WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:28

Không rõ

Xứ Phật huyền bí


Phương pháp Môn Kriyâ Yoga






Môn
Kriyâ Yoga, thường được đề cập đến trong quyển sách này, đã từng được
phổ biến rộng rãi ở xứ Ấn Độ nhờ bởi đức Lahiri Mahâsaya, vị tôn sư của
thầy tôi. Danh từ Kriyâ do Phạm Ngữ Kri, có nghĩa là hành động, và cùng
một gốc rễ với danh từ Karma, nguyên lý tự nhiên về nhân quả. Kriyâ
Yoga có nghĩa là "Hợp nhất với đấng Vô Cùng do sự trung gian của một
nghi thức hay hành động". Người Yogi thực hành đúng đắn pháp môn này sẽ
lần lần tự giải thoát khỏi sự trói buộc của nghiệp quả.
Theo một
nguyên tắc cổ xưa có tự nghìn đời về trước, tôi không thể tiết lộ trọn
cả pháp môn Kriyâ Yoga trong một quyển sách dành cho đại chúng. Chỉ có
người đạo sĩ Kriyâ Yogi mới có thẩm quyền truyền dạy pháp môn này, mà
tôi sẽ trình bày dưới những nét đại cương.
Pháp môn Kriyâ Yoga là
một phương pháp giản dị về cả hai mặt tâm linh và thể chất, giúp cho
con người bài tiết chất thán khí của cơ thể ra ngoài và tiếp thêm dưỡng
khí vào máu. Những nguyên tử dưỡng khí phụ trội sẽ chuyển thành một
luồng sinh khí phục hồi sinh lực cho bộ phận kinh tủy não. Bác sĩ
George W. Crile, nhà Bác học Mỹ nổi tiếng, năm 1940 có trình bày trong
một phiên họp của Hội Phát Triển Khoa Học Mỹ, những cuộc thí nghiệm đã
giúp cho ông chứng minh rằng tất cả những tế bào trong cơ thể con người
đều chứa âm điện, trừ ra những tế bào của óc và thần kinh hệ chứa dương
điện bởi vì những tế bào này tiêu thụ chất dưỡng khí mau lẹ hơn.)
Người
Yogi có thể trì hoãn, hoặc ngăn ngừa sự già cỗi của các tế bào bằng
cách ngăn chặn sự tích tục của máu đen, những nhà đạo sĩ tiến hóa cao
có thể thay đổi các tế bào của họ thành chất tinh lực thuần túy. Elie,
Jesus, Kabir và các nhà tiên tri khác đều biết rõ pháp môn Kriyâ hay
một pháp môn tương tự có thể giúp các ngài biến thể hay tàng hình tùy
theo ý muốn.
Kriya Yoga là một pháp môn rất cổ, mà Lahiri Mahâsaya
đã thụ giáo của tôn sư Babâji, vị này đã phát hiện và chấn chỉnh lại
pháp môn ấy sau nhiều thế kỷ bị đắm chìm trong quên lãng. Babâji đã nói
với Lahiri Mahâysaya.
- Pháp môn Kriyâ Yoga mà Thầy dùng con làm
trung gian để truyền bá cho đời vào giữa thế kỷ mười chín này, chính là
cái pháp môn mà cách đây nhiều ngàn năm, đức Krishna đã truyền dạy cho
Arjuna. Đạo sư Phantanjali, đấng Christ, tháng Jean, tháng Paul và
những vị thánh tông đồ khác cũng đã từng biết rõ pháp môn ấy. Krishna,
đấng tiên tri lớn nhất Ấn Độ, đã đề cập đến pháp môn Kriyâ Yoga trong
một câu thánh kinh Byhagavad gita: "Những người khác vận chuyển luồng
sinh khí bằng cách điều chỉnh hơi thở ra hít vào, và tập luyện phép khí
công Pranâyama".
Câu ấy có nghĩa là: "Người Yogi ngăn chận sự già
nua của thể xác bằng cách tiếp thêm luồn sinh khí, và ngăn sự trưởng
thành bằng phương tiện bài tiết. Bằng cách hóa giải sự già nua và
trưởng thành của thể xác, và điều hòa nhịp độ của quả tim, người Yogi
nắm vững cái bí quyết của vấn đề sanh tử".
Krishna cũng nói rằng
trong một tiền kiếp, ngài đã truyền dạy pháp môn Yoga bất tử này cho
Vivasvat, bật giác ngộ của thời đại cổ, việc này truyền lại cho đức
Manu, nhà sáng lập nên luật pháp Ấn Độ. Đức Manu truyền lại cho Ixvâku,
nhà sáng lập nên triều đại vương tướng của Ấn Độ. Được truyền khẩu từ
thể kỷ này qua thế kỷ khác, pháp môn Yoga này được các đấng chân Sư gìn
giữ trải qua thời gian cho đến kỷ nguyên duy vật. Nhưng vì các vị tăng
lữ thời xưa bao trùm nó trong một bức màn bí mật và cũng do bởi sự thản
nhiên của người đời, nên rốt cuộc khoa pháp môn Thiên liêng này đã lần
lần biến mất.
Đạo sư Pâtanjali viết như sau: "Pháp môn Kriyâ Yoga
gồm có: Kỷ luật của xác thân, kiểm soát tư tưởng, và tham thiền về
thánh ngữ AUM". Pâtanjali cho rằng Thượng Đế, tức là sự rung động trong
vũ trụ của tháng ngữ AUM mà người hành giả nghe được trong cơn tham
thiền. AUM tức là danh từ sáng tạo, là tiếng động cơ của vũ trụ. Người
hành giả tu luyện Yoga sẽ có lúc nghe được âm thanh văng vẳng của thánh
ngữ AUM vang lên từ chỗ sâu thẳm của nội tâm mình. Trong khi y nhận
được một sự khích lệ tâm linh như thế, người hành giả biết rằng y đã
tiếp xúc với cõi thiêng liêng.
Trong trạng thái tiếp xúc sơ khởi
với Thiêng Liêng như vừa kể trên (Savikalpa Samâdkhi), tâm thức của
người hành giả đắm chìm trong tâm thức của vũ trụ, nguyền sinh lực
thoát ra khỏi xác thân y, làm cho xác thân y có vẻ như chết, cứng đơ,
bất động. Người Yogi hoàn toàn ý thức được sự sống chậm lại của thể xác
y. Khi y đạt tới trạng thái cao siêu hơn (Nirvikalpa samâdlhi), tâm
thức của y hòa hợp với Thiêng Liêng trong khi y vẫn tỉnh táo và hoàn
toàn ý thức được mọi việc xảy ra chung quanh mình.
Sri Yukteswar giảng giải cho các đệ tử như sau:
-
Pháp môn Kriyâ Yôga là một phương pháp hối thúc sự tiến hóa của con
người. Từ thời cở xưa, các nhà đạo sĩ Yogi đã khám phá ra điều bí mật
này, là tâm thức vũ trụ được nối liền chặt chẽ với sực kiểm soát hơi
thở, đó là sự góp phần bất hủ và độc đáo của Ấn Độ vào cái kho tàng
kiến thức của nhân loại. Nguồn sinh lực của con người, lúc bình thường
bị hao tán do bởi sự náo động hằng ngày, phải được gom lại để dùng
trong những hoạt động tâm linh cao siêu hơn bằng cách thực hiện hành
pháp Yoga làm lắng dịu nhịp độ của hơi thở.
Người Yogi dùng tư
tưởng dẫn luồng sinh lực đi theo một đường vòng xuyên qua sáu bí huyệt
của tủy xương sống (từ bí huyệt trên đỉnh đầu xuống các bí huyệt ở
cuống họng, ở tim, ở rún, ở lá lách và xương mông), rồi đi ngược trở
lên, để khép một vòng tròn tương đương với mười hai cung Hoàng Đạo,
tượng trưng vũ trụ trong con người (Tiểu thiên địa). Một lần công phu
chừng nửa phút đồng hồ vòng quanh xương sống theo pháp môn kriyâ, giúp
cho con người thực hiện một sự tiến bộ bằng một năm tiến hóa tâm linh
thông thường.
Một lần phép công phu Kriyâ thực hiện trong vòng một
ngày đem đến cho người Yogi một sự tiến hóa tâm linh tương đương với
một ngàn năm tiến hóa tự nhiên, và công phụ của một năm tu luyện sẽ đưa
kết quả bằng ba trăm sáu mươi lăm ngàn năm. Như thế, pháp môn Kriyâ
Yoga giúp cho người hành giả thực hiện trong ba năm tu luyện công phu,
một sự tiến bộ vượt bực mà theo đà tiến hóa tự nhiên, nó phải cần đến
mười ngàn thế kỷ. Tuy nhiên, muốn theo con đường tắt của pháp môn Kriyâ
Yoga, chỉ có những người Yogi đã được huấn luyện thuần thục dưới sự chỉ
dẫn của các vị chân sư, nhờ đó học chuẩn bị thể xác lẫn tinh thần đến
mức tuyệt đỉnh, khả dĩ tiếp nhận cái quyền năng pháp triển bằng sự công
phu tu luyện thường xuyên.



Người sơ cơ mới tập luyện
pháp môn Kriyâ chi nên tu luyện từ mười bốn đến hai mươi tám lần vào
mỗi thời công phu, mỗi ngày hai thời. Thường thì các nhà đạp sĩ Yogi
chỉ hoàn tất cong phu tu luyện của học trong sáu năm, mười hai năm, hai
mươi bốn năm, hay bốn mươi tám năm. Người Yogi chết trước khi đạt được
mục đích tối cao sẽ đem theo một căn quả tốt do nơi công phu tu luyện
trong quá khứ, và trong kiếp sau, y sẽ có điều kiện tốt để tiếp tục tu
luyện cho đến lúc thành công.
Thể xác của một người thường cũng ví
như một ngọn đèn năm mươi Watt, không thể chịu nổi một điện thế một
triệu volt gây ra bởi sự thực hành quá mức pháp mô Kriyâ Yôga. Sự gia
tăng một cách tuần tự và hợp lý số lượng công phu Kriyâ sẽ từ từ thay
đổi xác thân đến mức có thể chịu đựng nổi luồng thần lực mãnh mẽ của vũ
trụ, tức là sự biểu lộ đầu tiên của Tinh Thần.
Sự bồi dưỡng sinh
lực trong giấc ngủ là do bởi sự kiện rằng con người tạm thời mất đi cái
ý thức xác thân và hơi thở của mình. Trong khi ngủ, người ta vô tình
trở nên một người Yogi, mỗi đên, vô tình và không hề hay biết y thực
hiện pháp môn Yoga là thoát ra ngoài mọi ý thực về xác thân, và để cho
nguyồn sinh lực thấm nhuần vào bộ óc và sáu trung tâm bí yếu phụ thuộc
trong tủy xương sống. Như vậy, trong giấc ngủ, người ta đắm chìm một
các vô ý thức trong cái kho dự trữ tinh lực của vụ trụ, nguồn gốc của
mọi sự sinh tồn.
Trái hẳn với người ngủ, người Yogi áp dụng có ý
thúc một phương pháp giản dị và tự nhiên cùng một loại. Người Yôgi dùng
pháp môn Kriya Yoga để đem Ánh Sáng bất diệt thấm nhuần và nuôi dưỡng
các tế bào của thể xác, và duy trì chúng trong một trạng thái thấm
nhuần từ điển một các thường xuyên. Y khiến cho sự hô hấp trở nên không
còn cần thiết, nhưng không vì thế mà đưa giấc ngủ hay sự hôn mê bất
tỉnh.
Nhờ luyện pháp môn Kriyâ, nguồn sinh lực của con người không
bị hao tán, hay lãng phí bởi sự loạn động của giác quan, mà được gom về
những trung tâm bí yếu trên tủy xương sống để được thấm nhuần một thứ
thần lực tinh anh. Chính bởi đó mà thể xác và những tế bào trong óc của
người Yogi được truyền vào một sức mạnh tâm linh nó tăng cường sự sống.
Khi đó, người Yogi không còn phải tuân theo chặt chẽ những định luật
thiên nhiên, như là ăn uống thanh đạm, sống gần thiên nhiên, với ánh
nắng và khí trời, nuôi tư tưởng tốt lành... là những phương tiện quanh
co nó chỉ có thể đưa y đến mục đích trong một thời kỳ lâu dài là mười
ngàn thế kỷ. Một người thường, có sức khỏe tốt, phải mất mười hai năm
tu luyện mới gây nên một sự thay đổi khả quan trong cơ cấu của bộ óc,
và cần đến một triệu năm để tinh luyện bộ óc cho đến mức có thể khai
triển tâm thức vũ trụ (Consicience cosmique)
Cuộc đời của người
đạo sĩ Kriyâ Yoga không còn tùy thuộc vào những nghiệp quả của quá khứ,
mà chỉ tùy thuộc nơi những mệnh lệnh của linh hồn. Do đó, người hành
động tốt hay xấu của cuộc đời hằng ngày, chẳng khác nào như sự tiến
triển thô sơ của con ốc, không còn phù hạp với đôi cánh bay xa của con
chim phụng hoàng.
Một phương pháp sinh hoạt tâm linh rất cao siêu
giúp cho người Yogi thoát ra khỏi các ngục tù của bản ngã để thở bầu
không khí tự do của trạng thái siêu thức. Cuộc đời thế gian, trái lại,
đưa con người vào một ngõ bí không có lối thoát. Dẫu cho con người noi
theo con đường tiến hóa, y cũng phải chịu lệ thuộc những định luật
thiên nhiên, dù cho y không vi phạm một định luật nào về vật chất hay
tinh thần, y cũng không khỏi mắc kẹt trong vòng luân hồi sinh tử trải
qua một thời gian mười ngàn thế kỷ trước khi đạt tới sự giải thoát cuối
cùng.
Để thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn đó, pháp môn Kriyâ Yoga
là cái bí quyết để trả lời cho những người nào bất mãn với cái chu kỳ
một triệu năm. Cái chu kỳ đó còn kéo dài hơn nữa đối với những người,
tuy có thức tỉnh đổi chút để nghĩ đến sự sống tâm linh, nhưng hãy còn
theo đuổi những thú vui phàm tục, và làm tổn thương đến tính chất
thiêng liêng của họ bằng hành động và tư tưởng. Đối với họ, thì hai
triệu năm cũng còn chưa đủ để tự giải thoát!



Con người
tự lầm lộn mình với cái phàm ngũ, y tưởng rằng chính y suy tư, cảm xúc,
mong muốn, ước vọng, hay hành động việc nọ việc kia, chứ không biết
rằng trong cuộc đời hằng ngày, y chỉ là một kẻ bù nhìn bị cai quản bởi
những nghiệp quả của quá khứ, và bởi hoàn cảnh chung quanh. Tuy nhiên,
những khả năng trí thực, những khuynh hướng, tập quán, thói quen....
đều tùy thuộc một các chặt chẽ nơi những nguyên nhân trong quá khứ mà
nguồn gốc có thể truy ra hoặc trong kiếp này, hoặc ở một tiền kiếp.
Thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ đó, chỉ có linh hồn, một thực thể bất
biến mà pháp môn Kriyâ Yoga có sứ mạng giải thoát bằng cách xé tan bức
màn vô minh, nguồn gốc của mọi sự chướng ngại và trái buộc Linh hồn vào
vòng luân hồi sinh tử.
Đức Giáo chỉ Shankara viết trong quyển sách bất hủ "Những thế kỷ" (Centurues) của ngài như sau:
"Những
nghi thức lễ bái bề ngoài không thể dẹp tan sự vô minh, hai điều đó có
khi lại còn đi đôi với nhau. Chỉ có sự hiểu biết mới có thể dẹp tan
được sự vô minh. Sự hiểu biết hay kiến thức, chỉ có thể đạt tới được
bằng sự tìm tòi, tọc mạch về lý trí. Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Vũ trụ
từ đâu mà có? Ai sáng tạo ra nó? Nguồn gốc nó do đâu mà ra?... Đó là sự
tọc mạch tìm tòi mà tôi muốn nói đến".
Trí óc con người đành chịu
bất lực không thể giải đáp những câu hỏi đó. Bởi đó, các đấng Chân sư
thời cổ mới đem đến cho chúng ta pháp môn Yoga để làm cho ta thỏa mãn
sự khát khao hiểu biết.
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:30

