WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 ~Võ Thuật Thiếu Lâm Tự~

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
vothuatv
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: ~Võ Thuật Thiếu Lâm Tự~   5/10/2009, 11:29

Truyền thuyết thiếu lâm tự



Theo
các nhà biên niên sử, tất cả các môn phái ngoại gia đều phát triển từ
một trung tâm. Đó là ngôi chùa Thiếu Lâm nổi tiếng nằm trong dãy núi
Tung Sơn ngay giữa nước Trung Hoa. Ngôi chùa độc nhất vô nhị đó đã đóng
dấu ấn vào giới võ lâm ít ra là vì hai lý do quan trọng. Trước hết nó
liên hệ đến lịch sử Phật giáo Thiền Tông (Nhật gọi là Zen), và người ta
cũng biết Phật giáo Thiền Tông đã ảnh hưởng sâu xa đến toàn bộ tư tưởng
của Phương Đông.






Ngôi
chùa được xây dựng vào năm 495 do Hoàng Đế Hiếu Văn Đế trong một khung
cảnh có tính cách tượng trưng. Ngọn núi Tung Sơn nằm ngay trung tâm 4
dãy núi của Trung Quốc. Chùa được cất lên cho một vị sư gốc Ấn Độ tên
Bạt Đà mà người Trung Quốc gọi là Phật Đa. Ông thường được mô tả với
một vẻ mặt vui vẻ và thân hình mập mạp. Chương trình xây cất đầu tiên
của chùa là một bảo tháp hình tròn có lan can bao quanh. Các nhà sư
thường vừa đi vừa đọc kinh dọc theo hành lang này.




Khoảng
một thế kỷ sau, một vị sư tên Đạt Ma đến tại Thiếu Lâm và giảng dạy một
hình thái Phật giáo phái khác mà người ta gọi là Thiền Tông tại Trung
Quốc hay Zen tại Nhật. Để các vị sư có thể chống lại cái khắc nghiệt
của thiên nhiên, thời tiết trong khi tu hành-đây là tầm quan trọng thứ
hai của ngôi chùa- nhà sư Đạt Ma, sau gọi là Bồ Đề Đạt Ma, đã dạy cho
các đệ tử những kỹ thuật về luyện khí được gọi theo tên các con vật như
hổ, báo, gấu, hạt, xà. Đó là những yếu tố đầu tiên đặt căn bản cho một
nền võ thuật được gọi là Thiếu Lâm quyền pháp cổ thức.




Vào
thời đại cực thịnh của mình cách đây 1300 năm, ngôi chùa có đến trên
1500 vị sư, trong đó ít nhất 500 người được học võ nghệ tuyệt luân.
Ngôi chùa đã nhận từ Hoàng đế Thái Tông nhà Tống quyền được huấn luyện
các nhà sư về mặt võ nghệ. Điều này được ghi trên một bia ký hiện còn
giữ tại Thiếu Lâm Tự.




Quả
vậy khi Trung Quốc bị các rợ miền Bắc xâm lăng, các nhà sư đã đến tiếp
cứu Hoàng đế. Họ gồm 13 người và sau khi chiến thắng quân xâm lược họ
được Hoàng đế ban thưởng các chức vụ quan trọng trong triều, nhưng họ
đều từ chối. Họ nghĩ hành sự võ học bình lập lại họ phải trở lại Thiếu
Lâm Tự. Tuy nhiên nếu một ngày nào đó, Hoàng đế cần đến họ thì họ sẽ
trở lại để chiến đấu.




Trước
lòng tận tụy hy sinh đó, Hoàng đế Trung Quốc quyết định thưởng bằng
cách cho phép họ đào tạo những nhà sư về mặt võ học. 1000 năm sau một
vị Hoàng đế khác lại cầu cứu đến các vị sư này. Các vị sư đó gồm khoảng
128 vị, được lãnh đạo bởi Chang Kwan Tat, một người thuộc phe nhà Minh
đã từng đánh nhau với quân Mãn Thanh trước khi rút về qui ẩn tại chùa.
Khi chiến tranh đã chấm dứt họ lại từ chối các bổng lộc Hoàng đế ban
cho để trở lại ngôi chùa.




Theo như lời kể của Thiên địa hội, Hoàng đế đã tặng cho ngôi chùa để tưởng thưởng công lao hạng mã của họ một thanh kiếm
báu, một vòng cẩm thạch và một ngọc tỉ. Ngọc ấn này cho phép họ một
quyền lực như một vị Hoàng đế. Tất cả các quyết định có đóng ngọc ấn
thì có quyền như chính của vua ban ra.




Một
vài năm sau Hoàng đế qua đời, con là Sùng Chính lên nối ngôi. Một viên
tri phủ mới được phong tại tỉnh Hà Nam là một con người vô lương tâm.
Từ lâu y có lòng ham muốn tất cả những tặng phẩm mà vị tiên đế đã ban
cho ngôi chùa, đặc biệt là ngọc tỉ. Y đề nghị các vị sư cho mua lại
ngọc tỉ nhưng bị từ chối. Việc từ chối của các nhà sư làm y cảm thấy bị
tổn thương và càng ham thích hơn. Thế là y quyết định phá cho bằng được
ngôi chùa. Để làm được việc đó, tên tri phủ độc ác quyết tâm thực hiện
một âm mưu.




Thoạt
tiên y trình tấu Hoàng đế phải đề phòng chống lại thế lực các vị sư
Thiếu Lâm. Lấy lý do là vị trí địa lý quan trọng của ngôi chùa có tính
cách chiến lược, rất hiểm yếu. Mặt khác, tên tri phủ cũng tìm cách mua
chuộc Mã Nhất Phu, một vị sư bị đuổi khỏi thiếu thất vì bị thoái hoá.
Vị sư này biết rõ mọi ngóc ngách của ngôi chùa. Vị Hoàng đế trẻ bị tên
tri phủ bẩm báo sai lạc đã ra lệnh cho quân đội đến tiêu diệt ngôi chùa
Thiếu Lâm. Quân binh vây kín mọi nẻo, các nhà sư không còn cách nào
thoát thân. Phương trượng của chùa quyết định bảo vệ thiếu thất. Cuộc
chiến diễn ra. Bị khuất phục trước số đông, những kẻ bị vây hãm chết
dần mòn trong một cuộc chống cự anh dũng. Họ quyết định chiến đấu cho
đến người cuối cùng. Họ rút vào chánh điện trong lúc quan quân bắt đầu
đốt chùa để ép các nhà sư phải ra hàng. Vị phương trượng đi vào mật
thất để chiêm nghiệm. Khi trở lại, ngài đã có câu trả lời "một vài vị
sư phải sống sót để còn tiếp nối truyền thống của Thiếu Lâm Tự, tất cả
những người khác phải hy sinh để bảo vệ các vị đó đào thoát".




Vị
phương trượng ra lệnh cho các đệ tử đi theo con đường tử lộ. Việc vượt
qua con đường hầm này là một thử thách cho tất cả những ai muốn thành
đạt tại thiếu thất. Con đường được trang bị những mộc nhân, các sinh đồ
phải vừa chứng tỏ mình có võ thuật cao cường vừa có dũng khí chịu đựng.
Cuộc thử thách rất cam go này ít ai vượt qua nổi, các người không thành
đạt sẽ bị rơi vào bẫy hoặc bị các la hán đánh gục ngã trên đường. Vị
phương trượng cùng một nhóm nhỏ các vị sư cương quyết bảo vệ cho bằng
được cuộc đào thoát bằng cách kéo dài cuộc chiến đấu để giữ chân các
quân binh. Sau đó, các quân binh mới hoàn toàn chiếm cứ chùa.




Theo
truyền thuyết, trong cuộc đào thoát của các vị sư thì chỉ có 5 người
thoát ra khỏi được con đường hầm tử thần. Tên của họ là Lưu, Hồng,
Thái, Lý và Mạc. Sau cuộc chiến tàn khốc đó, họ trở lại chùa và tìm
thấy thi hài của phương trượng bên cạnh có cây kiếm bằng gỗ anh đào.
Trên cây kiếm có dòng chữ được viết bằng máu "Phản Thanh phục Minh",
nghĩa là lật đổ nhà Thanh để khôi phục nhà Minh. Các nhà sư đã minh thệ
sẽ tuân thủ ý nguyện cuối cùng của sư phụ trước khi họ chia tay nhau để
đào tạo lớp đệ tử mới cho Thiếu Lâm Tự. Họ lấy nắm tay mặt để làm mật
hiệu nhận ra nhau. Nắm tay mặt tượng trưng cho ánh mặt trời được bao
lại bằng bàn tay trái mở ra, biểu tượng của mặt trăng. Theo chiết tự,
hai bàn tay "nắm-mở" mang ý nghĩa của chữ Minh. Cử chỉ chào kính truyền
thống này sẽ được kế thừa bởi tất cả trường phais võ thuật như một gia
sản của ngũ tổ.




Theo
truyền thuyết, 5 vị tổ sư là những người đã sáng lập ra Thiên Địa Hội.
Trong thực tế, hình như có khoảng hơn 100 vị sư bị chết, số người sống
sót nhiều hơn là ngũ tổ. Người ta bảo một số sống trong các vùng đồi
núi quanh chùa và ban đêm tìm về chùa luyện tập. Những người khác thì
bỏ đi đến các ngôi chùa khác, và cũng có một số tiếp tục dạy võ Thiếu
Lâm để làm kế sinh nhai. Người ta còn cho biết một vài người sống sót
nhập vào gánh hát của Bắc Kinh. Đó là lý do gánh hát này có nhiều màn
nhào lộn ngoạn mục và chiến đấu phối hợp nhau.




Trong
thực tế ngôi chùa không bị thiêu huỷ hoàn toàn. Những năm tiếp theo
triều đại của Hoàng đế Khang Hi, ngôi chùa lấy lại được vẻ tráng lệ của
nó. Những ngôi nhà mới dựng lên trên các bức
tường đổ nát, trên đó, các nhà sư đã vẽ ra những cảnh chiến đấu hoặc
tay không, hoặc vũ khí. Ngoài những bức vẽ hoành
tráng đó người ta vẫn còn thấy được khoảng sân với khoảng 40 chỗ lõm
vào do dấu chân của nhiều thế hệ sư sãi luyện tập.




Các
thế kỷ qua đi, chùa Thiếu Lâm không còn là trung tâm của Thiền Tông và
của võ thuật. Vào năm 1928, ngôi chùa trở thành nơi trú ngụ của một
viên tướng Phỉ tên Fang Chung Hsueh. Ông đã chọn chùa làm nơi đặt đại
bản doanh của mình. Viên tướng Hsi Yousan đến vây hãm nhưng Fang Chung
Hsueh đã tìm cách thoát thân cùng các vị tăng lữ trong chùa. Tức giận
vì xổng mất con mồi, tướng Hsi Yousan đã nổi lửa đốt chùa. Và thế là
tất cả các cổ thư Phật học cũng như các tài liệu quý giá về võ thuật đã
bị phá huỷ. May mà ngọn lửa không phạm tới những căn phòng chứa các bức
tranh hoành tráng.

(XMạnh)
Về Đầu Trang Go down
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003563
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: ~Võ Thuật Thiếu Lâm Tự~   5/10/2009, 11:30

Sau khi Nước CHND Trung Hoa được thành lập (năm
1949), võ thuật Thiếu Lâm được nhà nước và xã hội hết sức coi trọng,
coi đó là di sản văn hóa quý báu của dân tộc Trung Hoa. Chức năng của
võ thuật Thiếu Lâm cũng có sự thay đổi hết sức to lớn, từ việc sử dụng
để chiến đấu trong quá khứ lịch sử nay được bổ sung thêm chức năng hoạt
động thể dục tăng cường sức khỏe của người dân, do đó được phổ cập rộng
rãi trong nhân dân.

Sự truyền bá võ thuật Thiếu Lâm hiện nay nhằm chủ yếu vào xã hội là
chính. Năm 1954, huyện Đăng Phong coi kungfu Thiếu Lâm là hạng mục
trọng yếu hội tông hội diễn nghệ thuật dân gian. Năm 1959, kungfu Thiếu
Lâm được coi là hạng mục thể dục tham gia hội diễn phong trào thể dục
tổ chức tại thành phố Trịnh Châu (thủ phủ tỉnh Hà Nam). Trên phương
diện phát triển rộng võ thuật Thiếu Lâm, năm 1958 huyện Đăng Phong
thành lập Trường võ thuật nghiệp dư Đăng Phong, chuyên tu Thiếu Lâm
kungfu, đồng thời mời võ tăng nổi tiếng Thích Đức Căn của Thiếu Lâm Tự
làm huấn luyện viên trưởng của trường. Sau khi giữ chức huấn luyện viên
trưởng, đại sư Thích Đức Căn đã đào tạo ra một loạt những nhân tài võ
thuật Thiếu Lâm. Năm 1970, ủy ban TDTT huyện Đăng Phong cho tổ chức xây
dựng lại Trường võ thuật nghiệp dư Đăng Phong, đồng thời mời võ tăng
hoàn tục Dương Tụ Tài làm huấn luyện viên trưởng, sau đó mời thêm võ
tăng Thiếu Lâm là Lương Dĩ Toàn tham gia phối hợp. Việc bồi dưỡng ra
một loạt những nhân tài võ thuật Thiếu Lâm tại trường này có một vai
trò quan trọng đối với sự phát triển của võ thuật Thiếu Lâm sau này.

