đâu có cho tùy tùng theo hầu.
Quan gật đầu, đón đĩa đào và xôi từ tay chủ quán. Trạng biết cung cách
nơi đây khi ăn đào phải dùng xôi lăn trên vỏ để làm tróc lớp lông tơ.
Mầu đào ửng hồng khác gì đôi gò má giai nhân đang giáp mặt. Ngài lấy
dao khẽ bổ trái đào, hạt đào hiện ra đẹp như mầu hổ phách. Quan đưa
miếng đào lên miệng, mùi thơm, vị ngọt chưa một làn được biết trong
đời. Men rượu bồ đào thấm ran châu thân. Rồi một trái đào, một ly rượu,
rồi đào, rồi rượu…Quan Trạng tưởng chừng mình đã thoát tục. Khi rượu
ngà ngà, Quan nhìn lên vách trúc thấy cây đàn, bèn hỏi:
- Chẳng hay nàng cũng quen với hồ cầm? Giai nhân mỉm cười đáp:
- Thiếp cũng thường dạo đôi ba khúc khi gặp khách tri âm.
Nói đoạn với tay lấy đàn, so dây, rồi từ những ngón tay tiên tiếng đàn
lúc như suối reo, khi như thác đổ… bay xa trong gió. Quan Trạng ngất
ngây thả hồn theo tiếng tơ, như lạc vào cõi tiên. Lòng đầy xúc cảm
trước cảnh trí và ngón đàn của giai nhân, Quan quay hỏi người đẹp:
- Ngoài tài hồ cầm, nàng có thích xướng họa thi phú chăng?
Giai nhân vui vẻ nói:
- Thiếp cũng được phụ thân chỉ dạy ít nhiều.
Quan sảng khoái cất giọng đọc vế xuất:
“Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử” ý tả dưới bóng cây người đẹp
ngồi đàn ca, xướng họa. Cái khúc mắc của vế xuất ở chỗ ghép chữ, chiết
tự. Ba chữ mộc là chữ sâm, chữ nữ ghép bên chữ tử thành chữ hảo. Quan
đang thích thú với vế xuất vừa hay, vừa lắt léo rất khó đối lại, nhưng
cô đã mau mắn, mỉm cười đối lại khi Trạng vừa đứt câu.
“Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân”. Ý nói giữa chốn núi non
hiện ra con đường, có vị sứ giả chính là Quan. Câu đối rất chỉnh trước
những lắt léo của vế xuất. Hai chữ sơn chồng lên nhau là chữ xuất, chữ
nhân ghép bên chữ lại là chữ sứ.
Tuy nể phục tài năng, phong cách mỹ nhân, nhưng men rượu tiên, câu thơ
thần, tiếng đàn thoát tục khiến Quan xem chừng có vẻ lả lơi. Ngài xoay
mình, ngồi sát bên giai nhân, nhìn say đám đôi mắt hồ thu rồi hỏi:
- Ta có thể là Lưu Nguyễn ngày xưa lạc bước thiên thai, hay phải chăng nàng là tiên nữ giáng trần?
Giai nhân mỉm cười đáp:
- Người sống nơi núi rừng, có tâm hồn thanh cao sẽ thành tiên. Còn tiên
mà lòng vương tục lụy rồi cũng xuống lại trần, điều này chẳng lạ.
Nói đoạn, giai nhân đứng lên mời quan Trạng ra phía sau quán trúc. Cả
một vùng trời xanh, núi biếc thần tiên hiện ra. Thấp thoáng ngôi đền
rêu phong bên triền núi. Hai người sánh bước thoắt chốc đã đến cổng,
bước lên thềm, vết tích một kiến trúc tuyệt mỹ tuy nhiều chỗ đổ nát,
điêu tàn. Trước sân, gốc cổ thụ già, tàn lá rủ xuống bức đại tự treo
ngay tiền đình, Quan liếc mắt đọc:
“Mão Khẩu Công Chúa”
Ngài miên man suy nghĩ khi nhìn thấy cội cây bên đền… cây là mộc. Mộc
ghép chữ mão là liễu, mộc ghép chữ khẩu là hạnh, như vậy đúng là Liễu
Hạnh Công Chúa.
Quan nhìn sang bên, lại thấy bốn chữ:
“Băng Mã Dĩ Tẩu”
Ngài lẩm nhẩm… Băng ghép mã là phùng, dĩ ghép tẩu là khởi. Thôi rồi,
Trạng vừa nghĩ ra đây chính là ngôi đền thờ Liễu Hạnh Công Chúa, đền bị
đổ nát, nàng tiên tri và có ý nhờ ta khởi công trùng tu. Ý ẩn dụ trong
tám chữ đã rõ, Phùng Trạng Nguyên thấy lạnh mình, quay lại thì giai
nhân đã biến, trở ra quán trúc bên đường, quán cũng không còn. Vừa lúc
đó tùy tùng chạy đến hầu, Trạng kể lại câu chuyện rồi lệnh cho quan sở
tại chọn ngày khởi công trùng tu.