Nữ thánh Therèse Neumann






Hãy
trở về Ấn Độ, Thầy đã kiên nhẫn đợi con trong mười lăm năm nay. Không
bao lâu nữa, Thầy sẽ bỏ xác phàm để về cõi Tinh Thần. Về đi, con!
Giọng
nói của Sư phụ tôi vang rền trong chỗ bí ẩn thâm sâu nhất của tâm hồn
tôi, trong khi tôi đang ngồi thiền tại trụ sở đạo viện trên sườn đồi ở
vùng ngoại ô Los Angeles.
Trong chớp mắt thông điệp của Sư phụ đã vượt qua mười nghìn dặm đường để đến với tôi.
Mười
lăm năm! Đó là năm 1935 và tôi đã sống đúng mười lăm năm ở Mỹ quốc để
truyền bá giáo lý của Sư phụ tôi. Bây giờ, người gọi tôi trở về.
Ngày
hôm đó, tôi thuật lại cái kinh nghiệm thuần bí của tôi cho một người đệ
tử đã đạt tới một trình độ tiến hóa tâm linh khá cao nhờ pháp môn Kriyâ
Yoga. Người đệ tử này và nhiều người khác nữa tình nguyện đài thọ phí
tổn cuộc hành trình. Vấn đề tài chánh đã giải quyết xong, tôi mới sắp
đặït mọi việc để trở về Ấn Độ xuyên qua Âu Châu. Tháng ba năm 1935, đạo
viện Yoga của tôi, mệnh danh là "Cơ Quan Thực Hiện Chân Ngã," được đăng
bộ như một tổ chức không thương mãi và hợp pháp hóa theo luật của tiểu
bang California, có tính cách một cơ quan giáo dục được phép nhu nhận
tiền đóng góp của công chúng, tiền lợi tức pháp hành sách vở, tạp chí
của tôi cùng những nguồn lợi tức khác. Tôi nói với các môn đệ Yoga của
tôi:
- Tôi sẽ trở lại. Tôi không bao giờ quên Mỹ quốc.
Tại
buổi tiệc tiễn hành do các bạn tôi tổ chức ở Los Angeles, tôi nhìn một
cách biết ơn những gương mặt thân hữu và nghĩ thầm rằng: "Người nào tôn
thờ Thượng Đế và nhìn nhận Ngài là đấng ban rải mọi phước lành, sẽ
không bao giờ thiếu sót sự ấm áp của tình bằng hữu."
Tôi từ giã
New York ngày Chín tháng Sáu năm 1935 do chuyến tàu Europa cùng với hai
người môn đệ là bạn Richard Wright, ông này tình nguyện làm bí thơ cho
tôi, và một bà đã lớn tuổi là bà Ettie Bletch. Chuyến đi trên tàu giúp
cho chúng tôi được nghỉ ngơi sau những tuần lễ cuối cùng rất bận rộn.
Nhưng thời gian nhàn rỗi của tôi rất ngắn ngủi, tốc lực của những chiếc
tàu vượt đại dương tối tân đôi khi cũng có một khía cạnh đáng tiếc!
Chúng
tôi lên bờ ngoạn cảnh khi tàu ghé bến Luân Đôn. Ngày hôm sau, tôi được
mời thuyết pháp tại giảng đường Caxton Hall, tại đây ông Francis
Younghusband giới thiệu tôi cho thính giả Anh quốc.
Vài ngày sau
đó, chúng tôi vượt qua eo biển Manchelên lục địa Âu Châu, vì tôi muốn
đến Bavière bên Đức để viếng thăm vị nữ thánh Gia Tô Therese neumann
tại làng Konnersreuth. Nhiều năm về trước, tôi có đọc một tài liệu báo
chí lạ lùng về vị nữ thánh này, trong đó có những chi tiết sau:
1. Cô Therese sinh năm 1898, bị thương nặng trong một vụ tai nạn vào năm lên hai mươi tuổi, làm cho cô bị mù mắt và bại liệt.
2.
Năm 1923, cô được lành cặp mắt một cách mầu nhiệm nhờ cầu nguyện thánh
nữ Teresa, và sau đó bịnh liệt bại tứ chi của cô cũng được chữa khỏi
ngay tức khắc.
3. Từ năm 1925 trở về sau, cô Therese hoàn toàn
tịch cốc, không ăn uống gì cả, cô chỉ nuốt một miếng bánh thánh nhỏ sau
khi đã được làm phép mỗi ngày.
4. Năm 1926, những vết thương của
đấng Ki Tô bỗng nhiên xuất hiện trên đầu, trên ngực, bàn tay và bàn
chân của cô. Mỗi ngày thứ sáu, cô trải qua những kinh nghiệm thương khó
của đấng Ki Tô, trong khi thể xác cô chịu những sự đau đớn lịch sử của
Ngài khi bị đem đi hành hình.
5. Bình thường, cô Therese chỉ biết
nói tiếng Đức, nhưng trong những cơn xuất thần vào ngày thứ sáu, cô
thốt ra những câu nói mà các nhà học giả nhận ra là tiếng cổ ngữ
Aramaic. Vào những lúc khác, cô nói tiếng Do Thái hay tiếng Hy Lạp.
6.
Cô Therese đã nhiều lần được đặt dưới sự quan sát tỉ mỉ của khoa học,
với sự cho phép của giáo hội. Bác sĩ Fritz Gerlick, chủ bút một tờ báo
của giáo hội tin lành Đức, đã đích thân đến Konnersreuth để mưu toan
"lật tẩy sự lừa bịp" của giáo hội Gia Tô, nhưng sau cùng cũng đã chịu
phép và kính cẩn viết tiểu sử của cô.
Cũng như bao giờ, dù ở Đông
phương hay Tây phương tôi vẫn muốn gặp một vị chân tu. Chúng tôi đến
làng Konnersreuth vào ngày mười sáu, nhưng thấy nhà cô Therese cửa đóng
then gài: cô đã đi vắng. Do sự chỉ dẫn của người làng, sáng hôm sau
chúng tôi đến nhà giáo sư Franz Wutz, dạy khoa sinh ngữ ở trường Đại
học Eichstatt, cách đó độ tám mươi dặm. Giáo sư Wutz đón tiếp chúng tôi
rất niềm nở và nói:
- Thưa vâng, cô Therese có ở đây.
Nói
xong, ông cho người nhà báo tin cho cô hay có khách đến. Độ một lát,
người ấy trở lại với câu trả lời của cô: - Tuy đức Giám mục đã dặn tôi
không nên tiếp ai mà không có sự đồng ý của ngày, nhưng tôi sẽ dành một
ngoại lệ cho vị tu sĩ Ấn Độ.
Những lời ấy làm tôi cảm động, tôi
bèn cùng với giáo sư Wautz đi lên phòng khác ở trên lầu. Cô Therese
cũng bước vào ngay khi đó. Cô mặc một áo dài đen, đầu vấn một chiếc
khăn trắng tinh, người cô toát ra một niềm an lạc khác thường. Tuy hồi
đó, cô đã ba mươi bảy tuổi, nhưng cô trông trẻ hơn nhiều, vì cô có một
vẻ tươi tắn và hồn nhiên như trẻ thơ. Thân hình đầy đặn, tròn trĩnh sức
khỏe tốt, đôi má ửng hồng, đó tức là cái phong độ của vị nữ thánh cả
đời tuyệt thực!
Cô Therese tiếp đón tôi bằng một cái bắt tay rất
nhẹ nhàng, và một nụ cười xinh xắn. Chúng tôi đã thầm có sự giao cảm
tâm linh, và hiểu nhau như những người bạn Đạo đồng thinh tương ứng.
Giáo
sư tự nguyện làm thông dịch cho chúng tôi. Khi mọi người đã ngồi yên
chỗ, tôi nhận thấy Therese cũng nhìn tôi với một sự tò mò ngây thơ: một
người Ấn Độ nước da bánh mật, tóc dài hẳn là một vật lạ ở tỉnh Bavière
miền nam nước Đức!
- Cô không bao giờ ăn uống gì chứ?
Tôi hỏi để được nghe lời xác nhận từ miệng của cô thốt ra.
- Không, trừ ra một miếng bánh thánh lúc sáu giờ sáng mỗi ngày.
- Miếng bánh thánh ấy độ bao lớn?
-
Nó mỏng như giấy và nhỏ chừng bằng một đồng xu. Tôi ăn nó vì lý do tâm
linh. Nếu nó không được làm phép bí tích, tôi không thể nào nuốt trôi
qua cổ họng!
- Tất nhiên cô không thể sống bằng bấy nhiêu đó, suốt mười hai năm trường?
- Tôi sống trong ánh sáng của Chúa.
Câu trả lời ấy thật đơn giản làm sao!
- Tôi nghĩ chắc cô cũng biết rằng cơ thể cô hấp thụ khí lực của Trời Đất trong không khí và ánh sáng thiên nhiên.
Một nụ cười hiện trên khuôn mặt, cô đáp:
- Tôi rất sung sướng mà thấy ông hiểu tôi sống bằng cách nào.
-
Đời sống thánh thiện của cô đã chứng minh cho lời dạy của Đức Ki Tô:
"con người không phải chỉ sống bằng cơm gạo mà thôi, mà còn bằng mỗi
lời nói của Chúa Trời."
Một lần nữa, cô lại vui vẻ tán thưởng lời nói của tôi:
-
Thật vậy. Một trong những lý do sự có mặt của tôi trên thế gian hiện
nay, là để chứng minh rằng con người có thể sống bằng ánh sáng của
Chúa, chứ không phải sống bằng thực vật mà thôi.
- Cô có thể dạy cho kẻ khác biết làm thế nào để sống mà không ăn uống được không?
Cô Therese có vẻ hơi lúng túng:
- Tôi không thể làm điều ấy, vì Chúa không muốn như vậy.
Thấy
tôi nhìn hai bàn tay chắc nịch và yểu điệu của cô, cô Therese chỉ cho
tôi thấy một vết thương vuông vức, mới lành da, trên lưng mỗi bàn tay.
Trong lòng mỗi bàn tay, cô chỉ cho thấy một vết thương nhỏ hơn hình
lưỡi liềm, cũng vừa mới lành. Các vết thương đều đâm thủng cả hai bàn
tay, tôi mới nhớ rõ những cây đinh lớn, vương bốn cạnh bằng sắt, đầu
lưỡi liềm vẫn còn thông dụng ngày nay ở các xứ Cận Đông.
Vị thánh nữ nói cho tôi nghe vài điều về những cơn xuất thần hàng tuần của cô:
- Tôi đã chứng kiến tận mắt sự Thương Khó toàn diện của đấng Ki Tô.
Mỗi
tuần từ nửa đêm thứ năm đến một giờ trưa ngày thứ sáu, những vết thương
của cô lại nứt ra và rỉ máu, cô sụt mất độ năm ký trong số Sáu mươi ký
lúc bình thường. Tuy rất đau đớn, trong cơn xuất thần, nhưng cô Therese
lại vui sướng chờ mong đến những ngày đó để có dịp chiêm ngưỡng đấng
Cứu Thế.
Tôi hiểu ngay rằng cuộc đời kỳ lạ của cô là dụng ý của
Thiêng Liêng để nhắc nhở tất cả mọi tín đồ Cơ Đốc giáo sự thật lịch sử
của cuộc đời đấng Ki Tô và lúc đóng đinh trên Thập Tự giá như được ghi
chép trong Kinh Thánh, và để trình bày một cách linh hoạt mối tương
quan trường cửu giữa Ngài và các tín đồ.
Giáo sư Wutz có thuật lại cho tôi nghe vài kinh nghiệm của ông về vị nữ thánh:
-
Một nhóm nhỏ gồm có chúng tôi và Therese thường đi du ngoạn suốt nhiều
ngày vòng quanh nước Đức. Thật là một sự tương phản rõ rệt: Therese
không ăn uống gì cả, còn chúng tôi ăn ba bữa mỗi ngày. Cô vẫn tươi tỉnh
như thường, không hề biết mệt nhọc. Mỗi khi nhìn thấy chúng tôi đói và
đi tìm thức ăn ở các quán bên đường. Therese còn lớn rất giòn giã, hồn
nhiên.
Giáo sư cho biết vài chi tiết lý thú về Therese:
- Vì
cô không ăn uống, nên bao tử cô đã teo lại. Cơ thể cô không bài tiết
nữa: các đường đại tiểu tiện đều ngưng, nhưng các hạch tiết mồ hôi vẫn
còn hoạt động, da thịt cô vẫn luôn luôn chắc nịch và mềm mại.
Vào lúc từ biệt, tôi tỏ ý muốn chứng kiến một buổi xuất thần của cô. Therese nhã nhặn đáp:
-
Vâng, mời đại đức hãy đến Konnersreuth vào ngày thứ sáu tới đây. Đức
Giám mục sẽ cấp cho ông một giấy phép. Tôi rất sung sướng được gặp đại
đức hôm nay.
Therese bắt tay tôi rất nhẹ nhàng và đưa chúng tôi ra
đến cổng. Ngày hôm sau, trong một cuộc nói chuyện với hai người em trai
của Therese, chúng tôi được biết rằng vị nữ thánh chỉ ngủ có một hoặc
hai giờ nữa đêm. Tuy mang nhiều vết thương trên thân mình, cô vẫn rất
hoạt động và sinh lực dồi dào. Cô thích chơi chim, nuôi bồn các vàng để
làm kiểng, và thường ra làm việc ngoài vườn. Cô nhận được rất nhiều thơ
từ do các tín đồ Ki Tô giáo gửi đến nhờ cô cầu nguyện giúp và ban ân
huệ để chữa bệnh. Nhiều người đã nhờ cô mà đã được chữa khỏi những
chứng bệnh hiểm nghèo.
Cậu Ferdinand em trai cô, độ hai mươi ba
tuổi, cho biết rằng bằng sự cầu nguyện, cô Therese có quyền năng hứng
chịu trên thân thể cô, những bệnh tật của kẻ khác. Sự tuyệt thực của vị
thánh nữ này bắt đầu kể từ ngày mà cô cầu nguyện cho chứng bệnh yết hầu
của một người thanh niên trong giáo khu của cô, lúc ấu đang chuẩn bị
bước vào dòng tu kín, được truyền sang cuống họng của cô.
Vào trưa
ngày thứ năm, chúng tôi lái xe đến nhà vị giám mục. Ông ta nhìn những
lọn tóc dài xõa xuống vai của tôi một các ngạc nhiên. Ông ta sẵn lòng
cấp giấy phép cho chúng tôi. Chúng tôi không phải đóng tiền lệ phí,
luật ngăn cấm của giáo hội chỉ là để bảo vệ vị thánh nữ khỏi bị sự quấy
rầy của du khách qua đường, họ đã lũ lượt kéo đến hàng nghìn người
trong những năm vừa qua vào những ngày thứ sáu.
Chúng tôi đến nơi
vào lúc chín giờ rưỡi sáng thứ sáu. Tôi nhận thấy nhà cô Therese có một
khoảnh lợp kiếng trên trần, làm cho trong nhà có đầy ánh sáng. Cửa nhà
cô mở rộng để đón khách thập phương đến viếng. Chúng tôi nối đuôi theo
sau một hàng độ chừng hai mươi người, tất cả đều có giấy phép. Nhiều
người trong số đó đến từ những nơi rất xa xôi để chiêm ngưỡng cơn xuất
thần của vị nữ thánh.
Therese đã vượt qua sự thử thách đầu tiên
của tôi tại nhà của giáo sư Wutz khi cô linh cảm được rằng tôi muốn đến
gặp cô vì những lý do tâm linh, chứ không phải để thỏa mãn óc tò mò.
Cuộc
trắc nghiệm thứ nhì của tôi là ngay khi sắp bước lên lầu để vào phòng
cô, tôi tự đặt mình trong một trạng thái nhập định để đạt tới sự giao
cảm tâm linh trực tiếp với cô. Tôi bước vào phòng, lúc ấy đầy những
khách hành hương, còn cô thì mặc áo dài trắng nằm trên giường. Với bạn
Richard đứng ngay sau lưng tôi, tôi liền dừng chân trên ngưỡng cửa,
kinh ngạc mà nhìn thấy một cảnh tưởng vô cùng kỳ dị và rùng rợn.
Một
dòng máu rỉ xuống liên tục từ hai mí mắt dưới của Therese, mắt cô nhìn
lên tập trung vào bí huyệt ở giữa trán. Cái khăn ướt trên đầu cô đẫm
máu ướt sũng chảy ra từng những vết thương do cái Mão Gai Nhọn đặt lên
đầu Chúa Ki Tô năm xưa. Cái áo dài trắng bị đẫm máu ở trên chỗ quả tim
do vết thương đâm qua bên hông khi đấng Ki Tô bị ngọn giáo của người
lính đao phủ hành quyết.
Gương mặt của cô Therese biểu lộ những
nét vừa đau đớn, vừa thiêng liêng. Cô có vẻ gầy ốm hơn lúc thường và có
nhiều nét thay đổi một cách tế nhị trên cả hai phương diện nội tâm và
sắc diện bên ngoài. Thỉnh thoảng, cô thì thầm thốt lên những tiếng
ngoại ngữ lạ lùng dường như để nói chuyện với những người khuất mặt
trong cõi vô hình.
Vì tôi đã điều chỉnh tần số nhịp điệu rung động
của tôi để có sự Giao Cảm Tâm Linh Truyền Thanh và Truyền hình với Nữ
Thánh, nên tôi bắt đầu nhìn thấy những cảnh tượng diễn ra trong cơn
linh ảnh của cô. Cô đang chiêm ngưỡng đức Giêsu khi Ngài mang trên vai
cây Thập Tự Giá bằng gỗ đi giữa đám đông la hét, nguyền rủa và phỉ báng
Ngài. (Trong những giờ trước khi tôi đến, Therese đã thấy nhiều linh
ảnh và những ngày cuối cùng của Chúa Ki Tô. Cơn xuất thần của cô thường
bắt đầu với những linh ảnh về những sự việc diễn biến ngay sau Buổi Ăn
Cuối Cùng (Le dernier Souper) và chấm dứt cuộc Pháp Nạn của Chúa Giêsu
trên Thập Tự Giá, hoặc đôi khi với cuộc hạ huyệt thánh thể.)
Thình
lình, cô ngẩng đầu lên trong cơn kinh hoàng tột độ: đức Chúa vừa ngã
quỵ dưới dự nặng tàn khốc của cây giá gỗ! Khi linh ảnh đã qua, bị kiệt
sức vì cơn xúc động quá mạnh. Therese lại rơi mình cuống gối một cách
nặng nề.
Ngay lúc đó tôi nghe một tiếng động lớn sau lưng tôi. Tôi
quay đầu nhìn lại, thì thấy hai người đang khiêng ra ngoài một cái xác
người ngã quỵ. Nhưng vì lúc đó tôi vừa mới thoát ra ngoài trạng thái
siêu thức thâm trầm, nên tôi không nhìn ra ngay người bị té ngã. Tôi
lại tập trung nhãn lực vào gương mặt của Therese, đã tái mét như xác
chết vì máu ra quá nhiều, nhưng bây giờ thì đã hoàn toàn yên lặng, và
toát ra hào quang khiết bạch và thánh thiện. Sau đó, tôi quay lại nhìn
ra sau lưng thì thấy bạn Richard đang đứng đó với một bàn tay áp vào
bên má đang rỉ máu.
-Dick, tôi hỏi một cách băn khoăn, anh vừa mới té ngã phải không?
-Vâng, tôi bị ngất xỉu về quá xúc động.
Tôi nói để an ủi y: - Dầu sao, anh đã có can đảm trở lại để chiêm ngưỡng Therese lần nữa.
Nhớ
đến những khách hành hương còn kiên nhẫn nối đuôi nhau đứng đợi phía
ngoài, chúng tôi âm thầm từ giã Therese và bước ra khỏi phòng.
Ngày
hôm sau, nhóm chúng tôi lên xe và bắt đầu đi du lịch vòng quanh các
nước Đức, Hòa Lan, Pháp, Thụy Sĩ, rồi sang Ý và Hi Lạp. Kế đó chúng tôi
xuống tàu sang Palestine để viếng Thánh địa. Đối với người nhạy cảm,
tinh thần của Chúa Ki Tô, vẫn còn tràn ngập xứ Palestine. Tôi kính cẩn
chiêm ngưỡng hình ảnh của Ngài khi tôi đi qua những nơi cổ tích
Bethlehem, Gethsemane, Calvary, núi Ô Liu, bờ sông Gordan và biển
Galilée. Chúng tôi đã đến viếng Máng Cỏ, nơi lâm phàm của Ngài, xưởng
thợ mộc của Joseph, ngôi mộ của Thánh Lazare, ngôi nhà của Marthe và
Marie, và phòng ăn của Bữa Ăn Cuối Cùng. Nx nơi cổ tích ấy đã gợi lại
trong trí tôi những lớp lang của tấn tuồng bi kịch lịch sử thiêng liêng
mà Chúa Ki Tô đã có lần diễn xuất linh động của hậu thế. Từ Thánh địa,
chúng tôi đi sang Ai Cập viếng thủ đô Cairo và các Kim Tự Tháp cổ kính.
Kế đó chúng tôi xuống tàu từ hải cảng Suez đi dọc theo biển Hồng Hải,
ra biển Ả Rập và trở về Ấn Độ.
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:31