Năm 1978, sau khi nhà nước Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa, võ
thuật Thiếu Lâm đứng trước cơ hội to lớn chưa từng có trong lịch sử.
Năm 1979, Thập Ngũ Trung thuộc huyện Đăng Phong lần đầu tiên cho thành
lập Đội võ thuật Thiếu Lâm chuyên nghiệp tại trường học. Năm 1980,
trường võ thuật Thiếu Lâm được thành lập tại Thập Ngũ Trung, đồng thời
do quyền sư nổi tiếng Thiếu Lâm là Vương Triều Phàm, Lã Học Lễ, Trịnh
Thư Kỳ, Vương Tông Nhân giảng dạy. Trường võ được thành lập giành được
nhiều sự ủng hộ to lớn của các giới trong xã hội. Năm 1979, Công ty
điện ảnh Trung Nguyên của Hong Kong cho tiến hành quay bộ phim “ Thập
tam hòa thượng cứu Đường vương” dựa theo cốt truyện “ Thập tam hòa
thượng cứu Đường vương” trong lịch sử. Ban đầu sử dụng các diễn viên
của Hong Kong và diễn viên của đoàn Kinh kịch tỉnh Hà Nam. Khi quay
được một nửa, do thiếu võ thuật chính tông và việc kịch hóa diễn ra quá
lớn , cho nên đổi tên phim thành “ Thiếu Lâm Tự”, đồng thời cho mời vận
động viên võ thuật nổi tiếng toàn Trung Quốc là Lý Liên Kiệt thủ vai
chính. Năm 1980 bộ phim được tiếp tục quay tại Thiếu Lâm Tự. Năm 1982
khi được trình chiếu lần đầu tiên tại Hong Kong và Trung Hoa đại lục,
bộ phim đã dành được sự chú ý và đánh giá cao của nhiều khán giả trên
thế giới. Bởi vì những cảnh trong phim là kungfu thật, võ thuật Thiếu
Lâm chính tông. Chính từ sau khi trình chiếu bộ phim này mà đã hình
thành nên làn sóng luyện võ thuật Thiếu Lâm của nhiều nước trên thế
giới, hàng năm có biết bao nhiêu người đã đến Thiếu Lâm Tự để học tập.

Năm 1986 Thiếu Lâm Tự thành lập Hội nghiên cứu quyền pháp Thiếu Lâm do
pháp sư Hành Chính làm hội trưởng, Vĩnh Tín, Ấn Tông làm phó Hội
trưởng, tiến hành cho khai thác và chỉnh lý Thiếu Lâm kungfu, xuất bản
tạp chí “ Thiếu Lâm Quyền”. Sau đó Thiếu Lâm Tự thành lập võ tăng đoàn,
nhiều lần tổ chức ra nước ngoài biểu diễn để tuyên truyền võ thuật
Thiếu Lâm.

Cùng năm này, nhà nước Trung Quốc cho đầu tư hơn 7 triệu nhân dân tệ,
xây dựng khu huán luyện rộng 290.000 mét vuông cách Thiếu Lâm Tự 700 m
về phía Tây, thực hiện chiêu sinh, bồi dưỡng nhân tài võ thuật Thiếu
Lâm. Khu huấn luyện này từ tháng 9 năm1988 đến nay đã chiêu sinh hàng
trăm ngàn học viên , trong đó có các học viên từ nước ngoài như Mỹ,
Singapore, Úc, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Thụy Sỹ…Năm 1999,
huyện Đăng Phong đã phê chuẩn cho thành lập 34 trường võ thuật Thiếu
Lâm, học viên đến từ trong và ngoài Trung Quốc có đến hàng vạn người.
(mahcmc.com)
Về Đầu Trang Go down
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003563
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Chưởng môn" trẻ nhất trong lịch sử Thiếu Lâm Tự   5/10/2009, 11:32

Sinh năm 1965 tại An Huy, Thích
Vĩnh Tín tên thật là Lưu Ứng Thành. Sinh ra trong một gia đình tín đồ
Phật giáo, từ nhỏ cậu bé Lưu Ứng Thành đã rất thông minh dĩnh ngộ và
ham tìm hiểu Phật sự, mê kungfu Thiếu Lâm.

Năm 1981, cậu xin phép cha mẹ tìm đến Thiếu Lâm Tự
Tung Sơn bái Phương trượng Hành Chính trưởng lão làm sư phụ và thí phát
đi tu. Khi Thiếu Lâm Tự thành lập Ủy ban quản lý dân chủ, Thích Vĩnh
Tín được bầu vào, giúp Phương trượng xử lý các công việc thường ngày
đâu ra đấy.

Tháng 8/1987, Trưởng lão Hành chính viên tịch, Thích
Vĩnh Tín được thầy tiến cử kế vị làm Chủ nhiệm Ban quản lý Thiếu Lâm
Tự, chủ trì công việc mọi mặt.

Ông bắt đầu bắt tay vào việc tái thiết, trùng tu, xây
mới cơ sở chùa chiền. Ông phải lo mọi việc từ tìm nguồn vốn, tìm mua
vật liệu, tìm thầy tìm thợ… đến quên ăn quên ngủ.

Bằng nỗ lực phi thường của thầy trò Thích Vĩnh Tín,
Thiếu Lâm Tự - ngôi chùa tổ đình của Thiền tông có lịch sử ngàn năm đã
nhanh chóng trở thành tiêu điểm chú ý của quốc tế. Từ tháng 8 năm 1999,
Thích Vĩnh Tín đã trở thành Phương trượng trẻ nhất trong lịch sử 1.500
năm của Thiếu Lâm Tự.

Trong các tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, Cổ Long
hay các phim chưởng, hình ảnh các Phương trượng Thiếu Lâm Tự luôn là
người nghiêm túc, khắc khổ, cách xa cuộc sống thế tục, nhưng những điều
đó không hề còn dấu vết ở vị Phương trượng hiện nay.

Từ 4 năm trước đây, kênh truyền hình Mỹ Discovery đã
dùng từ “CEO” để chuyển ngữ từ “Phương trượng” khi họ làm bộ phim “Tân
Thiếu Lâm Tự Phương trượng”.

Cũng giống như việc không thể nhớ mình đã đi tới bao
nhiêu quốc gia, Phương trượng Thích Vĩnh Tín không thể tính hết được
tổng số tài sản của Thiếu Lâm Tự.

Có ba thứ tài sản rõ ràng nhất là: tiền vé vào cửa, võ
công và tiền nhang khói. Riêng tiền vé vào tham quan, bình quân mỗi năm
Thiếu Lâm Tự đón 1,5 triệu du khách nhân với 40 tệ/người thì mỗi năm đã
thu 60 triệu tệ (hơn 7,5 triệu USD), nhà chùa được giữ lại ¼ số tiền đó.

Về biểu diễn võ thuật, từ khi Thích Vĩnh Tín trụ trì
chùa năm 1987, các võ tăng Thiếu Lâm Tự đã bắt đầu xuất ngoại. Mới tính
đến 2004, riêng Thích Vĩnh Tín đã đích thân dẫn đoàn đến trên 60 nước
để biểu diễn trên 1.000 buổi, theo báo “Người bảo vệ” thì mỗi buổi biểu
diễn ở Mỹ thu được 10 ngàn USD.

Tháng 7/2006, các võ tăng Thiếu Lâm Tự cùng một số
diễn viên đoàn ca múa Trịnh Châu đã sang Mỹ biểu diễn vở kịch múa
“Thiếu Lâm trong gió” 800 buổi, thu được trên 8 triệu USD.

Trong tác phẩm “Thiền lộ tập” của mình, Thích Vĩnh Tín
viết: “Phật giáo không tỵ thế (lẩn tránh đời). Nếu tỵ thế, Phật giáo sẽ
sớm diệt vong”. Chính tư tưởng đó của ông đã khiến Thiếu Lâm Tự giành
thế chủ động trong xã hội kinh tế thị trường khác hẳn các ngôi chùa
danh tiếng khác ở Trung Quốc.

Dưới tài quản lý của Thích Vĩnh Tín, giờ đây Thiếu Lâm
Tự đã trở thành trụ cột của ngành du lịch thành phố Đăng Phong và tỉnh
Hà Nam. Tư tưởng và cách quản lý điều hành ngôi chùa của ông được khen
cũng nhiều mà cũng lắm người chê.
Tuy nhiên, điều gây nên tranh cãi ở Thích Vĩnh Tín không chỉ có thế.
Năm 2004, việc ông cho công bố trên web site Thiếu Lâm Tự các thế võ và
các bài thuốc bí truyền bị coi là tự đánh bóng; năm 2006, Thiếu Lâm Tự
và Tập đoàn truyền thông Thâm Quyến hợp tác tổ chức cuộc đại tỷ thí võ
thuật toàn cầu mang đậm tính thương mại “Ngôi sao Kungfu”, rồi cuộc cầu
phúc cho 999 cặp tân hôn được tổ chức ở Thiếu Lâm Tự cũng chịu nhiều
búa rìu dư luận.

Trước những lời chỉ trích, phê phán, Thích Vĩnh Tín
vẫn bình tĩnh: “Quả thực là tôi chú trọng dùng kinh doanh để phát triển
văn hóa Thiếu Lâm. Tôi tin rằng những người thực sự làm việc sẽ hiểu
tôi”.

Năm 1981, khi Thích Vĩnh Tín đến chùa, Thiếu Lâm Tự là
một ngôi chùa nhỏ cũ nát chỉ có mười mấy hòa thượng trong đó 9 người
già lão, chủ yếu sống nhờ 28 sào đất. Một năm sau, bộ phim “Thiếu Lâm
Tự” được chiếu đã lôi kéo du khách tìm đến và mang lại cơ hội đổi đời
cho chùa…

Đến nay thì cả thế giới đã biết đến Thiếu Lâm Tự,
nhiều nhà lãnh đạo trong ngoài nước như Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Tổng
thống Nga V.Putin, Cựu Ngoại trưởng Mỹ H.Kissinger đều đã thăm chùa.

Trên con đường dài nửa giờ xe hơi chạy từ thành phố
Đăng Phong đến Thiếu Lâm Tự, ven đường đâu đâu cũng thấy các trường dạy
võ Thiếu Lâm, tiếng hô vang vang, tựa như khắp thành phố đều là đệ tử
đệ tôn Thiếu Lâm…

Thích Vĩnh Tín không cam chịu để võ thuật Thiếu Lâm
dừng ở “thuật” và quyết nâng lên thành “học”, thành một mảng văn hóa
giống như “Đông phương học”. Vì thế ông đã thiết lập quan hệ hợp tác
nghiên cứu với nhiều trường đại học như ĐH Bắc Kinh, Thanh Hoa, Nhân
dân.

Chưa hết, ông còn hướng tầm mắt ra hải ngoại. Tháng
8/2006 ông đã sang Australia mua mảnh đất rộng 12km2 với dự định xây
dựng một Trung tâm văn hóa Thiếu Lâm lớn.

Không chỉ khôi phục võ thuật, Thích Vĩnh Tín hướng mục
tiêu vào khôi phục toàn diện văn hóa Thiếu Lâm gồm cả “Võ, Thiền, Y”.
Ông đã cho mở “Thiếu Lâm dược cục” ở góc Tây Nam khu chùa, nhưng hiện
vẫn chưa thể mở cửa vì còn phải đợi Cục quản lý Dược quốc gia cấp phép.

Ông dự định xây dựng Bảo tàng Thiếu Lâm Tự để kể lại
lịch sử ngôi chùa và Thiếu Lâm Tự sẽ là ngôi chùa đầu tiên có nhà bảo
tàng. Nhưng khó khăn lớn mà Thiếu Lâm Tự gặp phải giờ đây là đất đai.
Khi xưa, trong cải cách ruộng đất, chính quyền đã lấy đất nhà chùa chia
cho dân chúng, nay không thể đòi lại được nữa…

Một vấn đề khác mà Thích Vĩnh Tín và Thiếu Lâm Tự phải
đương đầu là tệ xâm phạm bản quyền. Ông nói từ 1994 đã đăng ký bản
quyền tên gọi Thiếu Lâm Tự nên việc tranh chấp cũng đỡ phức tạp nhưng
vẫn tồn tại vấn đề bản quyền ở cả trong, ngoài nước.

Đối với những công ty Mỹ, Nhật nhanh tay “cướp tên”
trước, Thiếu Lâm Tự chủ trương “cùng tồn tại” vì vừa không có tiền, vừa
không phải là cơ cấu thương mại thuần túy.

Đối với các công ty trong nước xâm quyền thường có thế
lực trong chính quyền đứng sau nên cũng khó kiện được, nhưng những
trường hợp như món hotdog “Thiếu Lâm Tự” thì phải kiên quyết kiện vì là
vấn đề tinh thần và cuối cùng đã thắng đối phương.

Thích Vĩnh Tín đặc biệt phẫn nộ với những kẻ đội danh
Thiếu Lâm Tự để lừa đảo, gây rối làm hại đến thanh danh nhà chùa. Hồi
cuối tháng 11/2006, tại Thành Đô xảy ra sự kiện 50 kẻ tự xưng là môn
sinh Trường võ Thiếu Lâm Tự biểu diễn thu tiền người xem và bán binh
khí chất lượng kém.