Khi đi sứ trở về, Trạng Nguyên Phùng Khắc Khoan còn được hội ngộ thêm
lần nữa với Liễu Hạnh Công Chúa bên hồ Lãng Bạc (Hồ Tây) ở kinh đô
Thăng Long. Chính nơi đây, sau này phủ Tây Hồ được dựng lên, quanh năm
hương khói. Khởi thủy từ đó, những người theo Mẫu thờ tự, bài trí, sinh
hoạt ra sao?

Ngay từ khi phát khởi vào khoảng cuối đời Hậu Lê (thế kỷ 16), việc thờ
tự này bị triều đình và nhiều người coi là mê tín, dị đoan vì nó chỉ
thoát thai từ thuật phù thủy. Vì vậy, việc thờ Mẫu thường phải nép bóng
các sinh hoạt tôn giáo lớn để tồn tại.

Trước khi quan sát một ngôi đền Mẫu, xin thử tìm hiểu những cơ sở phụng
tự khác như đình, chùa, miếu…Trong mỗi làng xã thường có một ngôi đình
thờ thành hoàng (các vị anh hùng dân tộc, danh nhân, nhiều khi cả kẻ
tầm thường nhưng chết vào giờ thiêng), thành hoàng được sắc phong của
Vua (Thiên Tử - Con Trời). Ngoài ra hương chức cũng dùng đình làm việc,
hội họp dân chúng. Theo người viết, cơ sở này không mang tính chất tôn
giáo chỉ nên coi như di tích lịch sử, tưởng niệm anh hùng hoặc một nơi
mang tín-niệm-hệ địa phương như với những đình thờ trộm cắp, dâm thần…
(Tín-niệm-hệ là niềm tin của dân chúng địa phương, thường sai lạc nhưng
đã ăn sâu, thời gian sẽ thay đổi). Ngoài ra còn chùa thờ Phật. Nhiều
chùa xây thêm điện thờ Mẫu (chùa Bút Tháp, chùa Trăm Gian…). Ở miền Bắc
dùng từ chùa ai cũng rõ là nơi thờ Phật, miền Nam gọi là chùa Phật để
phân biệt với chùa Ông (thờ Quan Thánh Ðế) hay chùa Bà (thờ Thiên Hậu).
Các miếu, am nhỏ bên đường thờ các oan hồn yểu tử.