Trở về Ấn Độ






Tàu Rajputana về đến hải cảng Bombay ngày Hai mươi hai tháng Tám, năm 1935. Tôi hít đầy phổi cái không khí yên lành của Ấn Độ.
Vừa
lên tới bến, tôi đã nhìn thấy trước những gì đang chờ đợi tôi ở xứ nhà:
đó là mười hai tháng trường hoạt động không ngừng. Các bạn bè và thân
bằng quyến thuộc tiếp đón chúng tôi trên bến với những tràng hoa tươi.
Kế đó, khi chúng tôi đến khách sạn Taj Mahal, chúng tôi lìen bị bao vây
bởi những ký giả và nhiếp ảnh viên. Sau khi đã ký thác cho sở Hỏa Xa
chiếc xe Ford của chúng tôi đem theo xuống tàu từ bên Mỹ quốc, nhóm ba
người chúng tôi hối hả dáp xe lửa đi Calcutta.
Đến ga Howrah,
chúng tôi được tiếp đón bởi một số người đông đảo đến nỗi chúng tôi
phải vất vả khó khăn mới bước lên tới bến. Vị tiểu vương Kasimbazar và
em trai tôi là Bishnu điều khiển ủy ban tiếp đón, chúng tôi không hề
nghĩ rằng mình sẽ được đón tiếp một cách nồng nhiệt như vậy.
Cha
tôi ôm chầm lấy tôi dường như tôi vừa sống lại và chui ra khỏi mồ!
Chúng tôi nhìn nhau rất lâu trong câm lặng vì vui mừng. Các anh em chị
em tôi, các bà con thân quyến, học trò và bằng hữu cố tri ngày xưa vây
chung quanh tôi, với đôi mắt đẫm lệ. Đến bây giờ thì cảnh tượng trở về
quê nhà trong sự đón tiếp nồng hậu đầy tình thương ấy chỉ là một kỷ
niệm xa vời, nhưng nó sẽ tồn tại mãi mãi trong lòng tôi.
Tôi không
tìm thấy ngôn ngữ nào có thể diễn tả nỗi tâm trạng của tôi khi tôi gặp
lại Sri Yukteswar, Sư phụ tôi. Tôi xin trích một đoạn văn của bạn
Richard đã tả cảnh tái ngộ ấy trong tập Du Ký của ông như sau:
"Hôm
nay, trong sự vui mừng và trông đợi, tôi lái xe đưa đại đức Yogânanda
từ Calcutta đi Serampore. Chúng tôi đi ngang qua những dãy hàng quán
hai bên đường (trong một quán cơm này, đại đức Ygânanda thường dùng bữa
trong những năm ở trường đại học) và sau cùng, đi rẽ vào con đường nhỏ
hẹp giữa hai vách tường. Cuối đường xe quẹo về bên trái thì đã tới đạo
viện, một ngôi nhà lầu hai tầng, giản dị nhưng ấm cúng, với một bao lơn
kiểu Tây Ban Nha nhô ra phía ngoài từng lầu trên. Cảm tưởng chung là
một nơi hẻo lánh và yên tĩnh.
" Tôi đi theo đại đức Yogânanda vào
một cái sân nhỏ vào trong đạo viện. Trong lòng hồi hộp, chúng tôi bước
lên những bậc thang đã cũ mà chắc hẳn hàng nghìn những người tìm đạo đã
từng bước qua. Mỗi bước làm cho tôi càng thêm hồi hộp. Thình lình, tôi
thấy xuất hiện ở trên cầu thang, vị Tôn Sư Sri Yukteswar, trong dáng
điệu cao quý của một nhà hiền triết.
"Run lên vì xúc động, tôi cảm
thấy cái ân huệ tốt lành của sự hiện diện cao cả ấy, Đôi mắt tôi ứa lệ
trong khi đó đại đức Yogânanda, với tất cả sự biết ơn vô hạn trong tâm
hồn, cúi đầu ưùi xuống chân sư phụ, đưa tay nắm lấy, rồi kế đó gục đầu
xuống hai chân người để rỏ rõ sự cung kính rất mực và tuyệt đối phục
tùng. Kế đó, người mới đứng dậy và Sri Yukteswar ôm lấy người một cách
thật đậm đà thân mến.
"Trước hết một cơn yên lặng ngự khắp gian
phòng, nhưng cái yên lặng đó diễn tả tất cả những khía canh của hai tâm
hồn. hai cặp mắt long lanh chiếu những tia sáng hạnh phúc trước sự tái
ngộ của hai thầy trò sau bao nhiêu năm xá cách.
" Đến lượt tôi
cũng quỳ trước mặt Sư phụ, tôi bày tỏ tấm lòng yêu mến và biết ơn
người, tôi cũng cúi xuống nắm hai bàn chân đã tê cứng với thời gian và
nhận lãnh ân huệ của Tôn Sư. Kế đó, tôi đứng dậy, nhìn vào đôi mắt của
Tôn Sư, một đôi mắt đẹp, lớn, thâm trầm và chiếu sáng vì vui mừng.
Chúng tôi bước qua phòng khách, mà một bên giáp với bao lơn, và có thể
nhìn thấy đường lộ. Tôn sư ngồi trên một tấm niệm trải dưới sàn gạch,
dựa lưng vào một cái gối lớn. Đại đức Yogânanda và tôi ngồi dưới chân
Tôn Sư, trên một chiếc chiếu bằng rơm, và dựa cùi chỏ trên những cái
gối gòn màu vàng sậm.
"Tôi cố gắng theo dõi câu chuyện đàm thoại
bằng tiếng Bengali giữa hai thầy trò đại đức nhưng không hiểu được gì
cả vì cả hai không dùng tiếng Anh, tuy rằng Tôn sư cũng nói được tiếng
Anh trôi chảy. Nhưng sự thánh thiện của Tôn sư được biểu lộ qua nụ cười
hồn nhiên và tia sáng trong cặp mắt. Một đặc điểm trong tính chất của
Tôn Sư là sự nhận xét đứng đắn trong mọi chuyện, đó tức là dấu hiệu
minh triết của một người đã cảm thông được với Thượng Đế. "Tôi kính cẩn
đưa mắt nhìn Tôn Sư thì thấy người vóc vạc cao lớn, vai rộng và dường
như được trui rèn cứng rắn bởi bao nhiêu những cuộc thử thách và hi
sinh của cuộc đời xuất gia. Người có một cái trán cao, cái mũi lớn, đôi
mắt nâu sậm, tóc dài gơn sóng, rẽ làm hai phần, đã điểm bạc và thòng
xuống đến tận vai. Hàu râu hơi thưa và ngắn, tuy nhiên bộ râu méo xén
kỹ làm tăng vẽ uy nghiêm trên gương mặt.
"Tôn sư có giọng cười
lớn, thành thật và cởi mở, hồn nhiên. Toàn thân người toát ra một sức
mạnh, lưng thẳng và dáng điệu hùng vĩ. Tôn Sư mặc áo rộng và vận một
các chăn vải, trước kia chắc hẳn là màu nâu sậm, nhưng nay đã trở thành
màu vàng lợt. Tuy đã tám mươi mốt tuổi, Tôn Sư có vẻ lực lưỡng và khỏe
mạnh.
"Tình trạng cũ kỹ của gian phòng cho thấy rằng Tôn Sư ít chú
trọng đến vấn đề vật chất. Nhưng vách tường quét vôi trắng đã trổ màu
với thời gian. Ở một góc phòng có một bức chân dung của đại đức Lahiri
Mahâsaya treo trên vách. Ngoài ra còn có một bức ảnh đậi đức Yogânanda
chụp chung với các vị đại biểu quốc tế tại Đại hội Tôn Giáo ở Boston.
"Tôi
cũng nhận thấy một sự chung đụng lạ lùng giữa cổ lẫn kim: một cái chân
đèn lớn có đóng mạng nhện vì đã lâu không dùng đến, trên tường một
quyển lịch không lật đúng ngày. Từ những thứ đó toát ra một bầu không
khí yên tịnh, êm đềm. Bên ngoài bao lơn, những cây giờ cao lớn tỏa bóng
mắt và che chở khắp đạo viện.
"Tôn sư chỉ cần vỗ hai bàn tay để
sai bảo những vị đệ tử trẻ tuổi trong đạo viện khi người cần dùng đến
họ. Tôi có cảm tình đặc biệt với một thanh niên tên là Prafulla, với
mái tóc đen dài xõa xuống vai, đôi mắt đen láy với cái nhìn sâu sắc
thâm trầm và nụ cười hiền dịu. Đôi mắt y chiếu sáng mỗi khi hai khoé
miệng y xếch lên trong một nụ cười, giống như hai ngôi sao và mặt trăng
lưỡi liềm vào lúc hoàng hôn.
"Tuy Tôn Sư bản tính vui vẻ hồn
nhiên, nhưng sự minh triết thiêng liêng mới là điểm đáng nổi bật trong
tác phong của người, nó khiến cho người không hề bộc lộ tình cảm ra
ngoài.
"Đại đức Yogânanda dâng lên Tôn Sư các món quà biếu theo
tục lệ thông thường khi một đệ tử đi xa trờr vềgặp lại sư phụ. Sau đó,
một bữa cơm giản dị, tươm tất được dọn ra cho chúng tôi, với các món ăn
rất khéo gồm có cơm và rau đậu. Tôn Sư lấy làm thích thú khi thấy tôi
hòa mình với phong tục Ấn Độ, và ăn cơm bằng tay.
"Sau nhiều giờ
hàn huyên và đàm luận trong tình thầy trò thân mật đậm đà, chúng tôi
vừa kính cẩn kiếu từ Sư phụ vừa chắp tay đưa lên trán theo phong tục
của bổn xứ, và trở về Calcutta với những kỷ niệm khó quên. Tuy rằng cảm
giác của tôi mới chỉ là bề ngoài, tôi cũng ý thức được sự cao cả tâm
linh của Sư Phụ. Tôi cảm giác được cái sức mạnh tinh thần của người, và
cái cảm giác đó đối với tôi là một ân huệ thiêng liêng."
- Bạch sư phụ, con rất sung sướng mà được gặp có một mình sư phụ sáng nay!
Tôi vừa mới đến đạo viện Serampore với một giỏ hoa quả thơm phức là quà biếu sư phụ. Sư phụ nhìn tôi với cặp mắt dịu hiền:
- Con muốn nói chi?
-
Bạch sư phụ con đến với sư phụ từ ngày còn là học trò. Bây giờ, con đã
là một người ở tuổi trung niên, với một hai sợi tóc trắng! Sư Phụ đã
ban cho con một sụ trìu mến thương yêu thầm lặng từ giờ phút đầu, nhưng
chỉ có một lần, một lần thôi, vào ngày chúng tôi gặp nhau, Sư phụ đã
nói rằng Sư phụ thương con!
Cái nhìn của tôi có vẻ tha thiết. Sư phụ cuối mặt nhìn xuống đất, và nói:
- Yogânanda, con lại muốn cho Thầy phơi bày những tình cảm nồng ấm ra ngoài bằng những ngôn ngữ thường tình sao?
- Bạch Sư phụ con biết rằng Sư phụ thương con nhưng tai phàm của con mong ước được nghe điều đó từ miệng Sư phụ nói ra.
-
Được, con sẽ được như ý. Khi Thầy còn sống cuộc đời người gia trưởng.
Thầy đã mong có một người con để dạy nó theo môn pháp Yoga. Khi con
bước vào cuộc đời Thầy, Thầy đã được như ý muốn, Thầy đã tìm thấy ở nơi
con đứa con trai của Thầy!
Hai giọt lệ đợm trên mắt Sư phụ tôi:
- Yogânanda, Thầy vẫn thương con như bây giờ!
- Lời nói của sư phụ đã mở của Thiêng Đàng cho con!
Tôi bất giác thốt lên với tấm lòng nhẹ nhõm như trút được một gánh nặng.
Tôi
vẫn thường ngạc nhiên về cái im lặng của Sư phụ. Tôi biết rằng Sư phụ
tôi tính tình trầm tĩnh và tự chủ, tuy vậy tôi vẫn e ngại rằng tôi
không làm vừa lòng người. Đối với con mắt người đời, tính chất là lùng,
bí hiểm của Sư phụ không bao giờ có thể đoán biết được rõ ràng, nhất là
khi mà những giá trị của sự vật trần gian không còn có ý nghĩa gì đối
với người nữa.
Vài ngày sau đó, tôi thuyết pháp trước một của tọa
đông đảo tại giảng đường Albert Hall ở Calcutta, trong dịp này Sư phụ
tôi bằng lòng ngồii bên cạnh tôi trên diễn đàn cùng với vị quốc vương
Santosh và viên thị trưởng Thành phố Calcutta. Sư phụ không bình phẩm
gì, nhưng thỉnh thoảng tôi liếc nhìn Sư phụ thì nhận thấy trong cặp mắt
của người có hiện ra vẻ hài lòng.
Sau đó ít lâu, Sư phụ làm lễ đưa
tôi lên cấp đẳng Parahamsa của dòng tu sĩ xuất gia. Khi tôi quỳ trước
mặt Sư phụ để thụ lễ tăng cấp, người nói:
- Quả vị này chánh thức
đưa con lên một cấp cao hơn quả vị Swami của con trước kia. Từ nay đạo
nghiệp của Thầy trên thế gian này đã chấm dứt, con sẽ có bổn phận tiếp
tục công việc ấy.
Sư phụ nói với giọng trầm tĩnh, đôi mắt của người vẫn giữ nét yên lặng. Tôi bắt đầu cảm thấy sợ hãi. Kế đó người nói tiếp:
-
Con hãy chỉnh định cho Thầy một người kế thừa để trong nom đạo viện tại
Puri. Thầy giao tất cả mọi việc trong tay con. Từ nay con sẽ lái con
thuyền đời của con và đạo của Thầy đến những bờ bến thiêng liêng. Hai
hàng lệ tuôn tràn, tôi cuối xuống hôn hai bàn chân thiêng liêng của sư
phụ, người đứng dậy và ban ân huệ cho tôi một cách thân yêu.
Qua hôm sau, tôi cho mời một đệ tử tên là Swami Sebânanda từ Ranchi đến và giao cho y trọng trách điều khiển đạo viện Puri.
Hàng
ngày sống bên cạnh Sư phụ, sống trong bầu không khí đầy tình thương yêu
của người, tình thương ấy tuy thầm lặng, nhưng biểu hiện trong từng chi
tiết nhỏ nhặt, tôi quên hẳn tất cả những lời nói úp mở của Sư phụ ám
chỉ sự từ trần của người sắp đến.
- Bạch Sư phụ, thánh lễ Kumbha Mela năm nay sẽ cử hành tại Allahabad.
Tôi vừa nói vừa chỉ cho Sư phụ ngày cuộc lễ có ghi trong một quyển lịch. - Con thật có muốn dự lễ này chăng?
Không hiểu rằng Sư phụ nói thế là có ngụ ý bảo tôi đừng đi, tôi nói thêm:

phụ đã có lần gặp đức Babâji trong một cuộc thánh lễKumbha Mela. Biết
đâu lần này con chẳng có duyên mai được gặp ngài tại đó?
- Thầy không tin như vậy.
Nói đến đó, Sư phụ lại im lặng, vì người không muốn làm trái với ý định của tôi.
Sáng
ngày hôm sau, khi tôi cùng một nhóm nhỏ gồm vài môn đệ lên đường đi
Allahabad, Sư phụ điềm nhiên ban ân huệ cho tôi như không có việc gì hệ
trọng. Sở dĩ tôi không hiểu lời cảnh báo ngầm của Sư phụ tôi, chắc hẳn
là bởi vì thượng Đế muốn tránh cho tôi khỏi vị sự đau khổ phải chứng
kiến cái chết của Sư phụ tôi mà không làm gì được. Như vậy, đấng Thượng
Đế từ bi vô lượng đã giữ tôi ở cách xa giờ phút hấp hối của những người
thân yêu của tôi.
Nhóm chúng tôi đến dự thánh lễ Kumbha Mela ngày
Hai mươi ba tháng Một năm 1936. Quần chúng đông gần hai triệu người từ
khắp mọi nơi đổ dồn về thành phố, gây một cảnh tưởng rất náo nhiệt ồn
ào. Tôn giáo là lẽ sống của người dân Ấn Độ, từ người nông dân chất
phát đến người tu sĩ khất thực đã cắt đứt mọi sợi dây liên lạc trói
buộc với thế gian, đi tìm sự giác ngộ tâm linh để hưởng cái lạc thú vô
biên của cõi Tinh thần. Lẽ tất nhiên cũng có những kẻ giả mạo, bịp đời,
đội lốt nhà tu để sóng một đời ký sinh, ăn nhờ của bố thí, nhưng người
Ấn vẫn trọng vọng tất cả các tu sĩ vì trong số đó có một thiểu số những
bậc chân tu đắc Đạo ban rãi ân huệ thiêng liêng cho toàn thể xứ sở của
họ.
Chúng tôi trải qua ngày đầu tiên để đi nhìn xem cảnh vật chung
quanh. Hàng hà sa số những tín đồ Ấn giáo trầm mình dưới sông Hằng linh
thiên để rửa sạch tội lỗi, hoặc làm lễ dọn mình để cầu phước. Trên bờ
sông, những tín đồ cúng dường vật lễ dưới chân các vị tu sĩ râu tóc xồm
xoàm, những đoàn voi, ngựa đeo yên cương màu mè sặc sỡ rất đẹp, cùng
những đoàn lạc đà xứ Rajputana từ từ đi diễn hành trước mắt chúng tôi.
Một cuộc rước lễ của các tu sĩ sống khỏa thân theo phái tự nhiên Kỳ Na
Giáo (Jainism), tay cầm đạo kỳ bằng lụa diễn hành khắp nơi.
Những
tu sĩ mặc khố vải tụ hợp thành từng nhóm nhỏ, ngồi yên lặng, thân mình
bôi tro, trên trán có vẽ con mắt thánh bằng bột vàng. Những tu sĩ dòng
Swâmi đầu cạo trọc, mặc áo màu vàng sậm, đi qua lại với cây gậy tre và
cái bình bát cầm nơi tay. Gương mặt họ biểu lộ sự trầm lặng và an tịnh
của nội tâm trong khi họ đi dạo ngắm cảnh hoặc ngồi thảo luận đạo lý
với các đệ tử.
Rải rác đó đây, dưới cây to bóng mát, ngồi chung
quanh những đám củi lửa vừa đốt lên là những nhà tu khổ hạnh búi tốc
cột lên trên đỉnh đầu. vài vị trong số đó để râu dài đến một thước tây,
họ phải cột và thắc nút lại cho gọn. Họ ngồi thiền trong im lặng hoặc
đưa tay ban ân huệ cho người đi đường, trong số này là những người
thường dân đi xem lễ, những người đàn bà mặc sari màu mè sặc sở, những
kẻ hành khuất và những vị quốc vương ngồi chiễm chệ trên chiếc bành đặt
lưng voi v.v... những người thuật sĩ thân thể gầy còm làm những tư thế
vặn vẹo thân mình coi rất lạ mắt. những nhà hiền triết với tác phong
đạo mạo, trầm mặc, biểu lộ trạng thái bằng an của nội tâm. Trấn ác tất
cả những tiếng động ồn ào, là tiếng chuông ngân vang rền trong các ngôi
đền thờ.
Qua ngày thứ hai của cuộc lễ, chúng tôi đi viếng những
đạo viện và những túp liều tạm mới dựng lên để kính chào những nhà tu
sĩ thánh đức. Chúng tôi được ân huệ của vị Đạo trưởng phân bộ Giri của
dòng Swâmi, một tu sĩ khổ hạnh có khuôn mặt gầy ốm và cái nhìn sáng rực
như lửa. Kế đó chúng tôi đến viếng một đạo viện mà vị sư trưởng đã từng
trải qua chín năm tịnh khẩu và tịch cốc, chỉ dùng toàn trái cây mà
thôi. Nơi hành lang của đạo viện, có một tu sĩ mù tên là Pragla
Chakshu, rất tinh thông kinh điển và được tất cả các môn phái đều mến
chuộng.
Khi tôi đã chấm dứt một bài thuyết pháp bằng tiếng Hindi
và triết phái Vedanta, nhóm chúng tôi từ giã đạo viện êm đềm này để đến
viếng tu sĩ Krishnan ở gần bên, một vị tu sĩ có gương mặt khôi ngô tươi
nhuận và một vóc dáng mạnh khỏe. Một con sư tử cái được tập luyện thuần
nết, nằm dưới chân tu sĩ. Nhờ ảnh hưởng tâm linh của tu sĩ, con sư tử
này không chịu ăn thịt nữa mà chỉ ăn cơm và sữa tươi. Tu sĩ đã tập cho
nó biết ngân trong cổ họng một tiếng thánh ngữ AUM bằng một giọng thâm
trầm và ấm tiếng: nó có vẻ như một vật đã biết sùng tín thiêng liêng!
Kế
đó, chúng tôi đến viếng một vị tu sĩ kiêm học giả còn trẻ tuổi. Tôi xin
nhường lời cho vị bí thơ của tôi diễn tả cuộc gặp gỡ này trong tập Du
Ký của ông: "Chiếc xe Ford của chúng tôi vượt qua sông Hằng trên một
chiếc cầu nổi gập ghềnh và chạy len lỏi trong đám rừng người qua những
con đường nhỏ hẹp quanh co. Chúng tôi đi qua một chỗ nọ trên bờ sông,
mà đại đức Yoga nói rằng khi xưa Sri Yukteswar đã gặp đức Babâji. Đi
được một quảng khá xa, chúng tôi ngừng xe bước xuống đi bộ, vượt qua
đám khói của các tu sĩ đốt lửa củi trên bãi cát, và đến những túp liều
tạm của các tu sĩ khác. Một trong những lều tạm này cửa rất thấp, là
nơi tạm trú của Kara Patri, một tu sĩ đi ta bà còn trẻ tuổi, nổi tiếng
về học lực uyên thâm. Tu sĩ ngồi trong lều, hai chân kiết già trên một
đống rơm, chỉ mặc một bộ áo vàng sậm, và không sở hữu vật gì khác.
"Một
gương mặt thật tiêu diêu thanh thoát mỉm cười tiếp đón khi chúng tôi
cuối mình xuống thấp để chui vào lều và làm lễ dưới chân tu sĩ, dưới
ánh đèn dầu leo lét phát ra từ bóng đen trên vách. Gương mặt tu sĩ tỏ
vẻ hân hoan, đôi mắt và hàm răng trắng đều chiếu sáng trong đêm tối.
Người nói tiếng Hindi, nét mặt của người biểu lộ tình thương, lòng
nhiệt thành vì đạo và sự cao cả tâm linh, điều đó không ai có thể đoán
lầm.
"Chúng tôi hãy thử hình dung cuộc đời lý tưởng của một người
đã cắt đứt mọi sự trói buộc với trần gian, không hề bận tâm lo nghĩ về
việc ăn, việc mặc, không ăn thức ăn nấu chính, không cầm bình bát khất
thực, không hề lo nghĩ về tiền bạc, không cần làm gì để kiếm tiền,
không cần buôn bán làm ăn và phó mặc mọi sự cho Thượng Đế, không bận
nghĩ đến vấn đề về phương tiện di chuyển, không bao giờ dùng xe cộ, mà
chỉ đi bộ dạo theo bờ những con sông linh thiêng, và sau hết, không bao
giờ dừng chân ở một nơi nào lâu hơn một tuần lễ, để khỏi tạo nên những
sự lưu luyến, trói buộc. Một người đức độ khiêm tốn nhưng học vấn uyên
thâm về các thánh kinh Phệ Đà, có bằng tiến sĩ Văn Khoa và được ban
danh hiệu Shastri (bác học về khoa Thánh Kinh Tôn Giáo) tại trường đại
hộ Bénarès, đó là tu sĩ Kara Patri. Với một lòng thán phục vô biên, tôi
ngồi dưới chân tu sĩ. Tôi cảm thấy rằng lòng mong ước của tôi được biết
xứ Ấn Độ thực sự, xứ Ấn Độ thầm lặng và cổ kính, nay đã được thỏa mãn.
Tu sĩ Kara Patri chính là người đại diện xứng đáng của xứ Ấn Độ thần bí
và cao cả tâm linh đó..."
Tôi hỏi thăm Kara Patri về cuộc đời đi ta bà của ông ta: - Tu sĩ có mặc chiếc áo nào khác không, khi trời rét lạnh?
- Không, tôi chỉ có một áo cũng đủ.
- Tu sĩ có đem theo kinh sách gì không?
- Không, tôi giảng đạo bằng trí nhớ cho những ai chịu nghe tôi thuyết pháp.
- Tu sĩ có bận rộn công việc gì khác không?
- Tôi đi dạo trên bờ sông Hằng.
Những
lời này làm cho tôi hối tiếc rằng mình đã không có được một đời sống
giản dị như thế! Tôi nhớ đến Mỹ quốc, và những trách nhiệm nặng nề của
tôi. Tôi thầm nghĩ mà lòng buồn man mác: - Không, định mệnh của tôi
trong kiếp này là không phải đi dạo trên bờ sông Hằng!
Khi tu sĩ đã nói qua cho tôi biết đại khái về những thành quả tâm linh của y, tôi hỏi một câu hỏi quyết định:
- Tu sĩ diễn tả những điều đó theo Kinh Thánh, hay là theo kinh nghiệm bản thân?
Tu sĩ đáp với một nụ cười thành thật:
- Một nửa theo kinh sách, và một nửa theo kinh nghiệm của riêng tôi.
Chúng tôi lại đắm chìm trong im lặng và ngồi thiền định trong giây lát. Sau khi đã khiếu từ tu sĩ, tôi nói với bạn Richard:
- Đó là một ông vua ngự trên chiếc ngai bằng rơm mạ vàng!

Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:32

Cuộc viếng thăm Thánh Gandhi






Mahadev
Desai, bí thơ của thánh Gandhi, nghinh đón chúng tôi tại nhà ga Wardha
một buổi sáng sớm vào tháng Tám, khi chúng tôi vừa rời khỏi toa xe lửa.
Chúng tôi bước lên một chiếc xe hơi mui trần với ông Desai và ba người
nữa đi đón chúng tôi. Xe đi qua vài con đường lầy lội ở vùng quê, và
một lát sau đã đư chúng tôi đến đạo viện Maganvadi, nơi tịnh thất của
thánh Gandhi.
Ông Desai đưa chúng tôi vào thư phòng, tại đây thánh
Gandhi ngồi xếp bằng trên chiếu trãi dưới đất. Một tay cầm cây bút và
một tay cầm một tập giấy, ông tiếp đón chúng tôi với một nụ cười nồng
ấm. Ông viết trên tập giấy hai chữ: "Kính chào!" bằng chữ Hindi. Hôm ấy
là ngày thứ hai, lại là ngày ông giữ tịn khẩu trong tuần.
Tuy đó
là cuộc gặp gỡ đầu tiên, chúng tôi đã thông cảm ngay tức khắc. Năm
1925, Thánh Gandhi đã viếng trường Ranchi và có ghi những cảm nghĩ của
ngài trong quyển sổ lưu niệm dành cho các quý khách.
Thánh Gandhi
tuy có vẻ gầy ốm, nhưng tinh thần rất tráng kiện, toàn thân ngài toát
ra một sức mạnh tâm linh và sức khỏe thể chất lành mạnh. Đôi mắt nâu
dịu hiền chói rạng sự thông minh, lòng thành thật và óc phân biệt.
Không một nhà lãnh đạo quần chúng nào đã từng thu phục lòng dân một các
chắc chắn, bền vững như thánh Gandhi đối với hàng triệu dân Ấn Độ. Họ
đã tặng cho ngài cái danh hiệu Mahatma (bậc thánh) mà họ cảm thấy xuất
phát tự đáy lòng. Vì họ, ngài đã tự nguyện chỉ mặc quanh năm chỉ một
cái khố ngắn, biểu tượng sự hợp nhất của ngài với quảng đại quần chúng
nghèo khổ, lầm than.
"Những nhân viên lưu trú của đạo viện đều sẵn
sàng phục dịch đại đức, vậy đại đức hãy cứ tự nhiên mà tuỳ nghi sử
dụng." Thánh Gandhi nhã nhặn lịch sự cầm đưa cho tôi mảnh giấy viết tay
với những dòng chữ trên, khi ông Desai đưa chúng tôi ra khỏi thư phòng
để đến nơi nhà khách.
Chúng tôi đi qua những khu vườn tược và đồng
ruộng trổ hoa đến một ngôi nhà lợp ngói. Trước sân có một cái giếng
lớn, gần bên có một cối đá để xây lúa. Trong nhà khách chia ra làm
nhiều buồng ngủ nhỏ nhắn, mỗi buồn vừa một giường bố dệt bằng tay. Nhà
bếp quét vôi trắng có một vòi nước máy ở một góc và ở một góc khác có
một lò lửa đào dưới đất để nấu nướng. Chung quanh là những tiếng quạ
kêu, chim hót, vài tiếng bò rống và tiếng giùi mài giũa đá.
Nhìn
thấy tập Du Ký của bạn Richard. Ông Desai cầm lấy xem và viết trên một
trang giấy bảng liệt kê mười một điều giới răn của phong trào bất bạo
động (Satyagraha) mà tất cả những tín hữu và môn đệ nhiệt thành của
thánh Gandhi đều tự nguyện tuân theo:
" Bất Bạo Hành (Ahimsa), *
Ngay Thật, * Không Trộm Cắp, * Khiết Bạch, * Thanh Bần, * Cần Lao, *
Tiết Độ, * Vô Úy, * Khoan dung, * Dùng nội hóa (Swadeshi), Bỏ Kỳ Thị
Gia Cấp (đối với kẻ cùng đinh.) Những điều giới răng này phải được tuân
theo với một tinh thần nhỏ nhoi, khiêm tốn."
Ngày hôm sau, Thánh
Gandhi đã đích thân duyệt lại và ký tên vào trang đó, đề ngày hai mươi
bảy tháng Tám năm 1935. Hai giờ sau khi chúng tôi đến, là đến giờ ăn
trưa. Thánh Gandhi và độ hai mươi lăm tín hữu ngồi xếp bằng trên sàn
gạch, có lót những manh chiếu nhỏ vuông vừa một người ngồi, trước mặt
mỗi người có đặt những dĩa chén bằng thau chùi sạch bóng. Sau một bài
cầu nguyện tập thể, bữa ăn mới bắt đầu. Bữa ăn gồm có Chapiti, một loại
bánh nướng làm bằng bột mì có thoa bơ, các món rau đậu xào nấu ngon
lành, mứt và cam.
Thánh Gandhi còn đặc biệt dùng thêm món rau luộc
nhuyễn, quết thành cục, rất đắng, được coi là có dược tính lọc máu rất
tốt. Ngài lấy cái muỗng sớt lấy một phần rồi để vào dĩa của tôi. Sợ
đắng, tôi nuốt ực với nước lạnh, còn ngài chỉ từ từ ăn từng miếng một
cách thản nhiên.
Chỉ một việc nhỏ nhặt ấy cũng đủ cho tôi nhận xét
rằng Thánh Gandhi có khả năng tách rời tâm thức ra khỏi giác quan tuỳ ý
muốn. Tôi nhớ lại câu chuyện mổ ruột dư của ngài cách đây mấy năm, đã
được tường thuật trên mặt báo chí xa gần, với rất nhiều lời bình phẩm,
ca tụng. Nằm trên bàn mổ Thánh đã từ chối không chịu chụp thuốc mê, và
đã trò chuyện vui vẻ với các tín hữu đến thăm suốt cơn giai phẩu với nụ
cười bình tĩnh hồn nhiên, tỏ ra ngài không biết đau đớn chi cả!
Trưa
hôm ấy, tôi có dịp trò chuyện với một vị nữ đệ tử ưu tú của Thánh
Gandhi, cô Madeleine Slade, ái nữ của một vị Thủy sư Đô Đốc trong Hải
quân Hoàng Gia Anh nay lấy tên Ấn Độ là Mirabai. Gương mặt bình tĩnh và
cương nghị của cô chói rạng với một niềm hứng khởi nhiệt thành, khi cô
nói chuyện với tôi, bằng tiếng Hindu rất thạo (thổ ngữ miền Bắc Ấn) về
những hoạt động hàng ngày của cô.
- Công việc tái thiết nông thôn
rất là thích thú! mỗi ngày lúc năm giờ sáng, một nhóm tín hữu của tôi
ra đi để phục vụ những dân làng kế cận và giáo dục học về vệ sinh
thường thức. Chúng tôi phải ra tay quét dọn những chòi tranh và chí đến
buồng vệ sinh của họ. Dân làng vốn thất học, họ không thể giáo hóa
được, trừ khi bằng cách làm gương!
Nói xong, cô cười lớn thật giòn tan.
Tôi
nhìn mà thán phục người phụ nữ ấy, vốn thuộc dòng dõi cao sang quyền
quý nước Anh, mà đức khiêm tốn xứng đáng với chúa Ki Tô đã làm cho cô
có thể hạ mình làm những công việc nhỏ nhoi dơ bẩn, thường chỉ dành cho
giai cấp cùng đinh hạ tiện của xứ Ấn Độ. Cô nói tiếp:
- Tôi đến Ấn
Độ năm 1925. Ở xứ này tôi cảm thấy như tôi đã thực sự trở về quê hương
xứ sở. Bây giờ tôi không còn muốn trở về với nếp sống cũ và những thích
thú trước kia của tôi nữa.
Trong giây lát, cô Mirabai đã bận rộn
với công việc quay chỉ khi cô ngồi xuống trước cái bánh xe quay
(charka.) Do sự cố gắng của Thánh Gandhi, những bánh xe quay chỉ ngày
nay đã xuất hiện khắp nơi trong các vùng làng mạc thôn quê của xứ Ấn
Độ.
Thánh Gandhi có những lý do lành mạnh và vững chắc để khuyến
khích việc phục hồi những ngành tiểu công nghệ và thủ công, nhưng ông
không chủ trương tẩy chay một cách cuồng tín tất cả mọi sự phát minh
tiên tiến, máy móc cơ khí, xe hơi, tàu hỏa, vô tuyến truyền thanh, đều
có đóng góp những vai trò quan trọng trong cuộc đời hoạt động vĩ đại
của ngài! Một nửa thế kỷ hoạt động công ích, vào tù ra khám, vật lộn
hằng ngày với những vấn đề thực tế và những va chạm phũ phàng trên
trường chính trị, chỉ càng làm tăng cường thêm những đức tính quân
bình, cởi mở, sáng suốt, lành mạnh và xét đoán với một tinh thần hài
hước cái trò bi kịch lạ lùng trên sân khấu của cuộc đời.
Đúng tám
giờ tối hôm ấy, Thánh Gandhi chấm dứt cơn tịnh khẩu. Những công việc bề
bộn của đời ngài bắt buộc ngài phải sử dụng thời giờ một cách đúng đắn
từng giây từng phút.
- Kính chào đại đức!
Lời tiếp đón của
Thánh Gandhi lần này không phải viết trên giấy! Chúng tôi vừa mới bước
vào phòng làm việc của ngài, chỉ trang bị đơn giản tối đa với những tấm
chiếu vuông nhỏ trải dưới đất, không có ghế, một cái bàn thấp với sách
vở, giấy má, vài cây bút mực thường (không phải bút máy) và một cái
đồng hồ treo trên vách. Giữa một bầu không khí an tịnh, thâm nghiêm,
Thánh Gandhi nở một nụ cười cởi mở và nói:
- Nhiều năm trước đây,
tôi bắt đầu giữ giới tịnh khẩu mỗi tuần một ngày để có thời giờ coi sóc
và trả lời thơ tín. Nhưng bây giờ thì tịnh khẩu đó đã trở thành một nhu
cầu tâm linh thiết yếu. Một kỷ niệm im lặng định kỳ không phải là một
điều khổ hạnh, mà là một ân huệ tốt lành".
Khi tôi từ giã Thánh để
sửa soạn đi ngủ và chúc ngài một đêm yên giấc, ngài cầm đưa cho tôi một
lọ dầu xả trừ muỗi và vừa cười vừa nói:
- Giống muỗi ở Wardha không biết gì về Ahimsa (Bất Bạo hành) đâu nhé đại đức!
thiếu trang 139, 140
Ít
lâu sau đó, Thánh Gandhi bị giam vì bị một án tù chính trị. Bà ấy cũng
tình nguyện xin vào sống trong tù để phục dịch cho chồng. Bà đã chết
trong khám đường tại Poona năm 1944. Thánh Gandhi thường nhật vẫn bình
thản, ít khi lộ vẻ vui buồn ra ngoài mặt, thế mà khi bà ấy qua đời,
ngài đã sụt sùi khóc nức nở. Về sau, những môn sinh của ngài đề nghị
xây một đài kỷ niệm công đức của bà, lời kêu gọi ấy được đáp ứng nhiệt
liệt với mười hai triệu rưỡi rupee từ khắp nơi trên toàn quốc gởi đến.
Thánh Gandhi đã quyết định sử dụng ngân khoản đó vào công việc cứu trợ
xã hội để cải tiến sinh hoạt nông thôn trong các giới phụ nữ và nhi
đồng.
Ngày nọ, tôi hỏi Thánh Gandhi:
- Thưa đại nhân, xin ngài cho biết quan niệm của ngài về chủ trương Ahimsa?
- Đó là Bất Bạo Hành, tức là không làm hại bất cứ một sinh vật nào, dù bằng tư tưởng hay hành động.
-
Đó hẳn là một lý tưởng cao đẹp! Nhưng nếu có người hỏi: Ta có nên giết
một con rắn độc chăng để tự vệ, hoặc để bảo vệ kẻ khác?
- Tôi
không thể giếng một con rắn mà không vi phạm hai điều giới răng này,
là: Vô Úy và Bất Sát. Trong trường hợp đó tôi sẽ cố gắng hóa giải con
rắn bằng tình thương. Những tiết điệu rung động của tình thương từ
trong lòng tôi phát ra sẽ có thể làm cho nó lắng dịu. Không thể hạ thấp
những lý tưởng tâm linh của tôi vìo lợi ích cá nhân trong bất cứ hoàn
cảnh nào.
Với sự thành thật đáng yêu của ngài, Thánh Gandhi nói thêm:
-
Tuy nhiên tôi phải thú thật rằng tôi sẽ không thể bình tĩnh tiếp tục
cuộc nói chuyện này nếu thình lình tôi bị đứng trước một con rắn hổ
mang.
Màn đêm vẫn còn dày đặc khi tôi thức dậy lúc năm giờ sáng.
Đời sống thôn quê đã bắt đầu nhộn nhịp, trước hết là tiếng động của
chiếc xe bò lăn bánh trên đường lộ ngang qua trước cổng đạo viện, kế đó
là những người nông dân quảy gánh nặng trên đỉnh đầu họ và lầm lũi đi
trong đêm tối. Sau bữa ăn điểm tâm, chúng tôi đến từ giã Thánh Gandhi.
Ngài đã thức giấc từ bốn giờ để đọc kinh cầu nguyện mỗi buổi sáng.
- Kính chào đại nhân, chúng tôi xin từ biệt ngài!
Tôi quỳ xuống khấu đầu đảnh lễ dưới chân ngài và nói"
Dưới sự điều khiển trong nom của ngài, Ấn Độ sẽ được an toàn.
Nhiều
năm đã trôi qua sau cuộc gặp gỡ Thánh Gandhi tại Wardha. Trận thế chiến
thứ hai đã bùng nổ khắp nơi. Trên không, trên đất liền và trên các đại
dương đều dẫy đầy sát khí. Trong số các nhà lãnh đạo thế giới, Thánh
Gandhi là người duy nhất đã áp dụng chiến thuật "Bất Bạo Động" để chống
lại sức mạnh cường bạo của võ khí tối tân. Để giải quyết những nỗi bất
công, hà khắc của chế độ thực dân, Thánh Gandhi đã dùng những biện pháp
ôn hòa, không dùng bạo lực. Những biện pháp này đã luôn tỏ ra vô cùng
hiệu quả. Ngài giải thích chủ thuyết ôn hòa ấy như sau:
- Tôi đã
nhận thấy rằng sự sống vẫn tồn tại giữa những cơn tàn phá, hủy diệt.
Bởi vậy, hẳn phải có một định luật cao cả hơn định luật hủy hại trong
thiên nhiên. Chỉ có định luật ấy mới đem lại một xã hội trật tự, điều
hòa và mới làm cho cuộc đời có ý nghĩa.
Nếu đó là định luật của
đời sống, chúng tôi phải thể hiện nó trong cuộc đời hàng ngày. Trong
mọi cuộc tranh chấp, xung đột, mỗi khi chúng tôi phải đương đầu với một
địch thủ, hãy chinh phục bằng tình thương. Tôi đã nhận thấy rằng định
luật tình thương đã tác động hữu hiệu trong cuộc đời tôi bằng một cách
mà định luật hủy hại không thể hiện được.
Ở Ấn Độ chúng tôi đã
chứng nghiệm sự tác động của định luật ấy trên một quy mô vĩ đại. Tôi
không nói rằng toàn thể Bốn trăm triệu dân chúng Ấn đã thấm nhiễm được
chủ thuyết Bất Bạo Hành, nhưng tôi quả quyết rằng lý tưởng ấy đã thấm
nhập một cách sâu xa hơn bất cứ một chủ thuyết nào khác trong một thời
gian rất ngắn ngoài sức tưởng tượng.
Người ta cần phải trải qua
một thời kỳ luyện tập côn phu ráo riết mới đạt tới lý tưởng bất bạo
hành. Đó là một đời sống có kỷ luật, cùng như đời sống của một người
lính chiến. Trạng thái tâm linh đó chỉ có thể sở đắc đến mức hoàn toàn
khi nào tư tưởng, lời nói và việc làm đều được kết hợp trong một hòa
điệu thích đáng nếu chúng tôi quyết định áp dụng sự chân thật và bất
bạo động (hay lòng từ ái) như một phương châm của đời sống hàng ngày.
Thánh
Gandhi đã huấn luyện hàng nghìn môn đệ tin theo chủ thuyết bất bạo động
của ngài, những người này đã phát nguyện mười một điều giới răn khắc
khổ đã nói ở phần trên. Đến lượt những vị này đi truyền bá cái lý tưởng
đó khắp nơi trong xứ, để giáo dục quần chúng Ấn làm cho họ hiểu những
giá trị tâm linh và lợi ích vật chất của chủ thuyết bất bạo hành. Ngài
đã võ trang quần chúng Ấn Độ bằng những khí giới bất bạo động là sự bất
hợp tác với chế độ thống trị, sẵn sàng chịu đựng những sự ngược đãi,
bắt bớ giam cầm, và đến cả sự chết, thay vì sử dụng võ khí giết người.
Lịch sử đã chứng minh rằng bằng những phương pháp ôn hòa đó, Thánh
Gandhi đã đạt được nhiều thành quả chánh trị cho xứ sở của ông hơn bất
cứ một nhà lãnh đạo quốc gia nào khác đã được bằng võ khí và bạo lực.
Chính
sách bất bạo động của Thánh Gandhi được áp dụng một cách độc đáo không
những trên sân trường chính trị mà cũng trên những địa hạt tế nhị và
phức tạp của vấn đề tôn giáo và cải tạo xã hội. Chính sách ấy đã giải
quyết êm thấm nhiều vụ xung đột gay go nan giải trường kỳ giữa người Ấn
Giáo và người Hồi Giáo. Hàng trăm nghìn người Hội Giáo đã coi Thánh
Gandhi như nhà lãnh đạo của họ, Những người "bất khả tiếp xúc"
Intouchables, thuộc giai cấp cùng đinh mạt hạng trong xã hội coi ngài
như đấng cứu tinh của họ. Thánh Gandhi có nói: "Nếu tôi phải luân hồi
tái sinh trở lại, tôi ước mong đầu thai làm một người cùng đinh trong
giai cấp hà tiện, bởi vì như thế tôi sẽ phụng sự họ đắc lực hơn".
Danh
hiệu "Mahatma" mà quần chúng Ấn dùng để gọi ngài, có nghĩa là "Đại
Hồn", hay Đại Linh Căn. Ngài được toàn thể dân chúng mến yêu và trọng
vọng như một đấng từ phụ. Thánh Gandhi hoàn toàn tin tưởng nơi bản tính
tốt lành tự nhiên thiên phú của con người. Những khuyết điểm sai lầm
đương nhiên không thể tránh khỏi của người đời không làm cho ngài mất
đi lòng tin tưởng đó. Ngài viết:
- Dầu cho kẻ bị đối phương dối
gạt lừa bịp đến hai mươi lần, người Satyagrahi (tín hữu môn phái bất
bạo hành) cũng sẵn lòng tín nhiệm y lần thứ hai mươi mốt, bởi vì sự tin
tưởng toàn vẹn nơi thiện tính căn bản của con người vốn là tinh hoa
then chốt của môn phái Satyagraha(phong trào bất bạo động của Thánh
Gandhi).
Ngày nọ, có người nói với Thánh Gandhi:
- Thưa đại nhân, ngài là một nhân vật độc đáo, phi thường. Chắc ngài không nghĩ rằng thế gian có thể hoạt động giống như ngài?
Thánh Gandhi đáp:
-
Thật lạ thay mà thấy rằng con người luôn luôn tự dối mình. Họ tưởng
rằng họ có thể cải tiến được cái xác phàm, nhưng không thể nào khai
thác những khả năng tiềm ẩn của linh hồn. Tôi muốn chứng tỏ rằng nếu
tôi có được ít nhiều khả năng đó, tôi cũng chỉ là một người yếu kém bất
toàn như tất cả mọi người. Tuy nhiên, tôi có đủ sự khiêm tốn để thú
nhận những điều lầm lạc, sai quấy của mình để sửa đổi lại. Tôi chỉ có
một đức tin vững chắc nơi Thượng Đế, mến yêu sự thật và cố gắng thực
hiện lòng từ ái. Nhưng phăi chăng tất cả mọi người đều có sẵn tiềm tàng
những đức tính đó ở tự nơi mình?
Nếu con người có thể thực hiện
những phát minh mới mẻ tân kỳ trong cõi giới hiện tượng, thì họ há phải
đành thú nhận sự phá sản của địa hạt tâm linh? Họ há phải là loài súc
vật trước hết, rồi sau mới là người?
Tôi tranh đấu không ngoài mục
đích đem lại hòa bình thế giới. Nếu phong trào khởi nghĩa của Ấn Độ
được thành công trên căn bản chủ thuyết bất bạo động, điều đó sẽ tăng
thêm một ý nghĩa mới cho lòng yêu tổ quốc nói chung, và nếu tôi có thể
nói với tất cả tấm lòng khiêm tốn, cho chính đời sống con người vậy.
Sau khi Thánh Gandhi bị ám sát tại New Delhi ngày Ba mươi tháng Một năm 1948, Thủ tướng Nehru tuyên bố:
-
Ngài quả thật xứng đáng là người cha của dân tộc, và một thằng điên đã
giết ngài. Hàng triệu người dân Ấn đang thương khóc ngài bởi vì ánh
sáng soi đường cho họ đã tắt. Ngọn lửa thiêng chói rạng trên mảnh đất
này không phải là thứ ánh sáng tầm thường. Nó sẽ còn chói rạng trên xứ
này đến muôn đời về sau, và cả thế giới đều sẽ nhìn thấy.
Năm
tháng trước đó, Ấn Độ đã thực hiện nền độc lập quốc gia của mình trong
sự hòa bình. Công trình của Thánh Gandhi đã được thành tựu mỹ mãn. Khi
Thánh Gandhi từ từ ngã quỵ với ba viên đạn bắn vào mình ông, một thân
hình mảnh khảnh của một ông già đã Bảy mươi tám tuổi, ngài chấp hai tay
trong cử chỉ vái chào theo phong tục Ấn Độ, biểu lộ sự tha thứ trầm
lặng của ngài đối với thủ phạm. Luôn luôn là một người có tinh thần
nghệ sĩ độc đáo tuyệt luân vào lúc chết. Tất cả hi sinh trong cuộc đời
vị tha vô kỷ của ngài đã kết thúc bằng cái cử chỉ cuối cùng biểu lộ
tình thương đối với kẻ sát nhân cuồng tín. Nhà bác học Albert Einstein
đã viết về Thánh Gandhi như sau:
- Những thế hệ tương lai sẽ không
ngờ rằng một người như ngài có thể xuất hiện bằng xương bằng thịt để
dẫm chân đi trên mặt đất.
Bức điện tín từ Tòa Thánh La Mã gửi đến phân ưu:
-
Việc ám sát Thánh Gandhi đã gây nên xúc động bi ai tại Tòa Thánh. Ngài
được tưởng niệm như một bậc sứ đồ nêu cao những đức hạnh của chúa Ki
Tô.
Cái chết bi thảm của Thánh Gandhi vì chánh nghĩa đeo lại sự
hòa hợp dân tộc cho xứ Ấn Độ đã nêu cao thông điệp nhắn nhủ của ngài
cho một thế giới đang bị giày xéo bởi sự tranh chấp xung đột trên tất
cả các vùng lục địa. Ngài đã tuyên bố bản thông điệp đó với những lời
lẽ đầy ý nghĩa tiên tri:
- Lý tưởng bất bạo động đã đến với nhân
loại và nó sẽ tồn tại với thời gian. Nó là ngọn cờ tiền phong của nền
hòa bình thế giới.
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:33