Khi bị phóng viên truyền hình địa phương phát hiện là
đồ giả, nhóm này đã đánh phóng viên và còn tiến công cảnh sát khi họ
đến can thiệp làm 5 người bị thương.

Phương trượng Thích Vĩnh Tín đã lập tức họp báo tuyên
bố: Thiếu Lâm Tự không có Trường võ nào, nhóm gây rối không phải là
tăng nhân Thiếu Lâm Tự, nhà chức trách cứ nghiêm trị theo pháp luật.
(Theo báo chí TQ)
Về Đầu Trang Go down
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003563
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Thốn kình xung quyền   5/10/2009, 11:32

Người
biểu diễn đưa thẳng tay ra, để nắm tay đụng vào người đối thủ, đối thủ
đứng hai chân ngang bằng. Sau đó, kéo tay về sau cỡ một centimét (như
chúng ta sẽ thấy sau đây, ta càng ít kéo tay về sau cuộc biểu diễn càng
ngoạn mục bây nhiêu). Rồi phát đòn đấm gần như không lấy đà làm cho đối
thủ bị văng ra xa.


Sự kiện là người bị đấm
văng ra sau thay vì ngã tại chỗ chứng tỏ đây là một đòn đẩy chớ không
phải là một đòn đánh! Trong những cuộc tranh tài quyền Anh, chúng ta
từng thấy võ sĩ trúng đòn gần như ngả gục tại chỗ, chính những phim ảnh
võ thuật đả đưa ra hình ảnh giả tạo của người võ sĩ bị đánh văng ra xa.


Dĩ nhiên trước khi muốn
đẩy, chúng ta không cần rời nắm tay khỏi người địch thủ. Và muốn cho
cuộc biểu diễn này thành công hơn, chúng ta phải cho khán giả lầm tưởng
là ta dùng một đòn đánh.


Nhiều yếu quyết khác
được sử dụng. Như khi đẩy, ta đặt nắm tay vào chấn thủy của đối phương,
như vậy lúc bị đẩy, sự đau nhói tại chấn thủy cho đối phương cảm tưởng
là bị đánh!


Điểm thứ nhì là trước
khi phát đòn, ta đẩy nhẹ đối thủ về sau làm cho y đứng trên gót chân,
đòn xô của ta sau đó dể thực hiện và ngoạn mục hơn. Như vậy chúng ta dể
hiểu là rút tay lại trước khi đánh sẽ giúp cho đối phương, lúc đó đặt
trọng tâm trên đầu ngón chân, chống lại sức đẩy của ta! Chủ yếu của
thuật biểu diễn là làm cho khán giả lầm tưởng là những điều đó làm trở
ngại cho cuộc biểu diễn, khi thật sự giúp ta thực hiện cuộc biểu diễn!


Một cách khác làm cho
đối thủ đứng trên đầu ngón chân và cho tay mình hơi cong nơi cùi chỏ là
sau lúc chạm vào người đối phương, ta hơi cong cổ tay, như vậy chỏ tự
nhiên cong lại. Lúc phát đòn, ta dùng lực phát xuất từ chỏ và cổ tay,
vì vậy, đòn này còn được gọi là "Uyển lực xung quyền" hay thế đấm dùng
lực phát từ cổ tay.


Cuối cùng ta có thể đặt
một cái ghế sau lưng đối phương. Khán giả lầm tưởng ta thận trọng muốn
tránh cho đối phương khỏi bị thương sau khi chịu đòn của ta. Nhưng thật
sự cái ghế chặn đối phương lui lại. Nếu đối thủ để giữ thăng bằng, muốn
lùi chân thì chạm vào chân ghế và té trên ghế!


Chúng tôi xin nhắc lại là lực dùng trong đòn đẩy nêu trên phát xuất từ:
- Sự di chuyển của trọng tâm thân thể từ chân sau tới chân trước,
- Sự chuyển động của eo,
- Sự co duỗi của cột xương sống,
- Sự mỡ ra và khép lại của lòng ngực.
Tay chỉ dùng để chuyển lực đó tới người địch thủ.


Để kết thúc bài báo này,
chúng tôi nhấn mạnh là một đòn đấm chỉ dùng để đánh, áp dụng một kình
lực tàn phá, tay đấm chỉ chạm vào người địch thủ trong một thời gian
rất ngắn, lúc chỏ đã hoàn toàn thẳng, khi kình lực tàn phá được phát
huy tới mức độ cao nhất. Địch thủ bị trúng đòn, ngã gục tại chỗ.


Hiện nay, vì một mục
đích biểu diễn, có võ sĩ sử dụng đòn đấm để đẩy, thật trái hẳn với
nguyên lý của một thế đấm. Muốn đẩy thì ta nên sử dụng bàn tay vì tay
đẩy phải dính liền với người đối thủ từ lúc cùi chỏ còn cong tới lúc
thẳng ra, kình lực đẩy mới truyền hết qua người địch. Đối thủ lúc đó bị
hất ra xa.
(Nguyễn Quí Jacques và Dufresne Thomas)
Về Đầu Trang Go down
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003563
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Trích lược "tự luyện Bát đoạn cẩm" của GS Hàng Thanh   5/10/2009, 11:33

I. BÁT ĐOẠN CẨM LÀ GÌ ?
Có lẽ quá
xa xưa theo truyền thuyết, thuở các vị vua hiền đức và tài năng như
Thần Nông, Phục Hi, Hoàng Đế đã có người am hiểu tận tường về môn học
nầy, có nhiều người luyện tập và coi như một phép dưỡng sinh cần thiết
tối yếu. Chính nó bắt nguồn và song hành phát triển cùng môn học Châm
Cứu, một môn Y Học giá trị ngày nay đang được các Bác Sĩ trên Thế giới
gia tâm nghiên cứu thực hành v…v…






Qua
những suy luận và đoán quyết môn Bát Đoạn Cẩm, môn học Khai Thông Khí
Lực Kỳ Kinh Bát Mạch đã có từ Cổ thời Trung Quốc, nhưng vẫn còn nằm
trong dự thuyết vì chưa có bằng chứng xác thực. Và phải đợi đến thời
Chùa Thiếu Lâm phát triển nghệ thuật chiến đấu Kỹ Kích (Võ thuật) thì
môn Bát Đoạn Cẩm mới chính thống được lưu truyền có phép tắc kỷ cương.
Kể từ đó, môn Bát Đoạn Cẩm lan truyền mau, rộng và được người đời
ngưỡng mộ tập luyện như môn phép tắc bí truyền . Như vậy thời môn Bát
Đoạn Cẩm do ngài Thiền Sư Tổ Đạt Ma dạy, là học thuật mang từ Thiên
Trúc (Ấn Độ) qua? Nhưng xét theo dữ kiện lịch sử thì bên Ấn Độ không có
môn học nầy. Người ta quả quyết rằng ngài Tổ Sư sáng chế môn Bát Đoạn
Cẩm để dạy môn đồ cho cường kiện thân tâm hầu mau đạt hạnh tu Chánh
Kiến, Chánh Giác, là một hình thức tiên khởi cho môn học tối thượng
Dịch Cân Pháp mà ngài sáng tác sau này.

Người Trung Hoa vốn là dân
tộc hay sáng kiến, nên môn đồ của ngài Đạt Ma Tổ Sư ở hậu lai có nhiều
vị biến chế những học thuật học được ở Ngài thành nhiều môn học chuyên
biệt khác, lập thành môn phái truyền bá sâu rộng trong phàm dân Trung
Quốc cho đến ngày nay. Đó là gốc của Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm….

Còn như có nhiều thuyết
cho Bát Đoạn Cẩm do Nhạc Phi chế ra chắc là không đúng vì một Đại tướng
chuyên đánh trận không có thì giờ và tâm hồn không đặng thanh nhàn để
nghĩ ra những điều ký bí ít ra cũng phải cần phải đến một Đạo gia mới
có thể nghĩ tới.

Và Đạo gia cũng có môn Bát
Đoạn Cẩm, song hành và phát triển cùng thuật Vận Khí là phép luyện Nội
Công chân truyền, được nhiều sách của các Đạo Sĩ nhắc đến, cùng được
các quyền gia chuyên luyện Võ Công Đạo Gia: (Bát Quái Chưởng, Thái Cực
Quyền) học tập.

Trên đây là sự hiểu biết
cần thiết về môn học cẩn yếu Bát Đoạn Cẩm cho một võ gia, nhưng điểm
cần yếu hơn tưởng không thể quên đề cập trước khi bắt đầu tập luyện là:
Bát Đoạn Cẩm là gì?

- Soạn giả xin trả lời
gọn, Bát Đoạn Cẩm là Tâm Phép tập cho đả thông Kinh Mạch, khí lực thuần
nhuận lưu thông đến mọi phần trong cơ thể giúp hành giả (người học)
thân thể thường được cường kiện khinh linh vô bệnh, trường thọ đúng đạo
dưỡng sinh. Ngoài ra còn có công năng tạo dựng sức mạnh gân thịt cho Võ
gia tạo điều kiện tham học tới chỗ đại thành, trị lành mọi bệnh Nội
thương do tập luyện quyền thuật gây ra.

Bát
Đoạn Cẩm quả thật có công năng thần diệu vô song cải tạo sức khỏe, tăng
tiến thể lực và rèn luyện thân tâm hợp nhất, là môn học thuật thể thao
xây dựng đáng được đề xướng, tôn vinh…





II.SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BÁT ĐOẠN CẨM VÀ NỘI CÔNG
Võ Học và nhiều ngành Văn Hóa khác rất vĩ
đại, cổ thời đã phát xuất từ Trung Quốc, điều nầy cho đến nay không còn
ai phủ nhận. Theo vết dầu loang, gần hấp thụ trước, xa lãnh hội sau…
Việt Tộc là một Tiên quốc văn minh truyền thống gốc ở Ba Thục bên Tàu
là một đàn anh trong Bách Việt nên trước hơn ai hết lãnh hội, tiêu hóa,
và phổ biến nền học thuật trung quốc nói chung và Việt nói riêng.

Khi Việt Tộc ta di dân xuống cõi Nam đã
mang theo nhiều ngành học thuật cao quý vĩ đại của Tổ tiên, dĩ nhiên
một phần còn lại, và để lại cho Bắc quân từ phương Bắc tràn xuống…trong
đó ngành Võ học được chúng ta soi sáng trong tiêu mục nầy.

Việt Tộc vốn là dân Quân Tử và thông minh (Khổng
Tử thường xướng thuyết Quân Tử để người Bách Việt bên Tàu học: dĩ nhiên
có thiểu số người Việt không nối nghiệp nổi Tổ Tiên nên lạc nẻo tiểu
nhân
.) Với huyết thống tri hóa xuất chúng, người Việt Nam đương
nhiên thu nhận được ngay những kỹ thuật võ công từ Chùa Thiếu Lâm
truyền ra trải qua các triều đại sau đời ngài Tổ Sư Đạt Ma. Cũng nhờ
vào tài ba võ dũng và trí hóa ưu hạng mà Lịch sử Việt ghi được những
điểm son đáng làm ngạc nhiên thế giới ngày nay. Sự bành trướng biên thổ
Việt là lẽ dĩ nhiên ở cổ thời, cận đại và tương lai…sự lớn mạnh của
Việt Nam là lẽ tất nhiên và trên đà hiển hiện. Sự huy hoàng của dân
Việt phải được phục hồi như ngày mà tổ tiên còn ở Ba Thục…

Trong cổ thời, đồng phát triển Võ Nghệ
Thiếu Lâm Tự trên lãnh thổ Việt, nhiều nhân tài tướng quân xuất hiện
trong quân ngũ, trong các kỳ thi của Triều đình. Võ được phát hiện
chung thời với các Thiền Lý được truyền bá từ các Thiền Sư. Các Thiền
Sư giỏi đều là những bậc có thành quả về Thiền Định, mà chánh quả của
Thiền Định là Tĩnh luyện Nội Công, môn võ học thượng thừa (ngày nay ít người biết lý nầy.)

Do đó kể từ đời Thiền Sư Tỳ Ni Đa Lưu Chí
(Vinitaruci) năm 602…trở về sau Thiền Sư Pháp Hiền, 626, Thanh
Biện…636…thì môn Thiền học cùng Nội Công Tĩnh Tọa Thiền Định đã được
truyền bá có hệ thống tại Việt Nam rồi.

Như chư học giả đã hiểu, trong sách Tự
Luyện Nội Công Thiếu Lâm Tự của soạn giả, thì khác biệt giữa Thiền Định
và Nội Công Tĩnh luyện chỉ cách nhau tờ giấy mỏng, chỉ một lời nói của
bậc Thầy là người có công phu Thiền Định tức khắc trở thành Nội Công
cao thủ: “Tâm ấn chỉ có một lời.”

Nội công và Thiền Định đều nhằm luyện khí
lực, tập trung và luân chuyển theo như ý. Võ gia dụng Nội Công khí lực
đả thông kinh mạch làm tăng bổ sức mạnh đạt chỗ đại thành trong nghề
võ, Thiền Sư dụng Khí Công cường kiện thân tâm kiên trì khổ hạnh tập
trung ý chí, nhất tâm đạt đến chánh giác chánh kiến thành bậc Chân Như
gọi là Đắc Đạo.