Trở lại cơ sở thờ Mẫu, nếu nguy nga, đồ sộ được gọi là phủ (phủ Giầy,
phủ Tây Hồ), hay đền (đền Kiếp Bạc, đền Sòng Sơn…), nhỏ hơn nằm trong
đình, chùa hay tư gia là điện. Sinh hoạt thờ Mẫu (Tứ Phủ) không có tổ
chức tu sĩ như các tôn giáo, không có kinh điển, chỉ có ông Ðồng, bà
Ðồng, cô Ðồng Ðền (thủ từ - giữ đền) và những câu chuyện truyền khẩu về
Mẫu, về việc cúng bái. Ðối với Ðức Thánh Trần, ngoài chính sử có thêm
một số điều được thêm thắt. Bà Liễu Hạnh không có trong chính sử nhưng
tương đối các lời truyền khẩu còn ít mâu thuẫn. Hàng chục các vị Tiên
Thánh khác qua miệng những ông bà Ðồng bằng thì thầm, rỉ tai (sợ bị
Thánh quở phạt) nên càng nhiều khác biệt, mâu thuẫn, phi lý.

Ða số ông, bà, cô Ðồng vẫn có vợ chồng, con cháu nhưng cũng có người
độc thân vì góa bụa hay những lý do thầm kín khác. Họ đã tự xây hay mua
bán, sang nhượng do đó đền là sở hữu riêng, toàn quyền hưởng lộc thánh
(hoa lợi mọi mặt). Ðể hiểu thêm về những ông, bà, cô Ðồng xin được nói
rõ hơn: Ông, Bà, Cô trước chữ Ðồng thường để chỉ tuổi tác, giới tính
(nam nữ, cả những người bán nam bán nữ…) nhưng thường do căn đồng của
người đó. Một người đàn ông, có đồng cô phải được gọi là Bà hay Cô Ðồng
(Cô Ðồng Mùi đền Sòng Sơn Phú Nhuận) hay một phụ nữ có đồng nam phải
gọi là Ông Ðồng (Ông Ðồng Dần đền Nghĩa Dũng Hà Nội trước 54. Bà này
cũng bị gọi là Ðồng “hỗn” vì hung ác khét tiếng, nhưng những người ở
đền vẫn cúc cung phục vụ, coi là thánh ra oai chứ không phải Ông Ðồng
hung ác). Như vậy đối với các phụ nữ có đồng Ông ngay trong sinh hoạt
thường ngày cũng có cung cách của nam giới và ngược lại dáng vẻ, nói
năng, ăn mặc gần như phụ nữ với một người nam có đồng Cô.
Nói về người tới lui các đền, phủ… số rất ít mới có đồng hay đã đội bát
nhang (như đã rửa tội, thêm sức hay quy y) còn lại chỉ tới lễ bái cầu
tài lộc, an lành... Vậy lý do, mục đích nào một người phải có đồng hay
đội bát nhang? Thông thường đến lễ Mẫu một thời gian, ông, bà, cô Ðồng
sẽ khuyến khích đội bát nhang. Nghi thức rất đơn giản: trong một buổi
lễ, người này ngồi trước ban thờ Mẫu, được chùm một khăn đỏ lớn phủ kín
mặt, vai, thân mình, đầu đội chiếc mâm trên đặt bát nhang. Qua sự khấn
vái, đọc sớ của thủ từ, người đội bát nhang sẽ từ từ xoay đảo thân,
đầu, mình theo vòng tròn ít phút từ chậm tới nhanh rồi chậm lại, dừng
hẳn như vị thế lúc đầu. Bát nhang, khăn được hạ xuống như vậy là lễ
tất. Từ đây người này trở thành một con nhang. Sau đó, từ vài ba tháng
tới một năm, người đã đội bát nhang có thể làm ăn thấy chưa phát đạt
hoặc thua lỗ, yếu đau… ông, bà, cô Ðồng có lý do thúc đẩy mạnh hơn để
con nhang phải xin trình đồng (ra đồng). Ðây là bước gắn bó chặt chẽ
hơn với Nhà Ðền, với Mẫu. Trước khi tìm hiểu thêm về một vấn hầu thánh
ra sao, xin đến một ngôi đền Mẫu hay điện để quan sát kiến trúc, bài
trí như thế nào.
Xin mượn ngôi đền Ðông Cuông ở Sài Gòn của ông bà Ðồng Tiệp (là vợ
chồng) và đền Nghĩa Dũng bên Hồ Tây Hà Nội của Ông Ðồng Dần làm tiêu
biểu. Ðền Nghĩa Dũng dựa lưng đê Yên Phụ, nhìn thẳng xuống Hồ Tây, sát
bên đường Cổ Ngư, địa điểm hữu tình, kiến trúc rất nguy nga được coi là
lớn nhất Hà Nội ngày ấy (trước di cư 54). Ðền Ðông Cuông vì nằm ngay
khu thị tứ Phú Nhuận, khung cảnh giới hạn, nhưng cũng khá khang trang.