Một chuyện hồi sinh






Buổi
sáng đẹp trời, Sri Yukteswar bình luận Thánh kinh Gia Tô tại đạo viện ở
Setampore. Ngoài ra vài đệ tử khác, tôi cũng có mặt với một nhóm thiếu
sinh của tôi ở trường học Ranchi.
Sư phụ bình luận đến đoạn phục
sinh nhiệm mầu của thánh Lazare. Xong rồi, người xếp quyển thánh kinh
đạt trên đầu gối và đắm chìm trong im lặng. Một lúc sau, Sư phụ nói một
cách trịnh trọng:
- Thầy cũng đã từng chứng kiến một phép mầu
tương tự, đức Lahiri Mahâsaya đã làm cho một người bạn của Thầy sau khi
đã chết rồi, được hồi sinh trở lại.
Sự tò mò hiện trong đôi mắt
của những thiếu sinh đứng chung quanh tôi. Phần tôi, tôi luôn luôn
thích thú được nghe những câu chuyện kinh nghiệm của Sri Yukteswar về
đức Tôn sư của người. Sư phụ bắt đầu nói:
- Râma với Thầy là hai
người bạn thiết không hề rời nhau. Nhút nhát và thích sống cô đơn, y
chỉ đến tịnh thất của sư phụ vào lúc sáng sớm, là những giờ ít có những
đệ tử ở gần bên. Vì thầy là người bạn thân nhất, nên Râma thường tâm sự
cho Thầy biết những tiến bộ tâm linh củ mình và nhờ đó Thầy cũng hưởng
thụ được nhiều sự ích lợi.
Gương mặt của Dri Yukteswar dịu hẳn lại vì kỷ niệm đó.
-
Thình lình, Râma bị một cơn thử thách rất nặng. Y mắc bịnh thời khí Á
Châu. Vì sư phụ thầy không bao giờ quên kêu gọi đến các bác sĩ trong
mọi trường hợp trọng bịnh, nên hai vị y sĩ chuyên khoa được mời đến một
cách khẩn cấp. trong khi hai vị đang săn sóc người bịnh, Thầy hết lòng
cầu nguyện Thượng Đế để cho sư phụ ra tay cứu giúp. Thầy bèn hối hả đến
gặp Sư phụ và vừa khóc vừa thuật chuyện lại. Sư phụ nói với một nụ cười
khích lệ: "Các vị y sĩ đang lo chữa cho Râma. Nó sẽ hết bịnh".
Thầy
vui mừng trở về giường bịnh của Râma, lúc ấy đang nằm trong cơn bất
tỉnh! Một trong hai vị y sĩ nói với thầy, với một cử chỉ thất vọng: "Y
chỉ còn sống chừng vài giờ nữa thôi".
Thầy lại chạy đến gặp sư phụ. Người vẫn vui vẻ nói: "Các y sĩ đều là những người có lương tâm. Thầy chắc là Râma sẽ bình phục".
Thầy
lại trở về chỗ cũ, thì các vị y sĩ không còn trực bên giường bịnh nữa,
một vị để lại cho Thầy ít chữ: "Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình,
nhưng trường hợp này đã tuyệt vọng!"
Râma dường như đã sắp trút
hơi thở cuối cùng. Thầy không hề nghi ngờ lời nói của Sư phụ, tuy vậy
nhìn thấy bịnh trạng của Râma mỗi lúc càng suy sụp dần, Thầy đã nghĩ
rằng: "Thôi, thế là hết!" Thầy rán săn sóc y với hết sức mình. Bỗng y
mở mắt kêu lên:
- Yukteswar, anh hãy chạy mau cho sư phụ hay rằng
tôi sắp chết. Yêu cầu người ban ân huệ cho thể xác tôi trước khi làm lễ
hỏa táng.
Nói vừa dứt lời, Râma thở dài một tiếng và trút linh hồn.
Thầy
khóc trọn một giờ trên xác chết của Râma. Luôn luôn ôn hòa yên tịnh lúc
sinh thời, y đã đạt tới sự yên tĩnh hoàn toàn trong lúc chết. Một đệ tử
vừa bước vào, Thầy yêu cầu y hãy trực tại đó cho đến khi Thầy trở về.
Hoàn toàn thất vọng, thầy đi đến tịnh thất của sư phụ. Sư phụ vừa mỉm
cười vừa hỏi:
- Râma mạnh giỏi thế nào?
Thầy đáp một cách run rẩy:
-
Bạch sư phụ, sư phụ sẽ thấy y trong giây lát! Trong vài giờ nữa, sư phụ
sẽ có thể chiêm ngưỡng xác chết của y trước khi đem đi hỏa táng ở nghĩa
địa!
Nói đến đó, thầy ngường bặt và khóc sướt mướt. Sư phụ nói:
- Con hãy bình tĩnh, Yukteswar. Hãy ngồi xuống để tham thiền.


phụ liền đắm chìm trong cơn đại định. Trong buổi tối và đêm hôm đó diễn
ra trong sự im lặng hoàn toàn, Thầy cố gắng lấy sự bình tĩnh những vô
hiệu quả. Đến sáng, Sư phụ nhìn Thầy, an ủi:
- Ta thấy con hãy còn
xúc động. Tại sao hôm qua con không nói rõ là con ước mong thầy cứu
giúp cho Râma một cách cụ thể, dưới hình thức một phương thuốc nào đó
chẳng hạn?
Sư phụ bèn chỉ một cái đèn dầu phộng, tim bấc để nằm trong một cái bình đựng dầu hình giống như cái chén.
- Con hãy rót dầu từ trong bình đó ra một cái lọ, rồi con hãy rót đúng bảy giọt vào trong miệng của Râma.
Thầy phản đối:
- Bạch sư phụ, y đã chết từ trưa ngày hôm qua, dầu này nay còn dùng để làm gì?
- Không sao! Con hãy làm như lời Thầy dặn!
Sự
vui vẻ của Sư phụ thật không hiểu nổi. Thầy lấy làm buồn bực vô cùng,
tuy vậy Thầy cũng lấy một ít dầu và trở về nhà của Râma.
Thầy thấy
thân mình y đã cứng đơ trong trạng thái của xác chết. Tuy vậy, Thầy
cũng lấy một ngón tay cậy miệng y và nhỏ dầu vào giữa hai hàm răng cắn
chặt của y.
Khi đã nhỏ đu bảy giọt dầu vào miệng y. Râma cử động
mạnh. Những bắp thịt của y run lên từ đầu đến chân, y liền ngồi nhỏm
dậy và nói:
- Tôi thấy sư phụ mình bao bọc hào quang sáng rỡ như
mặt trời, chung quanh có những tia chớp. Người ra lịnh cho tôi: "Con
hãy ngồi dậy và hãy quên đi giấc ngủ của con. Hãy cùng với Yukteswar
đến đây với Thầy!"
Thầy còn chưa tin những gì đang diễn ra trước
mắt, thì Râma đã ngồi dậy và tỏ ra có đủ sức để cùng đi với Thầy đến
nhà sư phụ. Đi đến nơi, y cúi lạy dưới chân sư phụ và vừa khóc vừa tạ
ơn.
Sư phụ không còn cảm thấy cái vui nào hơn. Đôi mắt người long lanh sáng nhìn Thầy với một cái nhìn có ý nghĩa. Người nói:
-
Yukteswat, thầy chắc rằng từ nay con sẽ không bao giờ rời khỏi chai dầu
phộng! Khi con vừa thấy một xác chết, con chỉ cần đổ bảy giọt dầu là có
thể đẩy lui được Thần Chết!
- Bạch Sư phụ, sư phụ chế diễu con và con chưa hiểu tại sao, xin Sư phụ giải thích rõ về sự lầm lạc của con".
Đức Lahiri Mahâsaya bèn giải thích:
-
Thầy đã nói lập lại hai lần rằng Râma sẽ khỏi bịnh, nhưng con vẫn chưa
hoàn toàn tin lời Thầy. Thầy không hề nói rằng các y sĩ sẽ cứu y khỏi
chết, mà chỉ nói rằng học đang săn sóc y. Giữa hai điều đó, không hề có
một sự liên hệ về nhân quả. Thầy không muốn can thiệt vào việc làm của
các y sĩ, họ cũng cần phải sống!
Sư phụ vui vẻ nói tiếp:
- Con
hãy biết rằng Chân Như Đại Ngã (Paramatman) có thể chữa khỏi bất cứ
người bịnh nào, dù rằng có hay không có thầy thuốc ở gần bên.
Thầy thú nhận một cách bẽn lẽn:
- Bạch sư phụ, con đã thấy lỗi của con. Kể từ nay con biết rằng lời nói của sư phụ cũng đủ làm đảo lộn cả vũ trụ!
KhiSri
Yukteswar vừa kể xong câu chuyện bi kịch lạ lùng ấy, một trong những
thiếu sinh của tôi đưa ra một câu hỏi thật ngây thơ:
- Bạch Tôn sư, tại sao đức sư tổ lại cho uống dầu phộng?
-
Con hỡi, chất dầu phộng không có quan hệ gì cả, vì ta trong mong ở sư
phụ một hành động cụ thể nào đó, nên người lấy bất cứ vật gì nằm trong
tầm tay, như một tượng trưng để khêu gợi nơi ta một đức tin mãnh liệt.
Sư phụ để cho Râma chết bởi vì ta đã có sự nghi ngờ. Nhưng Sư phụ biết
rằng, khi người đã tuyên bố rằng Râma sẽ khỏi bịnh, thì việc đó phải
xảy ra đúng y như vậy, dẫu rằng phải làm cho Râma hồi sinh sau khi đã
chết, vì bịnh thời khí này thường làm chết người!
Sri Yukteswar cho nhóm thiếu sinh đi về, người bảo tôi ngồi trên nệm gần bên, và nói với một giọng nghiêm trọng khác thường:
-
Yogânanda con hỡi, từ thuở lọt lòng mẹ, con đã luôn luôn sống với những
vị đệ tử của đức Lahiri Mahâsaya ở chung quanh con. Sư phụ ta đã sống
cuộc đời siêu việc của người trong sự ẩn dật, và nhiệt liệt từ chối
không cho phép các đệ tử thành lập một cơ quan tinh thần nào căn cứ
trên những giáo lý của người. Tuy nhiên, người đã đưa ra một lời tiên
tri có ý nghĩa:
"Vào khoảng năm chục năm sau khi Thầy từ trần,
cuộc đời Thầy sẽ được ghi chép lại vì pháp môn Yoga sẽ gây nên một sự
thích thú sâu xa ở phương Tây. Tiểu sử Thầy sẽ là một thông điệp Yoga
lưu truyền đi khắp thế giới để giúp cho việc thiết lập một nền thân hữu
đại đồng trong nhân loại".
Sri Yukteswar nói:
- Yogânanda con hởi, con phải thực hiện việc lưu truyền bức thông điệp đó bằng cách viết tiểu sử của sư phụ ta.
Lahiri
Mahâsaya từ trần năm 1895 và quyển sách này được viết xong vào năm
1945. Tôi phải lưu ý đến sự kiện này là năm 1945, lại trùng hợp với năm
mở màn cho một kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên của nguyên tử lực. Hơn
bất cứ lúc nào hết, vấn đề hòa bình và tình thương trong nhân loại lại
được nêu ra, vì nếu không có hai điều này thì việc lạm dụng nguyên tử
lực sẽ tiêu diệt nhân loại trên mặt quả đia cầu, với tất cả những vấn
đề khó khăn của họ.
Lòng bác ái, tương trợ lẫn nhau, tức là những
phương thuốc để hàn gắn những vết thương của nhân loại, không thể nẩy
sinh ra từ những sự tranh luận lý trí giữa người đời, mà do sự ý thức
được tính đồng nhất giữ mọi loài vạn vật, vì là cùng xuất xứ từ một
nguồn gốc duy nhất tức là Thượng Đế. Mong rằng pháp môn Yoga, được phổ
biến rộng rãi trên thế gian không phân biệt chủng tộc và tín ngưỡng, sẽ
là cái khí cụ để thể hiện lý tưởng bác ái đại đồng trong nhân loại.
Ít
có sử gia nào đã vạch rõ sự kiện này, là sự tồn tại của nền văn minh Ấn
Độ như một quốc gia cổ nhất thế giới, không phải là một việc ngẫu nhiên
tình cờ, mà là cái hậu quả hợp lý của lòng sùng thượng của dân tộc Ấn
đối với những chân lý trường cửu muôn đời. Những chân lý này, nền văn
minh cổ Ấn Độ đã từng nêu cao và làm sáng tỏ trải qua các thời đại do
bởi các bậc thánh nhân hiền triết. Chính điều ấy đã làm cho nền văn
minh Ấn Độ có thể thách thức thời gian, trong khi thời gian đã tiêu
diệt các nền văn minh khác.
Trong Thánh kinh Buble có thuật chuyện
Abraham cầu nguyện đấng Thiêng Liêng che chở cho dân tộc Sodome, và
được câu trả lời của đấng Vô cùng: "Dân tộc ấy sẽ không bị tiêu diệt,
nhờ bởi mười bị hiền giả của họ". Câu chuyện này gieo một tia ánh sáng
mới để giúp cho ta hiểu lý do vì sao xứ Ấn Độ đã thoát khỏi cái số phận
của Babylone, Ai Cập và những nước lớn khác của đấng Thiêng Liêng chỉ
rõ ràng một dân tộc được tồn tại không phải nhờ sự tiến bộ vật chất, mà
là nhờ bởi sống thuận theo đạo lý.
Mong sao nhân loại ngày nay có
thể nghe lời cảnh cáo thiêng liêng đó, trong một thế kỷ đã từng trải
qua hai cuộc Thế Chiến đẫm máu. Một quốc gia nào không đếm được ít nhất
là mười người hiền đức chắc chắn là sẽ đi vào những bậc thánh nhân hiền
triết của nó. Từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, những bậc sứ giả của
Thiêng Liêng đã từng thánh hóa xứ Ấn Độ. Những bậc hiền giả hiện kim
như Lahiri Mahâsaya và vị đệ tử người là Sri Yukteswar đã xuất hiện để
tuyên bố rằng pháp môn Yoga là cần thiết cho nền hạnh phúc và sự sinh
tồn của một quốc gia, một dân tộc, hơn cả những thành quả tiến bộ vật
chất, kỹ thuật.
Cho đến nay, chỉ có rất ít tài liệu được công bố
về đời sống của đức Lahiri Mahâsaya và giáo lý của người. Trong khoảng
ba mươi năm, tôi đã gặp ở Ấn Độ, Mỹ quốc và Âu châu một sự thích thú
nồng nhiệt về pháp môn Yoga qua sự diễn đạt và phổ biến của Tôn sư. Do
đó, ngày nay người ta cảm thấy cần công bố một bản tiểu sử của đức Tôn
sư ở bên các nước Tây Phương, là nơi người ta chỉ biết rất ít về đời
sống của các nhà đạo sĩ Yogi hiện đại.
Lahiri Mahâsaya sinh ngày
Ba Mươi tháng Chín năm 1828 tại làng Ghurni, quận Nadia, gần
Krishnagar, tỉnh Bengale, Ấn Độ. Sinh trưởng trong một gia đình Bà La
Môn đạo hạnh, ông là con út của bà Muktakashi, vợ kế Gaua Mohan Lahiri.
Bà mẹ từ trần từ ngày ông còn thơ ấu.