Bát Đoạn Cẩm cùng một thể với Dịch Cân
Kinh hay Dịch Cân Pháp nhưng thông dụng và để rèn luyện cũng hữu dụng
hơn là phép Nội Công thuộc về Động luyện. Cốt là luyện cho cường kiện
gân mạch, cứng chắc thịt xương da, đả thông kinh mạch, tránh nhiểm bệnh
hoạn hầu sống lâu và giúp phần thành quả Đại thành võ nghệ.

Nếu ví cho rõ hơn thời Bát Đoạn Cẩm như vỏ
ngoải của chiếc bánh ít, mà nhân là Nội Công Thiền Định. Cả hai cũng là
Nội Công nhưng cái thì thấp cái thì cao minh thâm thúy hơn nhiều. Phật
gia tùy từng Duyên mà giáo độ môn đồ nên có thấp cao, có tùy Duyên
khởi. Nhưng dù ai có Duyên lớn tới đâu vẫn phải tập Bát Đoạn Cẩm nầy
trước rồi sau mới học đến Thiền định, nếu là người xuất gia, còn phàm
nhân ăn mặn thì chỉ tập Bát Đoạn Cẩm hoặc Dịch Cân Pháp cho mạnh gân
cứng xương dẻo thịt là tốt rồi. Phép luyện Nội Công Thiết Tuyến mà soạn
giả trình bày trong sách Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Sơn Đông là động
luyện rất tốt cho các Võ gia hoặc Thiền gia tham cứu về võ công.

Vậy thời sự phân chia đã rõ: Bát Đoạn Cẩm
là phép Nội Công Ngoại Tráng Sơ Đẳng. Nội Công Thiết Tuyến là Nội Công
Động Luyện có dụng cụ. Nội Công Thiếu Lâm Tự là phép Tĩnh Tọa Thiền
Định cao tuyệt khi nào ăn chay trường tập mới kết quả.

Cùng một môn học mà chia làm ba pháp luyện
tập khác nhau là do chỗ thấp cao tùy dụng. Khởi tập thì tập Bát Đoạn
Cẩm trước cho gân xương cứng cáp, trong mình có sức lực rồi mới tập đến
Nội Công Sơn Đông. Khi đã đủ sức tranh tài hàng Cao đẳng mà thần trí
thong dong trường trai tiết dục được mới tập tới Nội Công Tịnh Tọa, tức
cuốn Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Tự. Có biết cách luyện tập thì mới dễ
thành công, bằng không thì thời giờ bị phí mà thân thể đôi khi thương
tổn hư hao mất công chữa trị. Duy ngoại trừ những học giả có võ công
cao, các võ sư có căn bản thì có thể bắt ngang từ Nội Công Sơn Đông mà
luyện cho mau thành công cũng chẳng hại gì, vì ít ra một phần kinh lạc
trong người của người có trình độ võ công cũng đã được khai mở nhờ công
phu luyện tập quyền cước. Ở trình độ cao của bộ môn Nội Công người lỗ
mãng, thô tục, thiếu đạo đức không thể luyện tập được, cưỡng tập sẽ bị
bệnh nguy hại bản thân rất khó trị liệu. Bởi thế xưa nay người ta vẫn
thấy người võ công cao bao giờ đạo đức cũng sáng chói, người có nhiều
tham vọng chỉ gặt hái những thành quả tầm thường. Kẻ hung hăng thì sát
nghiệp ở kế bên mình. Chắp tay sau đít nhìn thiên hạ qua đường cũng
phát kiến được những điều hữu ích để tự tu rèn tâm tính, phát triển thể
lực hầu càng ngày được lành mạnh vui tươi, sống lâu hưởng đời.

Trên đây là luận về Nội Công, Bát Đoạn Cẩm
Phật Gia, còn Tiên Gia cũng có môn Nội Công Dẫn Khí và Bát Đoạn Cẩm mà
người đời thường gọi là Phép Đạo Dẫn hay và Vận Khí Thuật, v..v…hình
thái biểu diễn động tác có chỗ khác nhưng mục đích không khác và thành
quả thì đến chỗ như nhau. Cái đó gọi là Núi có một đỉnh mà đường lên có
nhiều.

Vậy môn sinh hậu học
từ nay chớ thắc mắc đua đòi, xao lãng việc rèn luyện, cứ mãi so đo rồi
rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Sách đã trong tay rồi như thuốc trước miệng
mà đành chết bệnh, kiếm đã trong tay rồi mà chúng đâm không biết đưa
lên đỡ thì sinh mạng ấy tưởng có chết đi cũng chẳng thể có vị Bồ Tát
nào khứng cất nhắc cho về cõi Tây Phương cực lạc. Ngu độn, hàm hồ là đáng ở lại trong hỏa ngục chịu nhiều luân kiếp đọa đày. Phải nói như vậy không phải là lời suông qua gió thoảng.

III. SỰ THÀNH CÔNG CỦA BÁT ĐOẠN CẨM
Nếu thông thường như nhiều bậc chép sách
thì soạn giả cũng sẽ chép ra đây nhiều chuyện cổ tích ly kỳ của người
xưa trên đường thành quả Nội Công, Bát Đoạn Cẩm. Nhưng soạn giả không
thích bị lôi cuốn vào hàng (nghe sao chép vậy), mà thường chỉ đơn cử những ví dụ mắt thấy tai nghe, hoặc bản thân thực hành được, v..v…

Tiếc thay chuyện bên Tàu thì nhiều mà bên
Nam ta quá khiêm nhường đến độ khó lòng đơn cử cho thật đích danh với
đầy đủ thành tích chơn thật, đến đâu, vị Lão sư nào cũng nói mở đầu
bằng: “Hồi xưa…. Nghe người ta nói, người ta đồn rằng…”, và
tiếp theo đó là những chuyện dường như hoang đường vì thiếu tính cách
Khoa học. Tóm lại là những chuyện chưa bao giờ thấy.

Trước thời buổi khoa học ngày nay, mọi
ngành học thuật cũng phải được nhìn dưới con mắt khoa học, nghĩa là
giải thích được, hợp lý và ít ra cũng phải có một ví dụ làm bằng. Soạn
giả vì chủ trương không làm mê hoặc hậu sinh nên không ghi lại những cố
sự hoang đường đọc được, nghe được trong đời tu học của mình, mà chỉ
nêu lên những điều dễ nhận định…

Như soạn giả đọc thấy nhiều sách xưa đơn
cử nhiều danh gia võ học cao thủ bên Tàu nhờ luyện tập Võ Nghệ, dĩ
nhiên chuyên luyện Nội Công sống lâu và rất khỏe mạnh, ngày nay một vị
lãnh tụ của Trung Quốc đã 90 tuổi mà vẫn còn mạnh khỏe vui tươi lãnh
đạo 800 triệu dân, nhờ tập Bát Quái chưởng và Thái Cực Quyền mỗi buổi
sáng. Chuyện nầy báo chí Pháp, Mỹ đăng tải từ lâu có cả hình ảnh… (Thái Cực và Bát Quái là môn Nội Công của Tiên Gia). Ông của soạn giả năm nay 92 tuổi mà còn cỡi xe đạp hơn ba mươi cây số thăm bà con, cùng đi lụp (đánh bẩy)
chim cu suốt ngày không biết mệt…là nhờ chân luyện vài thế trong môn
Bát Đoạn Cẩm mỗi tối trước khi đi ngủ, cùng suốt đời không uống rượu,
không hút thuốc. Thầy của soạn giả là bậc chân tu không lậu sự, diệt
danh, người truyền thụ môn Nội Công thượng thừa cho soạn giả, năm nay
đã tám mươi lăm (85) tuổi rồi mà còn tốt tướng, một mình tịnh tu một
chùa (động), không cần đồ đệ tăng tiểu phụ giúp mọi sự. Quanh năm khí
lạnh cao nguyên mà người vẫn độc một mãnh Đạo bào đơn sơ, ngày hai buổi
công phu luyện tập Nội công Thiền định mà đạt thành chánh quả như thế.
Ai có chân phước gặp người tất thấy sự trong sáng của Từ Bi Hỉ Xả trên
ánh mắt của người.

Riêng bản thân soạn giả thuở thiếu thời ốm
yếu xanh xao, người ta kêu là con sát nuốt phải gởi cho chùa nuôi, 12
tuổi mới xin về…soạn giả nhờ ông bác ở trong chùa dạy cho Bát Đoạn Cẩm
và ít quyền thảo, và soạn giả cứ theo đó tập tành cho có lệ, thế mà
thời gian mấy mươi năm lần lữa khi thành trang thanh niên thì soạn giả
đã biến đổi hẳn hình dong. Sự cường mạnh thấy rõ trong con người vốn
tiên thiên bất túc. Và cho đến bây giờ tuổi trời hơn nửa đời mà bất kỳ
ai đối diện có trình độ cũng phải chấp nhận là một người có dõng lực,
còn bậc phàm phu thì chẳng hết lời ngưỡng mộ đường nét khôi vĩ tinh
kỳ….Ấy khởi đầu cũng nhờ luyện tập Bát Đoạn Cẩm ở tuổi ấu thơ, đành
rằng trong thời niên thiếu ngoài việc luyện cầm chừng môn Bát Đoạn Cẩm
soạn giả còn luyện quyền thuật, và đến tuổi thanh niên thì càng tăng
gia tu học quyền thuật cùng rèn luyện Nội Công chân chính… Cho đến này
thì công phu đáo thành: cánh tay đưa ra để mềm 5-6 người lực lưỡng
không bẻ gập lại được, cho búa tạ đập, dao bén chém., nằm phình bụng
cho xe hơi cán đủ chỗ, đủ kiểu không cần nịt bụng hay lót đà ván, chân
trần đi trên chông nhọn, đạp trên đao, kiếm sắc bén, bật ngón tay đâm
thủng ván tấp mỏng, v…v… (Những thành quả trên có biễu diễn tại
nhiều hội trường cho các võ gia, quan viên giáo chức cùng môn sinh
nhiều môn phái xem chơi, có chụp hình in trong sách Tự Luyện Nội Công
Thiếu Lâm Tự v.v
…) Điều đặc biệt mà soạn giả rất vui là thấy công
phu đã truyền lại được cho nhiều võ gia hậu học đệ tử đã tham học với
soạn giả, một phần cũng được các học viên các Lớp Hàm Thụ lãnh hội, rồi
đây chẳng bao lâu nữa nghành nghệ thuật dưỡng sinh nầy được mọi người
mến mộ rèn luyện thành công.

Sự thành công của soạn giả không phải vô
tình, sự thành công của môn đệ của soạn giả cũng chẳng phải vô tình hay
may mắn mà do sự chuyên cần luyện tập có phương pháp. Vậy soạn giả kết
luận là bất kỹ võ gia nào thành tâm luyện tập thì nhất định sẽ thành
công.

Với môn Bát Đoạn Cẩm nầy người tập không
cần kiêng cữ nhiều như các môn Nội Công Thượng Thừa. Nhưng dù sao vẫn
tránh vài việc mới có thể mau tiến bộ. Như các võ sư có tuổi đã có vợ
con thì tránh phiền não, bớt giao hoan và phải luyện tập cho có điều độ
ít ra mỗi ngày một lần vào buổi bình minh. Các võ sư trung niên và trẻ
hiếu thắng thích rượu nhiều và nữ sắc nhiều phải từ từ bỏ bớt thì mới
mau thành. Chớ có liều mạng ỷ sung sức nhờ tập luyện quyền thuật mà có
tinh lực dồi dào đem sức sống đổ biển thì công phu võ học chẳng khác
ngôi nhà sơn tốt mà mối mọt đã đục rệu hết rồi. Bốn mươi, năm mươi mà
chân di không nổi, chống gậy mà lê từng bước một là do tửu sắc dâm ô.
Nghề võ như thế thì chớ nên khua môi có ngày mang hại.

Trên đây là đường thành bại của công phu
luyện tập Bát Đoạn Cẩm Nội Công, học giả khá tựa nương đó hành sự cho
đặng khang an thân thể linh mẫn tinh thần, sống lâu trăm tuổi.

Còn điều xin nói ra cùng chư võ gia quân
tử, như cho đến nay việc biểu diễn thành quả của soạn giả cùng các đệ
tử của soạn giả là điều nhằm nêu lên chứng tích của sự học luyện thành
công để chư quân cùng phấn khởi tinh thần hầu bước mạnh trên đường nghệ
thuật chớ chẳng phải có ý vọng động kia khác.


Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm Tự

Bát Đoạn Cẩm là tám phép
luyện gân thịt và khí lực cho đặng sung mãn, giúp ích sống lâu vui
hưởng cuộc đời. Người có sức khỏe thì giống người đi buôn có vốn, muốn
mua hàng hóa gì cũng tùy nghi. Tập Bát Đoạn Cẩm này trẻ mau lớn, học
giỏi, khôi ngô, mặt mày sáng sủa, lành mạnh tư tưởng. Trung niên tăng
thêm khí lực, phát triển khả năng tổng quát, nhờ đả thông kinh mạch mà
huyết khí sung cường hăng say làm việc, tiến bộ mọi mặt, người có tuổi
thường xuyên luyện tập huyết khí luân chuyển và thay đổi luôn luôn nên
da dẻ hồng hào, gân xương hoạt bát chận đứng tuổi già, yêu đời vui
sống, thật là hạnh phúc lâu dài, các môn thể dục vận động Tây Phương
không có môn nào so sánh được. Vì môn Bát Đoạn Cẩm có công năng hướng
dẫn và thúc đẩy huyết và khí luân chuyển đều khắp trong châu thân nên
tránh khỏi các bệnh tê thấp vì máu thiếu và cứng động mạch khi tuổi
già. Tuổi trẻ tập Bát Đoạn Cẩm thân thể luôn luôn cường kiện, tinh thần
luôn luôn linh mẫn, tuổi già thì thần thái uy nghi mà thân thể thì nhẹ
nhàng tâm hồn khoáng đạt. Các Thiền Sư xưa, các Đạo Gia cổ lúc nào
trông cũng phiêu hối mà người đời thường dùng chữ Tiên Phong Đạo Cốt để chỉ là nhờ tập thường môn học này.

Từ đời xưa cho đến nay có nhiều loại Bát
Đoạn Cẩm được lưu truyền trong mọi giới, đến nổi mỗi người làm mỗi
khác, số động tác cùng cách phép cũng đều sai biệt và số lần tập cũng
khác nhau, đến có khi hơn tám (Bát) đoạn, có khi tới 12 đoạn, 24 đoạn.
Và cách tập tùy lúc đứng, ngồi, nằm v…v…thật là không có phép tắc gì và
cũng chẳng ai giải thích gì về sự hiểu biết của mình trong khi truyền
bá và rèn luyện các môn Bát Đoạn Cẩm đó. Người có kiến thức chút xíu
thì nói là của Tiên gia, v…v.. rồi cũng chẳng thể giải thích được gì
hơn nên cứ ậm ừ trở tránh khi có người hỏi tới. Đa số các bậc thầy chỉ
dạy làm chớ không dạy cho hiểu. Thôi thì hậu sinh chỉ nhắm mắt làm càn
làm đại, tưởng tượng thần thoại lờ mờ mà chẳng hiểu mô tê lợi ích ra
sao. Thương thay.

Kẻ viết sách xưa nay chẳng hơn gì nhau
mấy, thường rắp khuôn sao chép cho có bản, cho có tên mình in trên
sách… đôi khi vì binh danh, đôi lúc vì có tâm hồn “Puôn Pán
mà nhắm mắt làm đùa chẳng chịu tham cứu học hỏi trước khi đặt bút thảo
chương. Việc nầy không riêng trong lãnh vực nghề võ, mà các ngành văn
nghệ khác cũng thế. Phải xét lại hết thảy. Xét luôn cả các văn gia học
giả bên Tàu nữa chớ chẳng phải riêng chi xứ mình, các văn gia cở lớn
của triều đình nhà Thanh cũng làm sách giả bán lấy tiền (thời buổi
cực loạn thì lắm sự hư hoại phát sinh, từ thời Thanh sơ đến Văn Thanh,
nhân dân Trung Quốc sống thời đại loạn còn hơn nước ta bây giờ
) còn thiên hạ thì mặc tình.

Nay học giả đọc sách nầy cần nên hiểu cho
chánh lý là trong bầu trời có hai loại Bát Đoạn Cẩm mà thôi. Một của
Đạo Gia và một của Phật Gia, có thể gọi là hai ngành Bát Đoạn Cẩm cũng
đúng. Môn Bát Đoạn Cẩm của Đạo Gia vì chỗ tự tiện của đạo sĩ và nho sĩ
xu thời đã bày lắm thứ, nhiều môn đặt nhiều bài bản lắm hiệu lắm tên
nhưng chung quy ý vẫn nằm trong hơi thở, tức chủ trương vận dụng khí lực, gọi văn hoa là Đạo Dẫn Thuật hay Vân Khí Thuật. Bài bản lu bù (nhiều) nhưng người hiểu biết thấy rõ chân tánh, người kém cỏi mờ mịt nên khó thể học hành tới nơi tới chốn.

Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm không có nhiều bản cho lắm, đó là nhờ Thiền môn có tổ chức quy mô (trong chùa có nhiều ban nghiên cứu…viết sách, v..v..)
nên lưu truyền được chánh bổn. Nhưng dù thế vẫn thấy được hai loại Bát
Đoạn Cẩm. Loại nào cũng đúng tám đoạn, một loại chủ luyện gân xương và
một loại chủ luyện khí lực. Mỗi loại có chỗ thái quá và thiếu quá. Để
dung hòa cho đặng vẹn toàn, một bản Bát Đoạn Cẩm đầy đủ cả hai phần
Luyện Gân Lực và Khí Lực được trình bày trong sách nầy. Nhờ sự sửa đổi (canh tân)
nầy mà thiền sư và chúng môn đồ võ lâm, nhân loại được toại nguyện trên
đường tu tập. Và bây giờ môn Bát Đoạn Cẩm toàn hảo nầy được truyền bá
rộng rãi trong đại chúng làm nổi danh môn phái Thiếu Lâm ra cùng khắp
Ngũ Đại Châu.

Nhưng mà thế nào là các thế tập Vận Lực và
thế nào là các thế Vận Khí? Điều nầy quí học giả sẽ được thấy và cảm
nhận được ngay trong chương nầy, ở phần kế tiếp liền sau đây. Và để
thưởng thức trước khi đi vào thực luyện, (giống như ta mở mũi hít hơi thơm của món ngon tưởng tượng cho đã cái rồi sau đó mới gắp đồ ăn đưa vào nhai…),
soạn giả xin trình là trong Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm hễ đoạn nào đứng
thẳng đầu gối mà tập thì thế đó dùng luyện khí, đoạn nào đứng tấn Kỵ Mã
mà tập thì dùng luyện Gân. Có vậy thôi, đơn giản thấy rõ, dể hiểu thấy
rõ. Tuy thế, đoạn luyện khí cũng có vận lực phù trợ chớ chẳng phải
tưởng tượng khơi khơi mà được, cũng như khi luyện gân cũng có vận khí
trợ lực. Có sự bổ hợp như thế mới mau thành công, mới có sự liên hoàn
động tác, chuyển động gân xương, thúc đẩy khí huyết, đả thông kinh mạch
tạo dựng một thân thể cường tráng, uy nghi.

Khi hiểu được những điều cần thiết (yếu quyết)
nầy rồi thì không còn lo lắng, ngại ngùng lúc bắt tay vào việc luyện
tập, cũng như chẳng thể có tập luyện mà chẳng có thành công. Hơn nửa
đời soạn giả Cư Sĩ tôi chưa hề một lần làm chuyện gì mà mình chưa thấy
hiểu ý nghĩa của sự việc, thì đối với chư học giả, võ gia, quân tử,
soạn giả vẫn muốn quí vị thực hành theo con đường đó để sớm thành công.
Đó là con đường sự thật, tri tri.

Nay thì chư hiền đã rõ
hiểu lý thuyết của Bát Đoạn Cẩm rồi, vậy xin mời nghiên cứu thực hành
các động tác co duỗi sau để thân thường được mạnh khỏe, trí thường được
thanh thản, hầu tài năng thiên bẩm được đà phát triển tối đa hỗ trợ
đời, đi vào lịch sử…(Ai cũng đi vào lịch sử khi mà mình đã tự biết mình,
ít ra cũng làm nên lịch sử vì mình đã có tích sự trong đời.) Nào, mời
chư học giả thực hành cho biết Đạo vị lành mạnh mà từ cổ xưa không một
ai được tôn vinh là thánh hiền mà không biết đến.




  1. CÁCH LUYỆN TẬP BÁT ĐOẠN CẨM

Như học giả đã biết là
Bát Đoạn Cẩm gồm có tám phép luyện tập, và không nói ai cũng hiểu đều
phải tuần tự tập luyện tuần tự từ phép một cho đến khi hết trong một
buổi tập, theo đúng phương pháp sẽ được giảng tới trong phần thực hành
kế sau.

Nhưng muốn thực hành cho hết tám phép
trong một buổi tập thì trước tiên học giả phải thuần thục từ phép một
theo phép tuần tự nhi tiến (học từ từ theo thứ tự). Việc nầy
không khó, chỉ cần thời gian ngắn là ai cũng thực hành được một cách tự
nhiên. Điều cần chú ý khi thực hành là phải quan tâm làm đúng từ động
tác một của mỗi Đoạn (mỗi đoạn có nhiều động tác) và làm đủ số lần cần
phải lập lại cho mỗi động tác. Khi chấm dứt đoạn thứ nhất thì liền đó
luyện tập đến đoạn thứ nhì sau khi buông tay nghỉ thong thả 3 phút đồng
hồ. (Nếu đã thuần thì thời gian nghỉ chừng một phút đã đủ)
tính ra thong thả mà tập thì người mới mỗi sáng có thể dành khoảng 45
phút để thao luyện và khi đã thuần rồi thời gian luyện tập rút lại còn
20 đến 25 phút là cùng. Số thời giờ ấy rất khiêm nhường so với bất kỳ
môn thể thao vận động nào mà sự thành quả thâu đạt được lại tốt đẹp
vượt bực hơn tất cả.

Khi mới tập thì chú trọng về hình,
nghĩa là sao cho đúng cách theo sách chỉ dẫn từ cách gồng chuyển chân
tay, co vào, duỗi ra, hít thở, trợn mắt ….Muốn được như thế thì nên
treo tấm kiếng (gương) để nhìn cho thấy chỗ sai mà sửa đổi. Nếu có
người cùng tập sửa cho nhau thì càng hay hơn.

Lúc thuần thục chú trọng tới ý, nghĩa là hơi thở được quên đi, động tác xóa bỏ mà chỉ quán tưởng thấy cái dụng ý của mỗi đoạn (ý tứ đó là ý nghĩa của mỗi câu khẩu quyết của mỗi đoạn, xem trong phần thực hành chương nầy.) Bao giờ làm được từ hình thức tới ý thức
thì động tác lưu đi mà tâm như quên như nhớ, huyết mạch cuồn cuộn
chuyển lưu, khí lực rần rần tụ tán trong mỗi co duỗi chân tay…bài tập
trôi mau đến khi chấm dứt thì tự động dừng ấy nhờ Thần.

Học giả tập đến bao giờ được như thế thì
thân tâm trống không, cơ thể nhẹ nhàng vui tươi như trẻ, ăn uống ngon
lành, ngủ nghê khoái lạc, đến như những công việc hàng ngày cho là rối
rắm, mệt nhọc thì nay như đồ chơi và ngày giờ qua mau. Vì biết được
thời giờ qua mau nên không phí thì giờ, do đó thành công hơn đời là như
vậy đó. Không tập không biết, tập rồi biết ngay, việc nầy người ta ví
đường có đi mới biết, chuông có đánh mới kêu. Kẻ lảm biếng thần trí ỉu
lờ, lù đù chậm chạp, ngu ngơ việc đời trăm việc cũng tại không người
hướng dẫn, nếu biết được phương pháp này mà chuyên cần học luyện thì
đời sống đổi khác tức thời, thậm chí đến như tuổi già là cái luật định
của tạo háo mà Bát Đoạn Cẩm còn cản được huống hồ.

Về chỗ (vị trí) để luyện tập thì
không gì tốt hơn nơi yên tĩnh và thoáng khí, không khí trong sạch bao
giờ cũng là thức ăn bổ, là liều thuốc quí cải tạo sinh lực con người.
Do đó có thể chọn một khoảng trống sạch sẽ cao ráo trong vườn (nếu ở
nhà quê), trong sân, hoặc trong phòng nơi có cửa sổ mở thoáng mát ra
hướng khô ráo sạch sẽ (khuông cửa phải lau chùi hết bụi bặm thường
xuyên, nếu ở nhà sàn trên sông, trên thuyền, tàu thì đợi nước lớn không
khí trong sạch mới tập.) Tốt nhất là tập vào mỗi sáng, tập xong đợi
10-15 phút sau tắm nước lạnh chà xát da bằng khăn bong, xơ dừa…. thì
sau đó một ngày đẹp nhất định sẽ đến với chúng ta, vì chung quanh ta ai
cũng là người đáng thương, đáng mến, đời sống thật có nhiều ý nghĩa…

Tóm lại, khởi sự tập Bát Đoạn Cẩm phải:


  1. Thuộc và làm đúng hình thức bên ngoài của từng động tác trong mỗi đoạn.


  1. Khi thuộc Hình rồi phải thuần Ý, là cái mà mỗi khẩu quyết ghi rõ.


  1. Lựa chỗ thoáng, sạch mà tập mỗi buổi bình minh, nếu không tập buổi tối sau bữa cơm hơn 3 giờ đồng hồ.


  1. Tập xong 15 phút sau tắm và chà xát da. Uống một ly nước lọc sạch trước khi tập và sau, ly nhỏ thôi.


  1. TÁM ĐOẠN CỦA BÁT ĐOẠN CẨM

Bát Đoạn Cẩm gồm có 8 đoạn, mỗi đoạn có một mô thức (hình dáng, thể thức) huấn luyện cơ thể khác nhau. Khác nhau từ cử động cho đến thần ý. Vì lẽ Bát Đoạn Cẩm được chế tạo để luyện tập cho đặng hiệu quả trong việc kiến tạo một thân thể cường tráng từ ngoài (Ngoại tráng) và cả bên trong (Nội tráng).
Ngoài ra Bát Đoạn Cẩm còn dung để trị liệu những bệnh trạng yếu nhược
hư hao thường thấy trong mình của người đời. Ví như ai thường ngày hay
uể oải thì tập Bát Đoạn Cẩm sẽ khỏi ngay; ăn uống khó tiêu hóa tập sẽ
hết ngay, hay mệt tập khỏe ngay. Người tập võ công bi nội thương cũng
được trị lành, v..v… nói nhiều không hết.