Ðền, phủ ít xây cao, bên trong âm u, ánh sáng leo lét, tù mù từ các
ngọn đèn nhỏ. Ngoài hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng như ở những
ngôi nhà xưa, ngay chính giữa, trên cao thường treo tấm hoành phi mang
bốn chữ Mẫu Nghi Thiên Hạ để tôn vinh Liễu Hạnh Thánh Mẫu.

Tính từ phía trong đền (hậu cung) trở ra, có ban thờ Tam Tòa Thánh Mẫu
trên cao nhất. Tượng Bà Thượng Thiên Thánh Mẫu Liễu Hạnh (khăn áo đỏ)
ngự chính giữa, bên hữu tượng Ðệ Nhị Thượng Ngàn (bà Chúa trên
rừng/ngàn) khăn áo xanh, bên tả tượng Ðệ Tam Thoải (thủy) Phủ Thánh Mẫu
(Bà Chúa dưới thủy cung) khăn áo trắng. Ban thờ phía ngoài, thấp hơn là
ban thờ Tứ Phủ


Chầu Bà gồm Ðệ Nhất Chầu Bà (khăn áo đỏ), Ðệ Nhị Chầu Bà (xanh), Ðệ Tam
Chầu Bà (trắng) và Ðệ Tứ Chầu Bà (vàng). Phía ngoài cùng là ban Công
Ðồng, gồm tượng Vua Cha và Ngũ Vị Tôn Quan: Quan Lớn Ðệ Nhất (khăn áo
đỏ), Quan Lớn Ðệ Nhị (xanh), Ðệ Tam (trắng), Ðệ Tứ (vàng) và Ðệ Ngũ
(xanh lam).

Tất cả các pho tượng đều mặc khăn áo gấm vóc, trang điểm vàng bạc rực
rỡ không như tượng trong nhà thờ Chúa hay chùa Phật. Các sập (giống như
bộ ngựa) để hầu thánh kê cao thấp xen kẽ giữa các ban thờ. Hai gian
trái phải, tôn trí tượng các Cô, Cậu bưng khay trầu, rượu, cầm quạt
đứng hầu chư vị tiên thánh. Ngoài ra, rải rác nhiều nơi đặt những giá
binh khí cổ như đao, mâu, kích… để tăng uy nghi. Trên trần treo những
nón, khăn, hài lớn nhỏ cùng nhiều đồ thờ tự khác. Trên trần có những
cặp rắn chầu, quấn theo xà nhà. Ngoài ra, tiền đường đền hay miếu phụ
còn bài trí bốn ban thờ: Lầu sơn trang, Ngai Trần Triều, Bà Chúa thủ
đền, bạch hổ…Tất nhiên tùy cơ ngơi của ngôi đền, nếu “đền to, phủ lớn”
như Nghĩa Dũng, Hòa Mã (Hà Nội xưa), Phủ Giầy, Thủy Lâm Ðộng (Túc
Trưng, Long Khánh) thì căn bản như trên. Ngược lại, nếu cảnh “đền
nghèo, lính khó” thì thu nhỏ, đơn sơ như đền Hàng Trứng, Hàng Trống (Hà
Nội) hay các điện tại gia.
Một buổi lên đồng (vấn hầu) diễn tiến ra sao?