Người thiếu niên tên gọi
Shyama Charan Lahiri trải qua thời kỳ thơ ấu tại nhà cha mẹ tại quận
Nadia. Hồi mới lên ba bốn tuổi, Lahiri đã biết ngồi thiền theo tư thế
Yoga.
Tài sản của gia đình Lahiri bị tàn phá vào mùa đông năm
1833, khi con sông Jalangi ở gần nhà thình lình đổi giòng nước và đổ
vào sông Hằng. Một ngôi đền thờ thần Shiva do gia đình Lahiri dựng lên
cùng với ngôi nhà đều bị giòng nước cuốn đi mất.
Tôn ông Gaur
Mohan Lahiri và gia đình bèn rời khỏi Nadia và định cư tại Bénarès, tại
đây ông mới xây dựng một ngôi đền Shiva khác. Tôn ông điều khiển gia
đình theo giới luận Phệ Đà, gồm có những nghi thức lễ bái, thực hành
hạnh bố thí, và học thánh kinh. Tâm hồn ngay chính và khoáng đạt, tôn
ông vẫn không xa cách trào lưu tư tưởng cận đại.
Thuở nhỏ Lahiri
theo học các môn Phạn ngữ và sinh ngữ, thánh kinh Phệ Đà, và từng tham
dự một cách say mê những cuộc thảo luận triết lý giữa các nhà bác học
Bà La Môn.
Lahiri là một thanh niên tốt bụng, dễ thương và được
các bạn hữu mến chuộng. Thân hình cân đối và khỏe mạnh, chàng rất giỏi
về môn bơi lội và các môn thể dục khác.
Năm 1846, chàng Lahiri
cưới Kashi Moni, con gái của một vị nhân sĩ khả kính trong vùng. Là một
hiền phụ gương mẫu, Kashi Moni đảm trách mọi việc nội trợ một cách hoàn
hảo theo truyền thống cổ Ấn Độ. Trong vài năm sau, gia đình Lahiri sinh
được hai người con trai, là Tincuri và Ducuri.
Năm 1851, vào năm
hai mươi tuổi, Lahiri Mahâsaya làm kế toán viên sở quản trị hành chánh
trong quân đội Anh và đã được thăng chức nhiều lần trong thời gian phục
vụ. Như thế, Người không phải chỉ là một vị tôn sư có sứ mạng Thiêng
Liêng mà còn làm tròn những bổn phận thế gian trong đời sống hằng ngày
mà người có một vai trò phải đóng góp.
Khi các công sở được chỉnh
đốn lại, Lahiri Mahâsaya được thuyên chuyển lần lượt đến nhiều thị trấn
khác nhau. Khi lịnh tôn qua đời, Lahiri phải hoàn toàn đảm lấy trách
nhiệm coi sóc gia đình, lúc ấy đang cư ngụ tại một khu vực yên tĩnh gần
Bénarès.
Chính vào năm ba mươi ba tuổi là lúc mà Lahiri Mahâsaya
mới biết rõ cái định mệnh nó dắt dẫn người đầu thai chuyển kiếp xuống
thế gian. Ngọn lửa tàn âm ỉ dưới lớp tro thình lình bốc cháy phừng lên
thành một ngọn lửa hồng rực rỡ sáng chói. Một định luật thiêng liêng,
ẩn dấu đối với mắt phàm của người đời, hành động một cách bí mật để
biểu lệ mọi sự mọi việc vào đúng lúc, khi ngày giờ đã điểm. Lahiri đã
gặp gỡ sư phụ của người, đức Bâjia, ở gần Ranikhent trên dãy Tuyết Sơn,
và được thụ giáo pháp môn Kriyâ Yoga.
Cơ hội tốt lành ấy xảy ra
không phải vì sự tiến hóa riêng của Lahiri, mà toàn thể nhân loại sẽ
được hưởng thụ có kho tàng kiến thức và minh triết thâm sâu của pháp
môn Kriyâ Yoga. Mất đi từ nhiều thế kỷ, và sau cùng được đưa ra ánh
sáng trở lại, pháp môn Kriyâ Yoga, ví như ngọn suối nước cam lồ để giải
khát cho những linh hồn khát khao đạo lý đi tìm sự hợp nhất với thiêng
liêng, phải là vật sở hữu chung cho tất cả mọi người trần gian đau khổ
đi tìm sự giải thoát.
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:33

Nữ Thánh Giri Bala






Richard vừa cầm tay lái vừa day đầu qua hỏi tôi. "Thưa đại đức, chúng ta định đi đâu sáng nay?"
-
Hôm nay, chúng tôi đến viếng một kỳ quan thứ tám của thế giới: một vị
nữ tu chỉ sống bằng khí trời! - Lại một kỳ quan nữa về khoa học tuyệt
thực, sau vị nữ thánh Therese Neumann!
Bạn Richard vừa cười vừa
đạp ga cho xe chạy tăng thêm tốc lực. Y cảm thấy hứng khởi để có việc
viết thêm một mục hấp dẫn trong tập Du Ký của y.
Hôm nay chúng tôi
khởi hành từ sáng sớm, trước khi mặt trời mọc. Ngoài ra bạn Richard và
tôi, còn có thêm ba người bạn Ấn Độ cùng đi theo trong nhóm, Bạn tôi
thắng bớt ga vì trên đường lộ đã có những người nông phu ngồi trên
những chiếc xe hai bánh do những con bò lê chân kéo đi một cách chậm
chạp.
- Xin đại đức cho biết thêm vài điều về vị nữ tu này?
-
Nữ Thánh tên gọi là Giri Bala. Tôi đã nghe nói về bà ấy cách đây đã
lâu, do một người bạn tên là Nundy. Xưa kia y thường đến nhà tôi ở
đường Gurpar để dạy học cho em tôi. Y cho biết rằng Giri Bala áp dụng
một bí thuật Yoga để sống mà không cần ăn uống chi cả. Hồi đó y ở gần
bên nhà bà tại khu Nawabganj gần Ichapur, ở miền bắc tỉnh Gengale, nên
y có thể theo dõi hiện tượng lạ lùng này một cách thường xuyên đều đặn
mỗi ngày, và y không hề thấy bà ăn uống gì một lần nào. Vô cùng ngạc
nhiên y bèn đến yết kiến vị quốc vương xứ Burdwan và yêu cầu vị này hãy
cho mở một cuộc điều tra hư thực. Nghe câu chuyện kỳ dị, vị quốc vương
bèn cho mời vị nữ tu đến tư dinh của ông để vấn an về tình trạng của
bà. Bà chịu cho họ làm một cuộc trắc nghiệm và sống ở tư dinh ấy trong
hai tháng, tuyệt đối không dùng đồ vật thực, Sau đó bà trở lại tư dinh
cũng không ăn uống gì trong một thời gian hai mươi ngày, và còn trở lại
một lần nữa để trắc nghiệm lần thứ ba suốt Mười lăm ngày. Vị quốc vương
đã cho Nundy biết rằng ba cuộc thí nghiệm tỉ mỉ rành mạch đó đã thuyết
phục ông ta không còn nghi ngờ gì nữa về trạng thái tuyệt thực hoàn
toàn của vị nữ thánh.
Tôi nói tiếp:
- Câu chuyện này do Nundy
kể lại đã nằm trong trí tôi trên hai mươi ba năm nay. Trong khi lưu trú
bên Mỹ, đôi khi tôi cũng tự hỏi không biết dòng thời gian sẽ nuốt chửng
mất vị thánh này chăng trước khi tôi có dịp gặp bà. Bây giờ chắc hẳn bà
đã già lắm. Thậm chí tôi cũng không biết bà ở đâu, và còn sống hay
không. Nhưng trong vài giờ nữa, chúng tôi sẽ đến Purulia, là nơi cư ngụ
của người em trai bà.
Độ mười rưỡi sáng, chúng tôi đã ngồi nói chuyện với người em trai vị nữ thánh là ông Lambodar Dey, một luật sư tại Purulia.
-
Phải, bà chị tôi vẫn còn sống. Đôi khi bà ở đây với tôi, nhưng hiện nay
bà ở tại nhà chung của gia đình chúng tôi tại Biur. Nếu quý vị đến đó,
ắt sẽ được bà vui lòng đón tiếp. Nay bà đã gần bảy mươi tuổi, nhưng vẫn
còn khỏe mạnh.
- Thưa luật sư, xin ông cho biết có phải thật là bà không ăn uống gì phải không?
Tôi vừa hỏi vừa nhìn thẳng vào cặp mắt ông.
-
Quả thật vậy. Trên năm chục năm nay, tôi không hề thấy bà ăn gì cả. Dù
cho ngày tận thế đến thình lình tôi cũng sẽ không ngạc nhiên bằng nếu
tôi nhìn thấy chị tôi đưa thức ăn vào miệng!
Chúng tôi bật cười lớn về câu nói đó. Vị luật sư nói tiếp:
-
Giri Bala không hề tìm nơi vắng vẻ ẩn độn đễ công phu hành pháp. Bà vẫn
sống chung với gia đình, bạn hữu suốt cả đời. Bây giờ họ đã quen với
trạng thái kỳ dị lạ thường của bà. Họ sẽ ngạc nhiên biết bao nếu thình
lình họ thấy bà chị tôi ăn bất cứ một thứ gì!
Sự thành tha chúng
tôi của người em trai vị nữ thánh quả là hiển nhiên, không thể nghi
ngờ. Nhóm chúng tôi từ giã y, và lên đường đến Biur sau khi dùng ăn
trưa tại môt quán cơm bên đường. Chúng tôi đã trải qua một chuyến đi
vất vả nhọc nhằn với bao nhiêu đoạn đường khó khăn xuyên qua những khu
rừng rậm, đầy những chướng ngại, hầm hố, lên đèo, xuống dốc. Có khi,
chiếc xe Ford của chúng tôi phải lội xuống những bãi sình lầy, nước
ngập lút bánh xe, hoặc nằm ụ giữa đường vì bị ngăn chận bởi những mô
đất, gò đống ngổn ngang. Những lúc đó, chúng tôi phải xuống xe đi bộ,
kêu gọi dân làng quanh vùng đem xuổng cuốc đến san bằng các chướng ngại
vật để cho xe đi qua. Có khi phải ráp nhau lại ở phía sau xe, để môt
mình anh tài xế điều khiển tay bánh và tiếp sức đẩy cho xe lướt tới.
Chiếc xe của chúng tôi có lẽ là xe hơi đầu tiên đi trên những con lộ
này, xưa nay chỉ có những chiếc xe bò mộc mạc của đồng quê sử dụng mà
thôi.
Bạn Richard viết trong tập Du Ký của ông như sau:
"Khi
gần đến nơi, chúng tôi cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng sau một chuyến du
hành đầy cam go, gian khổ vì phải vật lộn tranh thủ từng tấc đất trên
con đường dài trong một vùng nội địa hẻo lánh xa xôi chưa từng được
tiếp xúc với nền văn minh tiến bộ của thời đại.
"Nhà chung của gia
đình nữ thánh Giri Bala là một ngôi nhà gạch hai tầng, quét vôi trắng,
có vẻ cũ kỹ, nhô lên giữa những chòi tranh của dân làng chen chúc nhau
ở chung quanh. Chúng tôi hồi hộp chờ mong trong sự vui mừng khi đứng
ngoài hàng ba với những cánh cửa mở rộng trước nhà vị nữ tu không hề
biết đói. Dân làng thấy chúng tôi đến bằng một chiếc xe hơi kiểu tối
tân, bị kích thích óc tò mò nên trố mắt nhìn một cách vô cùng ngạc
nhiên dường như chúng tôi là người đến từ một thế giới khác!
"
Không bao lâu, một bóng người nhỏ thó đã xuất hiện trên ngưỡng cửa: đó
là thánh nữ Giri Bala! Bà vận một chiếc sari bằng tơ nội hóa, vấn chung
quanh thân mình với một góc tréo phủ lên đầu như một tấm voan theo cách
phục sức đơn giản của người phụ nữ Ấn Độ miền quê. Bà tiến tới bằng
những bước chân nhẹ nhàng khiêm tốn, và liếc nhìn chúng tôi bằng cặp
mắt do dự che khuất dưới bóng tối của tấm vải mỏng phủ lên đầu. Chúng
tôi đã cảm thấy mến thương cái gương mặt trầm lặng và đầy hảo ý của bà,
nó biểu lộ một sự giác ngộ bên trong, hoàn toàn thoát ly khỏi mọi sự ô
nhiễm của những dục vọng trần gian phàm tục.
"Bà vui lòng để cho chúng tôi chụp ảnh và quay phim.

kiên nhẫn chịu đựng mọi động tác điều chỉnh tư thế và điều chỉnh ánh
sáng theo kỹ thuật điện ảnh của chúng tôi. Sau cùng, chúng tôi đã có
thể lưu niệm cho hậu thế nhiều bức ảnh của người đàn bà độc nhất trên
thế giới không hề ăn uống gì đã trên năm chục năm nay. Bà chiếm kỷ lục
về hiện tượng này, trên cả thánh nữ Therese Nuemann đã tuyệt thực từ
năm 1923, (tức là mới có mười ba năm...) Đứng trước chúng tôi, Giri
Bala có nét mặt hiền thục của một vị từ mẫu, toàn thân bà toát ra một
sự bằng an hiếm có, một tác phong nghiêm túc, đơn sơ, với cặp môi đầy
đặn trong lành như trẻ thơ, một sống mũi thanh bai đầy nữ tính, cặp mắt
tinh anh chiếu sáng và một nụ cười hồn nhiên, vô tội."
Những cảm
tưởng của bạn Richard về vị nữ thánh Giri Bala cũng giống như của tôi,
một hào quang tâm linh bao phủ lấy thân hình bà giống như cái "oan"
mỏng bằng tơ bà phủ lên đầu. Bà cúi đầu làm lễ trước mắt chúng tôi theo
phong tục lễ nghi của một vị cư sĩ đối với một tăng lữ xuất gia. Cốt
cách lịch sự đơn giản và một nụ cười hồn nhiên của bà dành cho chúng
tôi một sự tiếp đón ngọt ngào thân mật hơn là những lời chải chuốt hoa
mỹ, làm cho chúng tôi quên hẳn chuyến đi vất vả gian lao, cực khổ trước
khi đến đây.
Vị nữ thánh ngồi xếp bằng ngoài bằng ba trên sàn
gạch. Tuy đã cao tuổi và mang những dấu vết của sự già nua, bà không có
vẻ nhăn nheo hốc hác, màu da bánh mật trên gương mặt bà vẫn tươi sáng
và lành mạnh.
- Thưa mẹ, Tôi nói bằng tiếng thổ ngữ Bengali, tôi
đã từng ước mong có cuộc hành hương này từ trên hai mươi lăm năm nay!
Nundy tiên sinh đã kể cho tôi nghe về cuộc đời thánh hóa của Mẹ.
Bà gật đầu nhìn nhận:
- À, đó là người láng giềng của tôi ở khu Nawabganj.
-
Trong thời gian đó, tôi đã vượt biển đi nhiều nơi, nhưng vẫn không bao
giờ quên ý định có ngày sẽ đến viếng thăm mẹ. Cuộc đời thánh hóa mà Mẹ
đang sống trong âm thầm lặng lẽ cần phải được biểu dương cho thế giới
biết, khi mà người thế gian từ lâu nay đã quên mất rằng nguồn sống
thiêng liêng vốn là thức ăn bồi dưỡng tinh thần của mình.