Tổng quát là Bát Đoạn Cẩm là Tám Phép Thần
dung tập luyện cho cường kiện thể xác minh mẫn tâm thần và ngừa trị,
hoặc trị mọi bệnh chứng thương, lao, cùng bồi bổ các cơ phận quan yếu
giúp người hồi phục sinh lực trong đời sống lao động tiêu hao hàng ngày…

Đây là phép thần, nhưng có tập luyện đúng
thời mới Thần còn như đọc chơi cho biết mà không tập thì Thần cũng
chẳng giúp được mình, giống việc hàng ngày cầu xin cúng kiến cho mình
được phúc, lộc, thọ mà không làm việc gì bó gối ngồi chờ hoặc manh tâm
hung ác, tà gian thì lộc, phúc nào đâu tới với mà thọ cũng giảm dần mau
chóng theo ngày tháng vì cái tâm u ám nó hạ mình. Học giả biết như thế
thì tưởng chẳng cần luận bàn chi cho dài dòng tốn giấy, mà vứt bỏ hết
mọi lý sự bắt tay luyện tập các động tác sau thì trong mấy tháng đã có
sự khởi sắc trong đời sống hàng ngày rồi. Tức là vui rồi, vui rồi cần
gì nói nhiều nữa, mà có nói nhiều cũng lại càng thêm vui. Ấy, thành
công đang chờ quý vị đây. Nào chúng ta hãy tiến tới…

Nhưng muốn tiến tới hãy học cho thuộc lòng Tám Câu “Thần chú” sau để làm lộ phí, hành trang rồi hãy lên đường.
KHẨU QUYẾT BÁT ĐOẠN CẨM:
1. Đệ Nhất Đoạn Cẩm: Lưỡng Thủ Kình Thiên Lý Tam Tiêu (Hai tay chống trời tưởng “tới” Tam Tiêu)
2. Đệ Nhị Đoạn Cẩm: Tả Hữu Khai Cung Tự Xạ Điêu (Trái phải dương cung “như” bắn chim điêu)
3. Đệ Tam Đoạn Cẩm: Điều Lý Tỳ Vị Đơn Cử Thủ (Điều hòa Tỵ vị “một” tay đẩy lên)
4. Đệ Tứ Đoạn Cẩm: Ngũ Lao Thất Thương Vọng Hậu Tiền (Năm Lao Ngũ Thương liếc nhìn “phía”sau)
5. Đệ Ngũ Đoạn Cẩm: Dao Đầu Bài Vĩ Khứ Tâm Hỏa (Lắc đầu vẫy đuôi [1] dứt “bỏ” tính nóng nảy)
6. Đệ Lục Đoạn Cẩm: Bối Hậu Thất Điên Bách Bệnh Tiêu (Sờ xương cùn 7 lần trăm bệnh tiêu)
7. Đệ Thất Đoạn Cẩm: Toàn Quyền Nộ Mục Tăng Khí Lực (Nắm chặt quyền, mắt giận [2] , tăng khí lực)
8. Đệ Bát Đoạn Cẩm: Lưỡng Thủ Phan Túc Cố Thận Eo (Hai tay kéo hai chân bền thận eo)
Chú ý: Chữ nghiêng phiên nghĩa Khẩu quyết Bát Đoạn Cẩm chưa sát nghĩa lắm cần đọc rõ chi tiết mỗi đoạn mới biết được đầy đủ.
[1]Vẫy đuôi: ý nói uốn éo mông đít như con rắn vẫy đuôi
[2]Mắt giận: dịch chữ Nộ mục, ở đây nên hiểu là tập trúng ý lực nơi mắt như giận dữ và nắm quyền đấm ra làm tăng khí lực
....



(trích lược "tự luyện Bát đoạn cẩm" của GS Hangf Thanh)
Về Đầu Trang Go down
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003563
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Niên Sử Thiếu Lâm Tự   5/10/2009, 11:33

Chính Quang sơ (năm 520) :

Đệ tử cả của Bạt Đà đại sư là Tăng Chu lên trụ trì Thiếu Lâm Tự.

Đông Ngụy Thái Bình sơ (năm534-536) :

Bồ Đề Lạt Ma hành hóa ở địa khu Lạc Hà. Sau khi viên tịch được lập bia ở chùa Không Tương thuộc núi Hùng Nhĩ.

Bắc Tề

Càn Minh năm thứ 1 (năm 560):

Tăng Chu viên tịch, có “Chỉ Quan Pháp” hành thế.

Bắc Chu Thừa Quang năm thứ 1 (năm 577):

Chu Võ Đế hạ chiếu hủy Phật pháp, Thiếu Lâm Tự bị phế.

Đại Tượng năm thứ 2 ( năm 580):

Chu Tĩnh Đế hạ chiếu hưng phục Đạo Phật và Đạo Giáo. Thiếu Lâm Tự được khôi phục, đổi tên là Bộ Cô Tự.

Tùy Khai

Hoàng năm thứ 1 ( năm 580) : Khôi phục lại tên của Thiếu Lâm Tự Khai Hoàng trung (năm 581-600):

Tùy Văn Đế cấp trăm mẫu đất Bát Cốc Ô cho Thiếu Lâm Tự

Đại Nghiệp năm thứ 14 (năm 618) :

Thiên
hạ đại loạn. Thiếu Lâm Tự bị sơn tặc quấy nhiễu. Tăng đồ đấu tranh
kháng cự, tháp viện bị hủy hoại, Linh Tháp được bảo vệ và bảo tồn đến
ngày nay.

Đường


Đức năm thứ 4 (năm 621): Ngày 27/4 Thượng tọa Thiên Hộ cùng 13 sư tăng
tấn công thành Hoài Châu, lật đổ Tư Mã Triệu và cháu của Vương Thế Xung
là Vương Nhân Tắc, lập công cho nhà Đường. Ba ngày sau, Lý Thế Dân (vua
Đường) đến Thiếu Lâm Tự ban thưởng cho sư tăng.

Võ Đức năm thứ 5 (năm 622) : Thiếu Lâm Tự bị coi là đất thuộc Trịnh nên bị phế bỏ khỏi Tỉnh.

Võ Đức năm thứ 7 (năm 624) : Sư tăng không đồng ý cắt bỏ khỏi Tỉnh. Đến tháng 7 Thiếu Lâm Tự được đồng ý giữ ở vị trí cũ.

Võ Đức năm thứ 8 ( năm 625) : Tháng 2, cấp lại cho Thiếu Lâm Tự 24 ha đất tại Bách Cốc cùng một hệ thống thủy lợi.

Hàm Hanh trung (năm 670-674) : Cao Tông Tuần thăm Thiếu Lâm Tự, ngự bút viết “Kim Tự Ban Nhược Bia”, lưu tượng cùng thí vật.

Hoằng
Đạo năm thứ 1 ( năm 683) : Thiền Tông đại sư Pháp Như vào Thiếu Lâm Tự.
Ngày 25/9, Võ Tắc Thiên quyên lễ vật, tặng vàng cho Thiếu Lâm Tự, lập
“Đại Đường Thiên Hậu Ngự Chế Nguyện Văn” làm công đức, tưởng nhớ đến
thân mẫu Dương Thị đã khuất.

Tự Thánh năm thứ 1 ( năm 684) : Cao Tông Hồng, Võ Tắc Thiên đến Thiếu Lâm Tự tạo công đức.

Vĩnh Xương năm thứ 1 (năm689) : Pháp Như viên tịch, lập tháp tại phía Đông của chùa.

Khai Nguyên năm thứ 11 (năm 723) : Tháng 11, Huyền Tông ngự thư và đề “Thái Tông Giáo Thư” ban tặng Thiếu Lâm Tự.

Khai Nguyên năm thứ 16 (năm 728) : Ngày 15/7 Thiếu Lâm Tự lập “ Hoàng Đường Tung Nhạc Thiếu Lâm Tự bia”.

Kim

Kim sơ: Trụ trì Tổ Đoạn lập “ Diệu Sắc Na La Diên Kim Cương thần tượng bia”.

Hưng Định năm thứ 4 (năm 1220): Trụ trì Chí Long sáng lập “Dược Cục”.

Nguyên Mông

Xưng Chế năm thứ 1 (năm 1242) : Tào Động Tông Tông sư phái đại đồ đệ Phúc Cốc trụ trì Thiếu Lâm Tự.

Xưng Chế năm thứ 4 (năm 1245) : Phúc Cốc nhận lệnh của Hốt Tất Liệt tổ chức đại hội Tư Giới tại Thiếu Lâm Tự.

Định Tông năm thứ 3 (năm 1248) : Phúc Cốc làm tổng đốc Đô Tăng, thu hồi Phật Tự tổng cộng 237 nơi.

Hiến
Tông năm thứ 8 (năm 1258) : Hốt Tất Liệt cử hành Phật, Đạo tranh tài
biện luận. Phúc Cốc đại sư dẫn đầu tăng giới tham gia tranh tài, Đạo sĩ
thất bại.

Trung
Thống năm thứ 1 (năm 1260) : Phúc Cốc vinh dự được công nhận là “ Quang
Tông Chính Pháp Đại Thiền Sư”, đồng thời trụ trì chùa Đại Vạn Thọ 14
năm. Cùng năm đó chia Kiến Hòa Lâm, Yến Kế, Trường An, Thái Nguyên và
Lạc Dương thành Ngũ Thiếu Lâm.

Chí
Nguyên năm thứ 12 (năm 1275) : Phúc Cốc viên tịch, sách viết có “ Tuyết
Đình Hòa Thượng Ngộ Lục” được lưu truyền trong dân gian.

Hoàng Khánh năm thứ 1 (năm 1312) : Truy phong Phúc Cốc làm Tấn Quốc Công.

Thái
Định năm thứ 4 (năm 1327) : Nhà sư Thiệu Nguyên của Chính Pháp Thiền Tự
nước Nhật Bản đến Trung Hoa. 2 năm sau ông đến Thiếu Lâm Tự và ở đây 21
năm, giữ các chức như thư ký, chủ tọa.

Chí Chính năm thứ 11 (năm 1361): Ngày 26/3, quân khăn đỏ Dĩnh Châu tấn công Thiếu Lâm Tự, Sư Cẩn Na La cùng tăng đồ chế ngự.

Chí Chính năm thứ 21 (năm 1361) : Thiên hạ đại loạn, sư tăng Thiếu Lâm Tự còn lại vẻn vẹn khoảng hơn 20 người.


Minh

Hồng Võ năm thứ 2 (năm 1369) : Tử Nghiêm Thủy trụ trì Thiếu Lâm Tự trong thời gian 13 năm.

Hồng Võ năm thứ 25 (năm 1392) : Lai Phục viết “ Thuần Chuyết Thiền Sư Đạo Hành Chi Bia”.

Hoằng Trị năm thứ 14 (năm 1501) : Phàm Tăng nhận lời mời của Cố Mai làm trụ trì Thiếu Lâm Tự.

Chính Đức năm thứ 5 ( năm 1510) : Văn Tài trụ trì Thiếu Lâm Tự, phụng hành “ Thiền Uyển Thanh Quy”, tổng cộng 12 năm.

Chính
Đức năm thứ 7 (năm 1512) : Nông dân Lưu Thị tại Bá Châu dấy binh, sư
tăng Thiếu Lâm Tự phụng mệnh đi chinh phạt. Vào năm này xây Lập Tuyết
Đình.

Gia
Tĩnh năm thứ 1 (năm 1522) : Tháng 11, Đinh Vương Đường ở mỏ Thanh Châu
– Sơn Đông dấy binh, sư tăng Thiếu Lâm Tự phụng mệnh đi chinh phạt.

Gia Tĩnh năm thứ 27 (năm 1548) : Lập tháp Tam Kỳ Chu Hữu cho võ tăng, thích danh : “ Thiên Hạ Đối Thủ, Giáo Hội Võ Tăng ”.

Gia
Tĩnh năm thứ 31 (1552-1554) : Hơn 30 võ tăng Thiếu Lâm Tự phụng mệnh
xuất chinh dọc miền duyên hải kháng quân xâm lược Nhật, chiến đấu hết
sức anh dũng.

Gia Tĩnh năm thứ 32 ( năm 1553) : Giả Thành Viêm khởi nghĩa, võ tăng Thiếu Lâm Tự phụng mệnh chinh phạt.

Gia Tĩnh năm thứ 32 ( năm 1555) : Huy Vương Phủ xây bia phòng cho Thiếu Lâm Tự.

Gia Tĩnh năm thứ 37 (năm 1558) : Tiểu Sơn trụ trì Thiếu Lâm Tự trong thời gian 8 năm.