Vào những dịp hội (Phủ Giầy, Kiếp Bạc…) hay những ngày tiệc (tiệc Quan
Hoàng Ba, Hoàng Bảy, Quan Lớn Tuần Tranh…) người có đồng tự ý xin nhà
đền hay các ông, bà Ðồng sẽ nhắc nhở, thúc bách để hầu thánh cho được
“mát mẻ” (ngôn ngữ cửa Mẫu). Trước hết người muốn hầu phải cho biết sẽ
sửa lễ lớn hay nhỏ. Lớn khoảng 2, 30 mâm cỗ, nhỏ 5, 7 mâm. Rồi tới vàng
mã (bằng giấy, khung tre) các hình nhân (người), voi ngựa, thuyền rồng…
sau này còn làm cả nhà lầu, xe hơi… Mã thường bày bán ở phố Hàng Mã (Hà
Nội) hoặc từ người có nghề do nhà đền giới thiệu (tất nhiên có hoa
hồng) cả đôi bên. Người hầu thánh đưa tiền cho nhà đền đặt vàng mã, nấu
cỗ bàn, hoa trái…Mọi thứ phải là loại tố hảo (tốt đẹp, hảo hạng) nên
giá tiền theo đó phải khác. Người ta có tâm lý hơn thua, vay trả nên bà
A sửa lễ mười phần, thì bà B phải vài ba lần hơn, và theo đó “leo
thang”, nhất là có sự khích bác của các ông bà Ðồng mưu chước, giảo
hoạt…

Ngày hầu thánh, người đi hầu cần mời vài ba bạn thân đi hầu dâng làm
nhiệm vụ giúp người ngồi đồng thay đổi khăn chầu áo ngự, kêu cầu giúp
người đến lễ bái. Phần “khăn chầu áo ngự” người giầu sang may sắm riêng
loại thượng hảo hạng trong khi “đồng nghèo lính khó” phải mượn của nhà
đền. Một bộ phận rất quan trọng là nhóm cung văn để hát chầu. Chầu văn
là một điệu hát đặc biệt, rất truyền cảm xin nhớ lại mới đây vidéo Ái
Vân, Ngọc Hạ đã trình diễn. Trưởng cung văn thường là thân nhân, hay
gần cận nhà đền. Ít nhất cũng cần một người đàn nguyệt, một hai người
hát chầu, thêm ít người trống phách nhị hồ… chẳng khác gì ban nhạc sống
ngày nay.

Người theo Mẫu còn tin rằng ngoài Mẫu Thượng Thiên còn nhiều vị tiên
thánh khác. Có vị ngự trên ngàn (rừng) (Bà Chúa Thượng Ngàn), dưới sông
nước (Bà Chúa Thoải Phủ), chư vị Tôn Quan, Cô Bơ, Na Tra…nên một vấn
thường hầu năm bẩy giá (vị). Ngày nay nhiều người hầu tới mấy chục giá,
mục đích chắc chỉ để “trình diễn thời trang“ vì không còn giờ truyền
phán gì cả.