Gia
Tĩnh năm thứ 40 (năm 1561) : Danh tướng kháng Nhật Du Đại Du đến thăm
Thiếu Lâm Tự, xem biểu diễn võ nghệ. Sau đó theo học côn pháp Thiếu
Lâm. Gia Tĩnh năm thứ 42 (năm 1563) : Hòa thượng Thiên trúc Biển Đốn
viên tịch. Gia Tĩnh năm thứ 44 (năm 1565) : Con của Trịnh Vương là Chu
Tải Dục lập “ Hỗn Nguyên Tam Giáo Cửu Lưu Đồ” tại Thiếu Lâm Tự.

Long
Khánh (năm 1567-1572) : Trình Tông Du đến Thiếu Lâm Tự học võ, thời
gian gần 10 năm. Cuối đời có tác phẩm “ Thiếu Lâm Côn Pháp Thiền Tông”.


Vạn Lịch năm thứ 2 ( năm 1574) : Thường Nhuận trụ trì Thiếu Lâm Tự.

Vạn Lịch năm thứ 5 ( năm 1625) : Tuần phủ Hà Nam Trình Thiệu xem võ tại Thiếu Lâm Tự, làm thơ “Thiếu Lâm Quán Võ “.

Vạn Lịch năm thứ 16 ( năm 1588) : Xây Thiên Phật Điện, cất trữ Tục Khắc Tàng Kinh do Lý Thái Hậu ban tặng.

Vạn
Lịch năm thứ 37 ( năm 1609) : Vô Ngôn trụ trì Thiếu Lâm Tự trong thời
gian 17 năm. Viên Hồng Đạo du Thiếu Lâm, xem biểu diễn võ thuật.

Vạn
Lịch năm thứ 41 ( năm 1613) : Trần Nguyên Bân (người Hàng Châu) nhập
Thiếu Lâm Tự học võ. Năm 1683 đến Nhật Bản truyền dạy Thiếu Lâm côn
pháp.

Vạn Lịch năm thứ 47 (năm 1619) : Đề cử vị đô, có công trong những lần chinh chiến, lập tháp cho Tông Võ.

Sùng Trinh năm thứ 11 ( năm 1638) : Nông dân Lý Tế Ngu tại Đăng Phong khởi nghĩa.

Sùng
Trinh năm thứ 14 (năm 1641) : Mùa Đông, Lý Tự Thành đưa quân vào Hà
Nam. Quân của Lý Tế Ngu hợp với quân của Lý Tự Thành cùng tấn công
huyện thành Đăng Phong.

Thanh

Thuận Trị năm thứ 13 (năm 1656): Hải Khoan trụ trì Thiếu Lâm Tự (Trụ trì đầu tiên đời nhà Thanh).

Khang
Hy năm thứ 43 ( năm 1704) : Thánh Tổ ngự thư “Bảo Thụ Phương Liên” và “
Thiếu Lâm Tự “ (Chữ ‘Thiếu Lâm Tự” trước cổng sơn môn ngày nay).

Ung
Chính năm thứ 13 (năm 1735) : Thế Tông ban lệnh trùng tu Thiếu Lâm Tự,
chỉnh đốn lại cửa chính Thiếu Lâm Tự. Đầu năm Càn Long, tổng đốc Sơn
Đông , tuần phủ Hà Nam Vương Sĩ Tuấn thực hiện việc trùng tu, chi phí
gần chín ngàn lượng bạc.

Càn
Long năm thứ 5 (năm 1740) : Tuần phủ Hà Nam Nhã Nhĩ Đồ thượng tấu “
Thiếu Lâm võ tăng nổi tiếng là do việc dạy quyền pháp, côn thuật”.

Càn
Long năm thứ 12 ( năm 1747) : Thí Khiết Tán, Tiêu Như Hoành biên soạn “
Thiếu Lâm Tự chí” gồm 4 quyển, hơn 50.000 chữ Càn Long năm thứ 15 ( năm
1750) : Ngày 30/9 Cao Tông đến Thiếu Lâm Tự, đề thư, đêm tá túc tại
phòng của phương trượng.

Đạo
Quang năm thứ 8 (năm 1828) : Đạo viên Hà Nam Lân Khánh thay mặt tuần
phủ Dương Hải Lương thăm Thiếu Lâm Tự, dự xem võ tăng dạy quyền.

Đạo
Quang năm thứ 30 (năm 1850) : Chiến tranh nha phiến kết thúc. Quân
chính phủ trang bị súng phóng hỏa.Võ thuật phổ biến, dân gian hóa. Chức
năng võ thuật đối với tầng lớp thượng tầng xã hội chuyển sang rèn luyện
sức khỏe.

Hàm
Phong năm thứ 4 ( năm 1854) : Vương Tổ Nguyên đến Thiếu Lâm Tự học “
Dịch Cân Kinh”, cuối đời có tác phẩm “ Nội Công Đồ Thuyết”.

Đồng Trị năm thứ 1 (năm 1862) : Dẫn quân Tây chinh, tháng 3 và tháng 9 hai lần qua Đăng Phong.

Trung Hoa Dân Quốc

Dân
Quốc năm thứ 1 (1911-1920) : Thế cục động loạn, thổ phỉ dấy binh. Thiếu
Lâm Tự mua và trang bị súng phóng hỏa, đồng thời thành lập bảo vệ đoàn,
hòa thượng Hằng Lâm làm Đoàn trưởng.

Dân
Quốc năm thứ 4 (năm 1915) : Bộ giáo dục Chính phủ Dân quốc ra thông
lệnh võ thuật là một môn được dạy ở trường học theo kiểu Tây phương.

Dân Quốc năm thứ 5 ( năm 1916) : Vương Vân Hoa trùng tu Cẩn Na La thần điện.

Dân Quốc năm thứ 12 (năm 1923) : Hằng Lâm viên tịch, đệ tử Diệu Hưng kế nhiệm.

Dân Quốc năm thứ 16 ( năm 1927) : Diệu Hưng dẫn đoàn đến Vũ Dương giao chiến với Nhậm Ứng Ba và hy sinh, bảo vệ Đoàn tứ tán.

Dân
Quốc năm thứ 17 ( năm 1928) : Ngày 15/3 quân Dân Quốc do Thạch Hữu Tam
cầm đầu hỏa thiêu Thiếu Lâm Tự. Thiên Vương Điện, Đại Hùng Điện, Chuông
lầu, Tàng Kinh Lầu, bản gỗ “ Thiếu Lâm Tự Chí “ và Tượng đá khắc thời
Bắc Triều bị hủy hoại nặng.

Dân
Quốc năm thứ 17 ( năm 1928) : Chính phủ Dân Quốc cho thành lập Trung
Ương Quốc Thuật Quán, phân cấp : Tỉnh, Thị, Huyện, Quán (xã). Rất nhiều
quyền sư đến nhậm giáo để thực hiện “ Tông chỉ toàn dân rèn luyện sức
khỏe”. Ngoài ra còn cho tiến hành thi Võ khoa, thi đấu võ thuật toàn
quốc, võ thuật thi đấu bắt đầu được tiêu chuẩn hóa.

Dân Quốc năm thứ 20 ( năm 1930) : Nhà nghiên cứu võ thuật Đường Hào xuất bản “ Thiếu Lâm Võ Đang khảo”.

Dân Quốc năm thứ 35 ( năm 1946) Nước CHND Trung Hoa

Năm 1951: Lần đầu tiên Nhà nước tiến hành trùng tu Thiếu Lâm Tự

Năm
1958: Ủy ban TDTT Nhà nước Trung Quốc cử nhân sự đến Thiếu Lâm Tự để
phối hợp khai thác, chỉnh lý kungfu Thiếu Lâm. Cùng năm huyện Đăng
Phong trường võ Thiếu Lâm đầu tiên được thành lập, võ tăng Đức Căn của
Thiếu Lâm Tự chịu trách nhiệm làm

Năm
1974: Nhà nước Trung Quốc lần đầu tiên tu chỉnh Thiếu Lâm tự với quy mô
lớn, Thiếu Lâm Tự mở cửa đối với mọi người dân trong nước.

Tháng 4/1979 Năm 1979: Liên Minh Quyền Pháp Thiếu Lâm Tự Nhật Bản đến Thiếu Lâm Tự qui Tông triều Thánh.

Năm 1982: Kungfu Thiếu Lâm được coi là một bộ phận cấu thành nên văn hóa truyền thống của Trung Quốc

Tháng
7/1985: Bộ phim “Thiếu Lâm Tự” được trình chiếu, tạo nên làn sóng học
tập và thưởng thức võ thuật Thiếu Lâm rộng khắp trong và ngoài nước
Trung Quốc.

Tháng 12/1987: Thành lập Hội nghiên cứu quyền pháp Thiếu Lâm

Tháng 6/1989: Thành lập Đội võ thuật Thiếu Lâm, sau đó đổi tên thành Đoàn võ tăng Thiếu Lâm Tự

Tháng
6/1993: Đoàn võ tăng Thiếu Lâm Tự biểu diễn tại Tỉnh đảo Hải Nam, võ
thuật (wushu) chính thức trở thành một hạng mục thi đấu tại Á vận hội.

Trụ
trì Thiếu Lâm Tự - Hoà thượng Thích Vĩnh Tín dẫn Đoàn võ tăng Thiếu Lâm
Tự đến biểu diễn tại Đài Loan, được nhân dân tán thưởng nhiệt liệt
(Theo Phật Việt)


Được sửa bởi huebat ngày 5/10/2009, 11:37; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003563
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Các môn phái Thiếu Lâm ở Sài Gòn - Chợ Lớn (Phần 1)   5/10/2009, 11:34

Các môn phái Thiếu Lâm ở Sài Gòn - Chợ Lớn (Phần 1)



Hiện
nay ở vùng Chợ Lớn (TP. Hồ Chí Minh) tập trung khá nhiều môn phái võ cổ
truyền Trung Hoa, như: Hồng Gia, Châu Gia, Bạch Mi, Thái Lý Phật, võ
Đang, Thái Cực Đường Lang..., tựu trung đều có xuất xứ từ Thiếu Lâm,
sinh hoạt nhộn nhịp, sôi động cùng với các đội Lân, Sư, Rồng... biểu
hiện qua các đợt lễ hội, Tết Nguyên đán...Tìm hiểu về hoạt động của
"thế giới võ Tàu" này cũng là điều lý thú.






1. THÁI CỰC ĐƯỜNG LANG

Đây
là môn phái khá danh tiếng trong những thập niên qua. Tổ sư của môn
phái này là Vương Lang, một con người nhỏ bé, nhưng rắn chắc. Cũng
giống như các đồng liêu khác, Vương Lang theo học võ ở Thiếu Lâm Tự.
Tại chùa này, mỗi năm đều tổ chức "đả lôi đài" để cho tất cả môn sinh
có dịp tỉ thí, so tài cao thấp, đồng thời cổ vũ cho phong trào. Xui cho
Vương Lang, năm nào cũng thua. Buồn quá, ông vác kiếm vào rừng nằm
nghỉ, đang mơ màng bên gốc cây, ông bỗng nghe tiếng ve kêu và thấy con
ngựa trời đang đánh nhau với con ve ấy. Theo dõi từng động tác của con
ngựa trời, ông mới nghiên cứu thủ pháp của nó, nhưng chưa có bộ pháp,
ông nghiên cứu tiếp về cách chạy nhảy, leo trèo của con khỉ mà lập
thành hệ bộ pháp. Tổng hợp lại, ông có được bộ pháp, thủ pháp, rồi khổ
luyện, năm sau ông dùng môn võ mới sáng chế này đánh thắng hết. Sư phụ
nghe ông kể chuyện, tấm tắc khen ngợi. Đó là thời đại cuối đời Minh.
Bởi vậy, Đường Lang có nghĩa là "con ngựa trời"- một môn phái mới trong
trang sử Thiếu Lâm. Đường Lang đến Việt Nam vào cuối năm 1951, qua ông Triệu Trúc Khê.




Triệu
Trúc Khê mồ côi khi lên 6 tuổi, được người cô làm nghề vá thuê quần áo
ở Sơn Đông, đem về nhà nuôi dạy. Một hôm, có vị hoà thượng ở trên núi
xuống mua sắm thức ăn, đã để ý đến cậu bé Khê và thương lượng với bà cô
mang cậu bé lên núi truyền dạy kinh và võ công. Hai mươi năm sau, người
cậu ở Sơn Đông- đang hành nghề bảo tiêu viết thư cho Triệu Trúc Khê,
gọi về làm bảo tiêu. Vào Bảo tiêu cục, ông Khê phải thi võ và nhờ tài
nghệ cao cường ông đã vượt lên trên tất cả mọi người, được cử làm đội
trưởng, lúc nào bên mình cũng có "phi đà" (đầu có cục tạ tròn, dài 10m)
làm vũ khí đi đường.




Ông qua Việt Nam và đến Sài Gòn vào cuối năm 1951, chính thức mở lớp dạy võ tại câu lạc bộ Tinh Võ (quận 5) đầu năm 1952. Môn võ mới này có tên là: "THÁI CỰC ĐƯỜNG LANG". Tại sao lại có thêm "Thái cực" vào đây? Số là trong một lần hộ tống bảo tiêu trở về, đi ngang núi Đại Cổ Sơn, ông gặp một vị đạo trưởng tuổi đã 90, rất giỏi Thái Cực tên là Trương Vạn Thu- cháu đời thứ 11 của tổ sư Trương Tam
Phong thấy Triệu Trúc Khê là một thanh niên khỏe mạnh, tuấn tú, mới
truyền lại cho ông Thái cực quyền, Thái cực kiếm, Thái cực đaoo và Thái
cực chưởng. Khi xuống núi Triệu Trúc Khê lại gặp 2 cao thủ Đường Lang tên là Trì Thủ Kính và Nhậm Phụng Nhuệ. Sau khi xem biểu diễn, ông thấy võ Đường Lang nhanh lẹ, biến hoá diệu kỳ nên chấp nhận bái kiến sư phụ.