Trở lại vấn hầu, lấy thí dụ giá Bà Chúa Thượng Ngàn. Khi giá trước
thăng, vuông vải đỏ phủ kín sẽ được bỏ ra (giống như mỗi lần kéo mở màn
sân khấu), người hầu thánh dơ mấy ngón tay làm hiệu. Hầu dâng khấn vái,
cung văn sẽ hát đúng giá mới nhập. Người hầu thánh (nay xin nói tắt là
Thánh) được hai người hầu dâng dâng áo, thánh cầm cây nhang phất qua
lại làm phép trước khi mặc. Cũng nên nhớ khi hầu luôn mặc áo dài trắng
vào trong, giá khác nhập, chỉ thay đổi khăn áo ngoài. Khi đã tề chỉnh,
thánh hướng về phía ban thờ làm lễ. Nếu giá các vị quan lớn, ngài sẽ lễ
theo cách lên gối xuống gối, còn giá chầu (bà, cô) chỉ ngồi xếp bằng lễ
mà thôi. Khi lễ xong, thánh ngồi ăn trầu, hút thuốc, nghe cầu khấn rồi
truyền phán… Trước khi thánh dùng rượu, thuốc…hay ban lộc (bùa, dấu,
tiền…) thánh đều dùng cây nhang phù phép. Người hầu dâng phải dùng
chiếc quạt trầm che miệng thánh mỗi khi các ngài sơi trầu, rượu. Sau
những thủ tục thông thường, nếu là giá các Quan thì múa gươm đao để
“diễu võ dương oai”, giá Bà Chúa Thượng Ngàn múa đăng (2 tay kẹp hai
mồi lửa nhỏ), Bà Chúa Thoải chèo đò… Cung văn cứ theo đó đàn hát các
câu, bài thích hợp. Giá các Quan thường đặt chiếc gối xếp sát bên để
Quan tì cánh tay lên hoặc khi truyền phán điều gì thường đập tay trên
gối làm oai. Con nhang đệ tử sẽ kêu cầu điều này điều nọ. Nếu chưa có
ai, để tránh “temps mort” (thời gian trống) người hầu dâng sẽ khấn vái
đại khái như sau:
“Con lậy thánh mớ (nhiều) bái, họ Nguyễn chúng con (không xưng tên, chỉ
dùng họ) là ghế đệm của Mẫu (tự coi mình thấp hèn), con xin Mẫu xá u xa
mê, xá lầm xá lỗi cho con, xin Mẫu khai tâm mở miệng cho con để con
biết làm tôi cửa Mẫu, ăn mày lộc Mẫu…”
Thường sau mỗi đoạn sẽ kéo dài, miệng xuýt xoa, như người bị phỏng, bị đau rồi khấn vái tiếp:
“Lậy thánh mớ bái. Con xin Mẫu cho phu quân (chồng) con được thăng quan
tiến chức, cho con được buôn may bán đắt…” (tha hồ xin Mẫu). Có người
tham lam, xin nhiều quá, bị chung quanh khó chịu lườm nguýt. Sau khi
nghe tấu trình, van vái như vậy có khi Mẫu vui vẻ gật gù ban tài phát
lộc (tiền bạc, kẹo bánh, hoa quả…) có khi Mẫu giận dữ, quở trách:
“Hừ! hay cho nhà ngươi há! chẳng những ngươi không biết đến cửa Mẫu ta,
lại còn dám báng bổ (cười chê, dè bìu), ta sẽ làm cho ngươi biết quyền
phép ta nghe!”
Nếu ai bị thánh quở phạt như vậy sẽ thất kinh, xì sụp van lạy hay nhờ những người khác vào “cứu bồ”. Người kia sẽ van vái giúp:
“Tấu Cô! Con cắn rơm cắn cỏ lậy Cô. Họ Vũ con kêu thay cho họ Nguyễn,
họ Nguyễn có mắt như mù, có tai như điếc. Cô là người nhà trời, Cô là
con Vua, cháu Chúa, Cô chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan, Cô đánh kẻ
chạy đi nhưng không ngăn kẻ chạy lại…”
Khi ấy Mẫu (hay Cô) sẽ đổi từ giận dữ sang vui vẻ, rồi tiếp tục ban tài
phát lộc. Mẫu cũng có nguyên tắc: trước hết cho lộc thủ từ, hầu dâng,
đến các vị vọng, rồi cung văn, gía trị lộc thánh từ cao giảm lần xuống
đến người lễ bái, trẻ con. Lộc cũng khác biệt giữa người hầu sang cả so
với người hầu nghèo túng. Chính vì vậy cung văn hát cho những đồng
thuộc (như đạo gốc), giầu sang thì nhiệt thành, hứng thú vì lộc thánh
sẽ hậu hĩ, trái lại hát uể oải, lơ là vì lộc thánh cũng chỉ điếu thuốc,
viên kẹo…(như ban nhạc đối với ca sĩ cây nhà lá vườn). Ở hải ngoại hiện
nay, số cung văn rất hiếm, thường dùng băng cassette thâu lại, người
hầu dâng chỉ cần bấm nút. Mọi việc ban phát, phán truyền mỗi giá hầu
kéo dài khoảng từ 20 đến 30 phút. Sau đó thánh lại phủ tấm vải đỏ rồi
thăng (ra khỏi xác). Giá khác nhập, khăn phủ lại bỏ xuống. Ví dụ đến
giá Quan Lớn đệ nhất (áo đỏ), lập tức người hầu thánh biến đổi ngay mọi
phong cách, lời ban truyền thích nghi với giá vừa nhập. Khăn áo được
thay: bài ngà, cân đai bố tử… riêng khăn trên đầu (khăn xếp) sẽ do các
hầu dâng quấn.

Nhân đây cũng xin viết về khăn. Xưa kia, các cụ ông chúng ta, thường tự
quấn lấy mỗi khi ra ngoài, sau này mới dùng loại khăn xếp (khăn đóng)
đội lên. Thời đệ nhất cộng hòa, lãnh đạo dùng quốc phục trong dịp giỗ
tổ, quốc khánh, tết nguyên đán... Các vị này vì hiểu biết nên chỉ dùng
khăn và áo đen, đôi khi áo xanh lam nhưng vẫn khăn đen. Nhiều quan niệm
khắc khe, không dùng cả mầu xanh, vì cho rằng mầu này chịu ảnh hưởng
nhà Thanh. Mầu truyền thống vẫn là đen. Gần đây trong nhiều buổi lễ
cộng đồng, có vài ông chủ tịch lại mặc luôn khăn và áo đồng mầu vàng,
hay đỏ. Có thể do không hiểu hay tự cho mình là đại diện cộng đồng trên
cả nước, cả tỉnh bang so ra ít gì cũng ngang tầm với… vua hay phó vương
nên mặc vậy cho đúng “nghi vệ”. Khổ cho những người hiểu biết vì nhìn
ai mang khăn áo như vậy chẳng khác nào ông đồng hay người ái nam ái nữ
(mạn phép dịch nôm là “lại cái”) chứ đâu phải truyền thống dân tộc.

Nói chung dù một vấn hầu thánh có bao nhiêu giá cũng chỉ quanh quẩn
truyền phán chung chung, kêu cầu tài lộc như vậy. Riêng việc cầu tự
(cầu con) là dài dòng hơn. Ðộc giả chắc còn nhớ hình ảnh một con cầu tự
trong tiểu thuyết Số Ðỏ của Vũ Trọng Phụng và mới đây qua hồi ký của
một tướng “tàu bay”. Những cặp vợ chồng lấy nhau lâu chưa con mới đi
“cầu tự” chứ con cái như hình ảnh “gia đình bác Lê” trong tiểu thuyết
TLVÐ thì thánh có gọi đến cho “free” chắc cũng lậy thánh mớ bái. Khi đi
cầu tự về, hai vợ chồng thường mua thêm một vé tàu xe (cho bé), nếu
“cầu được ước thấy” đứa bé là con cầu tự. Cha mẹ phải đem đến đền bán
khoán cho đức thánh Trần, thánh sẽ đặt tên. Bất kể đứa bé họ gì, ví dụ
Nguyễn Cao Cờ cũng được đổi thành Trần Ðình Cờ hay một tên gì đó nhưng
phải là Trần Ðình (họ của thánh). Từ đây tuy cha mẹ sinh ra nhưng bé là
con Mẫu không được gọi con, phải gọi “chú”, “em” hay “cậu”. Ðến khoảng
12 tuổi (hết tuổi sài đẹn) mới sửa (mua sắm) lễ đến đền “chuộc” về. Ðại
đa số con cầu tự rất hư vì cha mẹ ngoài tình thương yêu sẵn có còn sợ
chúng là con Mẫu, chỉ gởi vào nhà, nếu để chúng giận hờn, bất ý sẽ bỏ
về với Mẫu ngay (chết) nên nuông chiều vô lối, vô giới hạn.