Ông Triệu Trúc Khê- đời thứ 7- dạy võ "Thái cực Đường Lang" ở Sài Gòn cho đến năm 1969 thì về lại Hồng Kông, giao quyền cho ông Tạ Xy Vinh. Ông qua
đời ngày 24.6.1991 (âm lịch), thọ 93 tuổi (đúng vào ngày giỗ tổ môn
phái). Hiện nay ở TP. Hồ Chí Minh chỉ còn lại 2 đệ tử: Trần Minh và
Trần Tòng Bá, thuộc hàng "thập nhị thái bảo", tức là 12 vị đệ tử nhập
thất.




Môn
"Thái cực Đường Lang" có thể chia làm 2 phần: Thái cực có 5 bài quyền
và 1 bài kiếm, binh khí có 25 bài, người lớn tuổi tập rất thích hợp.
Đường Lang có khoảng 40 bài, xuất quyền nhanh, mạnh, phù hợp với lớp
trẻ. Hiện nay môn "Thái cực Đường Lang" truyền bá rộng rãi trong vùng
Chợ Lớn, trước hết có võ đường Trần Minh (khoảng 50 môn sinh), đến chùa
ông Bổn (80 người, từ 13 đến 75 tuổi, 2/3 nữ tập Thái cực), chùa Tam
Sơn, nhà thờ Cha Tam, nhà Văn hoá Quận 5...




2. THÁI CỰC QUYỀN VÕ ĐANG

Tổ
sư của môn phái là Trương - Tam Phong (đời nhà Minh) ở núi Võ Đang (bắc
Trung Hoa), sau này có nhiều chi phái nổi tiếng như: Vương gia, Ngô
gia, Trịnh gia, Đặng gia, nhưng vang danh nhất là Vương
Đình Phổ (phổ biến rộng rãi). Những bài võ đặc trưng của môn phái gồm
có: Mai hoa quyền (3 bài) thiên về nhu, Hắc Hổ (2 bài) thiên về cương,
Trương Quyền có nhu, cương, thủ, tấn, nhưng độc đáo nhất là kiếm, trong
đó có 2 bài hay nhất: Thanh long kiếm và Phi long kiếm. Môn sinh phải
học 3 năm về quyền rồi mới đến binh khí.




Môn
"Thái cực quyền Võ Đang" hiện đang được truyền dạy ở các tụ điểm: câu
lạc bộ Lê Hồng Phong, công viên Văn Lang, Tao Đàn, do ông Tăng Phước
Dân đảm trách, sau khi thấy Tạ Nam-đã 83 tuổi - lui vào ẩn dật.




3. THIẾU LÂM CHÂU GIA

Châu
gia có nghĩa là gia phái thuộc họ Châu (từ thời nhà Thanh).Lúc mới sáng
lập gọi là Châu gia ngũ hổ, gồm có: Châu Long (anh trai), Châu Biêu,
Châu Hải, Châu Điền và Châu Hiệp. Môn phái này hiện đang hoạt động dưới
danh nghĩa các đội Lân như: Thanh Nghĩa đương, Công Tín đường, Nhơn
Nghĩa đường...; trong đó Nhơn Nghĩa đường có lực lượng huấn luyện viên,
võ sinh khá đông, làm nòng cốt cho đội Lân, Sư, Rồng, Nhơn Nghĩa đường
thường xuyên biểu diễn trong những ngày lễ hội, tết...rất được nhiều
khán giả hậm mộ.




Môn
phái "Thiếu Lâm Châu gia" có 36 bài quyền (có 8 bài thuộc Bắc phái),
trong đó nổi tiếng nhất có: La Hán quyền, Phục hổ quyền (gồm Đại Phục
Hổ và Tiểu Phục Hổ). Ngoài ra còn có 10 bài quyền dựa theo "thập đại
hình tượng": long, xà, hổ, báo, hạc, sư, tượng, mã, hầu và kê. Các môn
sinh học theo từng cấp bậc: sơ cấp, trung cấp, cao cấp, trợ giáo và
giáo luyện (cấp sư phụ), học khoảng 4-5 năm thì hết chương trình. Học
quyền trước, sau đến binh khí (thập bát ban), rồi nội công. Tập nội
công phải bắt đầu từ lúc 6-7 tuổi thì mới có cơ thành đạt, gồm có: động
công như Ngũ cầm hý, Dịch cân kinh, định công thì đứng tấn, ngồi thiền,
trồng chuối. Võ đường Nhơn nghĩa sẽ luyện thêm các ngón nội công như:
bàn tay, chân tựa trên dao bén, đặt tảng đá trên lưng lấy búa tạ đập,
dùng đầu đập vỡ 2 cây nước đá (loại 50kg)...chắc chắn sẽ làm người ta
xem hài lòng và thán phục.


(Theo STVT)
Về Đầu Trang Go down
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003563
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: ~Võ Thuật Thiếu Lâm Tự~   5/10/2009, 11:34



Các môn phái Thiếu Lâm ở Sài Gòn - Chợ Lớn (Phần 2)



Hiện
nay ở vùng Chợ Lớn (TP. Hồ Chí Minh) tập trung khá nhiều môn phái võ cổ
truyền Trung Hoa, như: Hồng Gia, Châu Gia, Bạch Mi, Thái Lý Phật, võ
Đang, Thái Cực Đường Lang..., tựu trung đều có xuất xứ từ Thiếu Lâm,
sinh hoạt nhộn nhịp, sôi động cùng với các đội Lân, Sư, Rồng... biểu
hiện qua các đợt lễ hội, Tết Nguyên đán...Tìm hiểu về hoạt động của
"thế giới võ Tàu" này cũng là điều lý thú.





4.THÁI LÝ PHẬT

Thái
Lý Phật bao gồm: Thái gia, Lý gia và Phật gia. Ông Trần Hưởng Công- cận
vệ của Lâm Tác Từ, tổng đốc Lưỡng quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) -từng
theo học võ các nhà sư: Thái Phúc, Lý Hữu Sơn và Ngũ Kinh Tăng (biệt
hiệu là Thanh Thảo thiền sư), khi xuống núi thì bắt đầu truyền bá được
các tuyệt kỹ đã học được, gọi chung tên là: "Thiếu Lâm Thái Lý Phật"
(hai ông họ Lý và họ Thái đã hoàn tục, riêng Thanh Thảo thiền sư, khi
xuống núi thì về ẩn cư tại Bát Bài Sơn, Quảng Tây). Tuyệt kỹ của từng
môn có thể thu gồm trong mấy chữ: Tahái gia mã, Lý gia quyền, Phật gia
chưởng, mỗi "nhà" đều có những bài đặc trưng.




Môn
"Thái Lý Phật" đến Việt Nam năm 1930, qua ông Trần Nhất Minh (về sau có
thêm ông Đặng Văn Thành). Sau một thời gian dạy riêng tại các tư gia,
ông Trần Nhất Minh bắt đầu mở võ đường ở đường Lý Thàn Nguyên (nay là
Đỗ Ngọc Thạch, Quận 11) năm 1939. Ông qua đời cách đây 8 năm, thọ 81
tuổi. Ông Đường Chấn Quang, 65 tuổi, lên nắm quyền chưởng môn. Riêng
ông Đặng Văn Thành, 79 tuổi, từ trước tới giờ chỉ dạy võ tại tại gia và
thành lập đội Lân mang tên Thắng Nghĩa đường năm 1978. Hiện nay đội Lân
Thắng Nghĩa đường có 70 thành viên (mỗi năm đều có tuyển thêm người
mới) mà chủ chốt là gia đình anh em Huỳnh Chí Lợi, Huỳnh Chí Dân (đội
phó phụ trách võ thuật) điều hành.




Từ
sau giải phóng, môn phái Thái Lý Phật "đóng trụ" tại câu lạc bộ Lệ Chí
(Quận 5), đến nay hàng đêm mỗi lớp có khoảng 50 môn sinh tập luyện,
dưới sự dẫn dắt của 5 huấn luyện viên. Võ Thiếu Lâm không có đai cấp mà
do công phu, khổ luyện của người từng người học lên cao dần- càng lên
cao càng khó mà mất nhiều thời gian hơn. Môn "Thái Lý Phật" đặc trưng ở
tập mã bọ (tức là tập sức chân như: cước pháp, mã pháp), thủ pháp (gồm:
thập đại thủ pháp) với "xuyên náo cầm nã", "trường kiều đại mã", ra đòn
nhanh chuẩn xác và có lực. Phần sơ cấp có các bài tiêu biểu như: Bạch
mao quyền, Thiết tiễn quyền, Mai hoa quyền, trung cấp có: Tứ bình
quyền, Thập tự quyền, cao cấp có: Ngũ hình quyền, Thập hình quyền, Hạc
hinh quyền, Xà hình quyền, La Hán phục hổ quyền, Tuý tử bát tiên.Thập
bát ban (binh khí) có: Diễn tiên, cây quải (song long quải), song kim
giản...




5. NGA MI

Thời
nhà Thanh, có 5 huynh đệ Thiếu Lâm hạ sơn, đó là: Lý Bá Sơn (biệt hiệu
Bạch Mi đạo nhân), Ngũ Mai sư cô (Phái Bạch Hạc, Vịnh Xuân), Phùng Đạo
Đức (Võ Đang), Miêu Hiền, Hoà thượng Chí Thiện. Riêng Tân Uyên chưởng
lão vẫn còn trên núi.




Năm
huynh đệ (về sau người đời gọi là Thiếu Lâm ngũ tổ) mỗi người đi một
ngả (chỉ riêng Miêu Hiền là mai danh ẩn tích), còn Bạch Mi đạo nhân thì
đến Nga Mi Sơn hùng cứ, thành lập môn Phái Nga Mi, truyền dạy cho một
số đệ tử ngoài đời.




Còn
ở Việt Nam, môn phái này được ông Tăng Huệ truyền bá từ 1948 đường
Phùng Hưng, Quận 5, quy tụ được vài trăm môn sinh, trong đó có ông
Triệu Di Vân, hiện nay còn tiếp tục truyền bá môn võ này tại trường
Chánh Nghĩa (chùa Ông, đường Nguyễn Trãi, Quận 5). Môn phái "Nga Mi"
chủ yếu sử dụng sức của địch thủ, nên ra đòn rất lanh lẹ, với đặc trưng
"mã hậu", "kinh lực", nổi tiếng về các bài quyền: Tứ mã liên hoàn (Ngàn
kiều, Ngàn mã), Thạch sư...




6. THIẾU LÂM HỒNG GIA

Tổ
sư của phái Thiếu Lâm Hồng Gia là Hồng Hy Quang, ra đời vào đầu nhà
Thanh. Môn phái Thiếu Lâm Hồng Gia phát triển ở vùng Chợ Lớn lại có
lịch sử gắn bó với ngành thuộc da, do ông Huỳnh Thuận Quý từ Trung Hoa
đem đến Việt Nam vào đầu thế kỷ này. Ông Quý đã trở về Hồng Kông năm
1968 và qua đời ở đó vào năm 1973. Cũng chính trong năm 1973 này, ông
Huỳnh Kiều, người đã thọ giáo ông Huỳnh Thuận Quý, năm nay 65 tuổi
chính thức mở võ đường Thiếu Lâm Hồng Gia tại "tổng hành dinh" của anh
em công nhân thuộc da, tức trụ sở Nghiệp Đoàn công nhân thuộc da, tại
số 27 Âu Cơ, phường 14, quận 11 bây giờ, đồng thời cũng ra đời đội Lân
Liêm Nghĩa Đường, hiện nay có đến 100 thành viên.




Thiếu
Lâm Hồng Gia nổi tiếng với các bài Tam tuyển quyền, Mai Hoa quyền, Bát
quái côn, Song yếu đao, Thanh long đao, Thập tự mai hoa thương. Lớp võ
(tập mỗi tối từ 19h đến 21 giờ) hiện nay vẫn do ông Huỳnh Kiều quản lý,
với sự trợ giúp của các ông Hứa Bỉnh, Lý Quốc Cường, Lưu Đao... Các võ
sinh hoặc hội viên chỉ đóng nguyệt liễm 3.000đ/ tháng, và huấn luyện
viên cũng chỉ nhận lương tượng trưng. Chủ yếu họ làm việc thiện.


(Theo STVT)
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: ~Võ Thuật Thiếu Lâm Tự~   

Về Đầu Trang Go down
 
~Võ Thuật Thiếu Lâm Tự~
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Cung cấp máy móc,phụ tùng ,thiết bị thay thế máy thủy , ca nô...
» Từ vựng tiếng Anh chuyên ngành về trang thiết bị và các dụng cụ lao động trên boong.
» Công ty thiết bị máy móc tàu thuỷ Sài Gòn
» Động lực học tàu thủy
» Thiết bị trên boong

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Võ Thuật, Y Thuật-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | www.sosblogs.com