Về việc hầu thánh, có người thắc mắc không rõ lúc hầu, người ngồi đồng
có “mê”, “ngất trí”… còn biết chuyện xẩy ra chung quanh không. Thực sự
nó chỉ giống như người đến vũ trường: tiếng nhạc, ánh đèn mầu, không
khí vui khiến người biết khiêu vũ thấy hào hứng, bước ra sàn. Người có
đồng nghe chầu văn, mùi nhang, khung cảnh thần tiên cũng muốn hầu
thánh. Có người vẫn chưa hết thắc mắc: nếu không phải là thánh nhập sao
có thể tự cắt lưỡi để ra dĩa, xiên lình (dùng que sắt xuyên suốt hai
má) hay thắt cổ mặt to như cái mâm, giá ngài chúa sơn lâm nhập ăn
nguyên chiếc đùi heo sống… Xin thưa: trong cả ngàn người hầu, chưa chắc
có một làm được điều trên, nhất là thực hư sao kiểm chứng. Các fakia ấn
độ còn làm được nhiều điều ghê gớm, trên TV biết bao điều lạ thường,
ngoạn mục cũng do xảo thuật.

Như vậy rất ít người thành tâm, số đông hùa theo, hơn nữa bỗng nhiên
mình được mọi người vái lậy, van xin… được dịp phô trương sao không
thích thú. Trước 75 ở đường Nguyễn Thông Sàigòn một người tự xưng Chiêu
Thánh Hoàng Ðế, chuyện thật tiếu lâm, nhưng cũng có bao nhiêu trí thức,
vị vọng xin đến chầu. Ðức Ngài cũng phong thượng thư, tổng đốc, ban cả
thẻ ngà, sắc chỉ có sao đâu. Thiếu chi người cả đời cứ tự cho mình là
vua, tổng thống…Theo tâm-lý học đây là hội chứng tâm thần. Người có
đồng tánh nết thường đột ngột thay đổi khi rất cởi mở, dễ dàng với mọi
người, khi thật khó chịu, ngay cả tự nhiên cười khóc vì vậy mới có câu
“tánh đồng bóng”. Khi độc giả được mời dự lễ hầu thánh, quý vị muốn
khen tặng theo xã giao người vừa ngồi đồng, không nên khen cách thông
thường như buổi hầu, quần áo trang điểm đẹp đẽ. Xin đề nghị một câu rất
đứng ngôn từ của “tôi con nhà thánh” như sau:
“Hôm nay anh, chị hầu thánh, thánh thương rất là sát căn đổi diện, khăn chầu áo ngự thật tố hảo!”.
Câu khen này mang ý nghĩa thánh ban cho họ hầu thánh rất chuẩn xác, giá
ông Hoàng uy nghi, oai vệ, giá Mẫu, Cô xinh đẹp, trẻ trung, khăn áo
sang trọng, mỹ miều…Bảo đảm với lời khen này lần tới thánh sẽ ban lộc
5, 7 lần nhiều hơn cho quý vị.



Bài viết đã dài, người viết xin trở lại một dịp khác về các nghi lễ Mỡi
của người Mường, Then của người Tày và những hình thức gần gũi tục lên
đồng như phụ đồng chổi, đồng chén, đồng ếch…

NGUYỄN ÐÌNH PHÚC
Về Đầu Trang Go down
 
MỘT CÁI NHÌN VỀ VIỆC THỜ TỨ PHỦ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Đạo Mẫu Việt Nam (Tam Phủ, Tứ Phủ)-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Sosblogs