Nữ thánh ngước mắt nhìn lên trong một phút, vừa nở một nụ cười hoan lạc. Bà trả lời một cách khiêm tốn:
- Đại đức biết hết!
Tôi
vui mừng mà thấy bà không bất mãn vì câu nói của tôi, vì các tu sĩ ẩn
dật thường không thích việc phô trương quảng cáo. Họ chỉ muốn tu luyện
trong âm thầm lặng lẽ, và khi thời giờ đã điểm, thì một tiếng gọi bên
trong mới khiến họ phô bày cuộc đời họ một cách công khai để giúp nguồn
cảm hứng cho những tâm hồn khát khao Đạo lý.
Tôi nói tiếp:
-
Thưa Mẹ, xin Mẹ thứ lỗi cho nếu tôi làm phiền rộn Mẹ quá nhiều câu hỏi.
Xin Mẹ chỉ trả lời những câu nào tùy theo ý thích của Mẹ thôi, tôi cũng
sẽ hiểu luôn cả sự im lặng của Mẹ nữa.
- Tôi vui lòng trả lời, nếu một người tầm thường như tôi có thể đưa ra những lời giải đáp thỏa đáng.
- Ồ,không, không phải tầm thường! Tôi thành thật đính chánh. Mẹ là một đại linh căn.
- Tôi là kẻ tôi tớ hèn mọn của tất cả mọi người, Bà nói, tôi thích làm bếp, nấu nướng và dọn ăn cho kẻ khác.
Tôi nghĩ đó là một trò tiêu khiển lạ lùng đối với một vị tu sĩ tuyệt thực!
- Thưa Mẹ, tôi muốn được nghe chính miệng Mẹ nói ra: có phải thật là Mẹ sống mà không cần ăn uống gì?
-
Quả thật như vậy. Nữ thánh im lặng trong một lúc, dường như để nhớ lại
việc cũ, và nói tiếp: Từ năm tôi mười hai tuổi bốn tháng cho đến nay
tôi được sáu mươi tám tuổi, tức là trong thời gian trên năm mươi sáu
năm, tôi không hề ăn uống gì cả.
- Có bao giờ Mẹ cảm thấy thèm ăn không?
- Nếu tôi thèm ăn, thì tôi đã ăn rồi.
Câu
trả lời tuy giản dị đơn sơ, nhưng nó hàm chứa một chân lý bất diệt mà
thế gian vẫn biết quá rõ với cái vòng luẩn quẩn ba bữa ăn mỗi ngày!
- Nhưng Mẹ vẫn ăn một cái gì!
Tôi nói một cách quả quyết.
- Lẽ tất nhiên!
Nụ cười nở trên môi cho thấy bà đã hiểu rất mau.
-
Chất ăn dinh dưỡng của Mẹ là do những tinh lực trong không khí và ánh
nắng mặt trời, và do vũ trụ lực tiếp diễn vào thân thể Mẹ xuyên qua bộ
thần kinh tủy não.
- Đại đức biết rõ.
Bà lại biểu đồng tình một lần nữa một cách nhẹ nhàng êm ái.
-
Thưa Mẹ, xin Mẹ nói cho biết về cuộc đời của Mẹ. Điều này sẽ có tác
dụng xâu xa đối với xứ Ấn Độ cũng như đối với các bạn Đạo ở hải ngoại.
Giri Bala nói với một giọng trầm và rắn rỏi:
-
Cũng được, nếu Đại đức muốn. Tôi sinh trưởng ở vùng này. Thời thơ ấu
của tôi không có gì đáng kể, trừ ra việc này, là tôi có tật háu đói và
ăn nhiều. Năm lên chín tuổi, tôi đã làm lễ đính hôn. Mẹ tôi thường cảnh
cáo tôi: "Này con, con phải tập chế ngự thói tham ăn. Sau này khi con
về nhà chồng, người ta sẽ nghĩ thế nào nếu con chỉ ăn với uống suốt
ngày?"
Điều này mẹ tôi tiên liệu trước, thật sự đã xảy ra. Tôi về
nhà chồng ở khu Nawabganj năm tôi mười hai tuổi. Mẹ chồng tôi quở mắng
tôi suốt ngày vì tật háu đói và tham ăn. Tuy nhiên, những cơn thịnh nộ
của bà lại là một ân huệ trá hình, vì nó làm thức động những khuynh
hướng tâm linh tiềm tàng của tôi. Một hôm bà ấy châm biếm tôi một cách
thật nặng nề. Bị chạm tự ái đến mức cùng tột, tôi bèn nói: "Con sẽ cho
mẹ thấy rằng con sẽ không bao giờ động đến đồ vật thực nữa bất cứ ngày
nào con còn sống."
Mẹ chồng tôi cười nhạo báng: "Mày làm sao sống mà không ăn, trong khi mày không thể sống mà không ăn tục?"
Câu
hỏi đó thật không thể trả lời! Tuy nhiên một quyết định sắt thép đã ngự
trong lòng tôi. Tôi đi ra một nơi vắng vẻ và cầu nguyện Thượng Đế:
-
Lạy đấng Chí Tôn, xin Ngài hãy chuyển đến cho con một danh sư có thể
dạy con phương pháp sống bằng ánh sáng của Ngài thay bằng đồ vật thực.
Một
cơn say sưa ngây ngất xâm chiếm lấy tôi. Tôi bèn đi thẳng đến những bậc
thềm đá trên bờ sông Hằng. Dọc đường, tôi gặp vị tư tế của gia đình bên
chồng tôi. Tôi nói:
- Thưa Đại đức, xin ngài hãy tôi làm cách nào sống mà không cần ăn.
Ông
ta nhìn tôi chăm chú mà không đáp. Sau cùng ông ta nói bằng một giọng
an ủi: "Hỡi con, chiều nay con hãy tới đền, tôi sẽ làm một cuộc lễ Vệ
Đà đặc biệt cho con."
Câu trả lời mơ hồ đó không làm tôi thỏa mãn.
Tôi tiếp tục đi bên bờ sông. Mặt trời ban mai phản ảnh trên giòng nước
chảy lờ đờ. Tôi xuống tắm dưới sông Hằng, cơ hồ như người ta làm nghi
thức tẩy trần để chuẩn bị một cuộc lễ nhập Đạo. Khi tôi bước lên bờ,
thì một vị danh sư xuất hiện trước mặt tôi giữa lúc thanh thiên bạch
nhật.
- Con hỡi, người nói bằng một giọng đầy nhân từ ưu ái. Ta là
vị minh sư do Thượng Đế gửi đến để thể hiện lời cầu xin khẩn thiết của
con. Kể từ hôm nay, con sẽ sống bằng khí Tiên Thiên của càn khôn vũ
trụ, những nguyên tử trong thể xác của con sẽ được tiếp nạp sinh khí
bởi nguồn sống vô cùng trong Trời Đất.
Nữ thánh lại rơi vào một
cơn im lặng. Thừa dịp đó, tôi lấy cây bút và tập giấy trên tay bạn
Richard và dịch ra Anh ngữ vài điểm trong câu chuyện cho y được hiểu.
Nữ thánh lại tiếp tục nói với một giọng rất thấp.
-
Bực thềm đá trên bờ sông đã vắng người, nhưng sư phụ tôi phóng ra chung
quanh chúng tôi một vòng hào quang bao phủ để bảo vệ chúng tôi khỏi bị
những kẻ đến sau có thể làm quấy rầy. Người truyền cho tôi một bí thuật
Kriyâ Yoga làm cho xác thân khỏi cần dinh dưỡng bằng đồ ăn phàm tục. Bí
thuật ấy gồm có việc sử dụng một loại chân ngôn thần chú và một phép
khí công rất khó thực hành đối với người thường. Ngoài ra, không phải
dùng đến thuốc men hay phương huật nào khác.
Đáp lại những câu hỏi của tôi, nữ thánh Giri Bala cho biết thêm:
-
Tôi không sinh sản một lần nào và đã trở thành một góa phụ từ lâu. Tôi
ngủ rất ít, vì ngủ hay thức không khác gì đối với tôi. Ban đêm tôi ngồi
thiền, và làm công viêc.Giri Bala làm việc nhà lúc ban ngày. Tôi không
cảm thấy khác biệt nhiều, khi tiết trời thay đổi từ mùa này sang mùa
khác. Tôi không hề đau ốm một trận nào, cũng không hề đau vặt. Đôi khi
rủi ro bị thương tích, tôi chỉ cảm thấy đau ít thôi. Tôi không hề có
những sự bài tiết của cơ thể như người thường (đường đại tiểu tiện và
đường kinh đều ngưng bặt.) Tôi có thể kiểm chế những động tác của quả
tim và hơi thở. Trong những cơn linh ảnh, tôi thường thấy xuất hiện sư
phụ tôi và những đấng cao cả khác.
- Thưa Mẹ, sao Mẹ không truyền pháp môn nhịn ăn này lại cho những người khác?
Tôi nghĩ đến hàng triệu người đói khát trên thế giới, nhưng hy vọng của tôi liền tiêu tan như mây khói.
Nữ thánh lắc đầu nói:
-
Không được đâu. Sư phụ tôi tuyệt đối ngăn cấm tôi tiết lộ điều bí mật
ấy. Người không muốn thọc gậy vào bánh xe vận chuyển của Cơ Trời Máy
Tạo. Giới nông dân địa chủ sẽ không cám ơn tôi nếu tôi dạy cho nhiều
người biết cách mà sống mà không cần ăn! Những trái cây ngon ngọt sẽ
rụng rơi bừa bãi khắp nơi mà không ai thèm sờ mó đến. Những tai họa đói
kém, nghèo khổ, bệnh tật, dường như là những ngọn roi vọt của nghiệp
quả thúc đẩy con người đi tìm ý nghĩa thật sự của cuộc đời.
- Thưa
Mẹ, tại sao Ơn Trên lại chọn Mẹ làm trường hợp đơn độc, duy nhất của
một người sống không cần ăn? Như vậy là có nghĩa gì?
Gương mặt nữ thánh sáng ngời một điểm minh triết:
-
Để chứng minh rằng con người vốn là Tinh Thần. Để chứng tỏ rằng bằng
cách đi trên con đường tiến hóa tâm linh, con người có thể sống bằng
Ánh Sáng Vô Cùng thay vì bằng đồ vật thực.
Nữ thánh bèn đắm chìm
trong một cơn thiền định thâm sâu, cái nhìn của bà hướng vào bên trong,
đôi mắt tinh anh đã trở lên vắng lặng hư không. Bà thốt ra một tiếng
thở dài, báo hiệu cơn nhập định sắp đến. Trong một lúc, bà đã lọt vào
cõi giới diệu huyền đầy an lạc.
Bóng tối của một hoàng hôn vùng nhiệt đới sụp xuống rất mau. Ánh đèn dầu đã chiếu leo lét trong các chòi tranh.
Những
con đom đóm bay lượn khắp nơi và những chiếc đèn dầu lấp loáng từ đằng
xa cùng phối hợp thành một cảnh tượng lạ kỳ trong đêm tối. Đã đến giờ
phút từ biệt đầy luyến tiếc. Tôi nói khi vị nữ thánh đã xả thiền trở về
cõi tục:
- Thưa Mẹ, tôi muốn giữ một kỷ vật của Mẹ để lưu niệm. Xin Mẹ hãy xé cho tôi một mảnh vải vụn nào đó cũng được.
Nữ
thánh đứng dậy bước vào nhà trong và trở ra với một cái khăn lụa Ba Nại
La. Bà cầm khăn đưa cho tôi và thình lình sụp xuống đất làm lễ trước
khi chia tay. Tôi cũng nghiêng mình đáp lễ, nói với tấm lòng tôn kính:
- Thưa Mẹ, Mẹ hãy để tôi đảnh lễ Mẹ!
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:34

Dịch giả: Nguyễn Hữu Kiệt

Một cung điện trên dãy Tuyết Sơn






Gặp
gỡ giữa Lahiri Mahâsaya và Babâji là một truyện thần tiên, một huyền
thoại phàm thật xứng đáng với tác phong của vị Tôn sư bất tử.
Chính
bởi những lời này mà tu sĩ Kebalâ bắt đầu câu chuyện tường thuật của
ông. Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện này, tôi đã thật sự giật mình vì
kinh ngạc. Sau đó, tôi đã nhiều lần yêu cầu tu sĩ, thầy dạy Phạn ngữ
của tôi, hãy lập lại cho tôi nghe câu chuyện ấy, mà về sau Sri
Yukteswar đã kể lại cho tôi nghe cũng đại khái giống y như thế. Hai vị
đều là đệ tử của đức Lahiri Mahâsaya, và đều đã được nghe Tôn sư trực
tiếp kể lại câu chuyện ấy. Đức Lahiri Mahâsaya thuật chuyện như sau:
-
Cuộc gặp gỡ lần đầu tiên của tôi ới đức Babâji xảy ra hồi năm tôi ba
mươi ba tuổi. Mùa thu năm 1861, tôi đang làm kế toán viên của sở Hành
chánh quân đội Anh ở Danapar. Một buổi sáng, ông trưởng phòng cho mời
tôi đến và nói:
- Lahiri, chúng tôi vừa nhận được một bức điện tín
của văn phòng Trung ương. Anh sẽ được thuyên chuyển đi Ranikhet, tại
đây tiền đồn quân sự vừa mới được thiết lập.
Tôi bèn cùng với một
người gia nô bắt đầu một chuyến viễn du dài năm trăm dặm đường. Khi thì
đi ngựa, khi đi xe, sau một tháng trường chúng tôi đã đến Ranikhet,
dưới chân dãy núi Tuyết Sơn. Công việc của tôi tại đây cũng nhàn, nên
tôi có nhiều thời giờ rảnh để đi chơi trên núi. Người ta đồn rằng vùng
này được thánh hóa bởi sự hiện diện của nhiều bậc hiền giả, chân tu đã
đắc Đạo. Tôi cảm thấy một sự mong ước mãnh liệt là được gặp các ngài.
Một buổi chiều, trong một chuyến đi ngao du trên núi, tôi ngạc nhiên mà
nghe thấy có một giọng nói từ đàng xa gọi tên tôi. Tôi đang cố gắng leo
lên sườn núi cheo leo như vách của ngọn núi Drongiri, và hơi e ngại
rằng có thể tôi không kịp về nhà trước khi trời tối. Sau cùng, tôi đến
một khoảng trống và hẹp giữa hai bên vách núi có những hang động thâm
u, ở trước một hang động này tôi thấy một dị nhân gương mặt trẻ như một
thanh niên, vừa mỉm cười vừa đưa một tay vẫy tôi như một cử chỉ đón
tiếp. Tôi lấy làm ngạc nhiên mà thấy người ấy giống tôi như đúc, chỉ
trừ ra mái tóc của người như màu đồng đó.
- Lahiri, con đây rồi!
Dị nhân nói với tôi một cách trìu mến bằng tiếng thổ ngữ Bắc Ấn.
- Con hãy nghỉ ngơi trong động này. Chính ta đã gọi con đến đây.
Tôi bước vào động và nhìn thấy có những nệm, chăn bông và vài cái bình bát khất thực.
- Lahiri, con có nhớ chỗ ngồi này không?
Dị nhân vừa nói vừa chỉ một nệm vuông ở một góc.
- Bạch ngài, tôi không nhớ.
Hơi ngạc nhiên vì cuộc gặp gỡ lạ lùng này, tôi nói thêm:
- Bây giờ, tôi phải trở về trước khi trời tối. Sáng mai, tôi còn phải có mặt tại sở làm!
Dị nhân nói một câu bằng tiếng Anh rất trôi chảy:
- Sở làm được tạo ra cho con, chứ không phải con được tạo ra cho sở làm!
Tôi
lấy làm king ngạc mà thấy dị nhân không những nói được tiếng Anh, mà
còn chú thích cả lời nói của đấng Christ: "Ngày lễ Chúa Nhật được đặt
ra cho con người, chứ không phải con người được sinh ra cho cuộc lễ
ngày Chúa Nhật" (marc, II:27).
- Ta thấy rằng bức điện tín của ta đã có hiệu quả.
Câu nói đó đối với tôi là một điều bí hiểm. Tôi xin dị nhân giải thích rõ. Người đáp:
-
Ta nói về bức điện tín nó đã kêu gọi con đến nơi thị trấn hẻo lánh này.
Chính ta đã dùng thần giao cách cảm để gợi ý cho thượng cấp của con
thuyên chuyển con đến Tanikhet. Đối với người nào đã đạt tới sự hợp
nhất tâm linh với toàn thể nhân loại, thì tất cả những linh hồn đều là
những trạm thu thanh vô tuyến sẵn sàng tiếp nhận mệnh lệnh của y.
Dị nhân nói thêm với tấm lòng ưu ái:
- Lahiri, chắc hẳn con đã từng quen thuộc với chốn hang động này?
Tôi
còn đang hoang mang trong sự thầm lặng, dị nhân bèn bước đến gần và vỗ
nhẹ một cái trên trán tôi. Ngay khi đó, một luồng từ điện chạy xuyên
qua óc tôi, làm cho tôi nhớ lại những kỷ niệm đã bị che lấp về tiền
kiếp của tôi.
- À, con nhớ ra rồi!
Giọng nói tôi đứt quảng vì xúc động, xen lẫn với những giọt lệ sung sướng:
- Ngài tức là Babâji, Sư phụ con! Cũng như tự thuở nào!
Những
hình ảnh của quá khứ diễn ra rõ ràng trong trí tôi! Chính tại đây,
trong động núi thâm u này, tôi đã từng sống trong nhiều năm trải qua
nhiều tiền kiếp! Những kỷ niệm đó mỗi lúc càng hiển hiện ra trong ký ức
tôi, tôi bèn cúi xuống hôn hai bàn chân của sư phụ thiêng liêng...
- Ta đã đợi con ở đây từ trên ba mươi năm nay, ta hy vọng con sẽ trở lại!
Một tình thương bao la biểu lộ trong giọng nói của Babâji:
-
Con đã từ biệt ta, và biến mất dạng giữa những cảnh giới bên kia cửa
Tử. Sự hành động của nghiệp quả mầu nhiệm như chiếc đũa thần, đã khiến
cho con từ giã cõi trần, và con đã biến mất. Tầm nhãn quang của con
không còn nhìn thấy ta nữa, nhưng còn ta, thì trái lại, không khi nào!
Ta đã theo dõi con trên những làn sóng hào quang dập dồn của biển trung
giới, là nơi mà các vị thiên thần bay lương thung dung. Xuyên qua bóng
tối dày đặc, xuyên qua bão bùng, mưa gió, ánh sáng, ta đã theo dõi con
như một người mẹ tìm con. Khi con đầu thai vào lòng mẹ trong kiếp này,
ta đã chú ý đến con. Khi còn nhỏ, con tập ngồi thiền trong tư thế liên
hoa, ta đã có mặt một bên, tuy rằng vô hình vô ảnh. Trải qua bao nhiêu
năm tháng dập dồn, ta luôn luôn để ý theo dõi con, và trông đợi đến
ngày tốt lành mà con sẽ trở lại sống gần bên ta. Đây là cái động đá
thân yêu của con khi xưa. Ta vẫn giữ nó được sạch sẽ, sẵn sàng tiếp đón
ngày con trở về. Đây là tấm nệm con vẫn ngồi thiền định. Kìa, con hãy
nhìn xem, đây là cái bình bát khất thực, trong đó con đã bao lần uống
cạn nước cam lồ mà ta rót cho con. Con có nhận thấy chăng nó vẫn trơn
tru, bóng láng, sáng chói, chờ đợi đến ngày nó sẽ phục vụ con như thuở
nào. Con hỡi, bây giờ con đã hiểu chưa?
- Bạch sư phụ, con còn
biết nói gì hơn? Tôi nói thì thầm, giọng nói đứt đoạn vì xúc động, Chưa
bao giờ con được nghe nói đến một thứ tình thương sâu rộng bao la như
thế, tình ấy còn mạnh hơn cả bất cứ một mãnh lực nào trên thế gian này!

Tôi rơi vào một trạng thái say sưa ngây ngất trong một lúc rất lâu,
và chiêm ngưỡng đức sư phụ mến yêu của tôi, thầy của tôi trong cõi sống
và cả trong cõi chết.
- Lahiri, con phải tinh luyện xác thân con.
Con hãy uống chất dầu đựng trong cái chén này, rồi đi ra tắm rửa dưới
giòng sông ở trước mặt.
Tôi thầm nghĩ:
- Sư minh triết của Babâji cũng vẫn như độ nào!
Tôi
bèn tuân theo các chỉ thị đó. Tuy rằng đêm lạnh như băng của vùng Tuyết
sơn đã đến, một nhiệt độ tốt lành, dễ chịu, phát sinh từ những rung
động thầm kín bên trong nội tâm, đã thấm nhuần khắp cả những tế bào
trong thân thể tôi. Hay là chất dầu mà tôi vừa uống đã đem lại sự công
hiệu nhiệm mầu?

Một ngọn gió lạnh như cắt thổi rít lên chung
quanh tôi, và tung hoành như vũ bão trong đêm tối. Những ngọn sóng nhấp
nhô của con sông Gogash lạnh như băng đập vàp mình tôi, trong khi tôi
bám chặt lấy những tảng đá lớn. Những tiếng gầm thét của chúa sơn lâm
vang dội gần bên, nhưng lòng tôi không cảm thấy sợ sệt, một nguồn thần
lực vô hình xâm chiếm lấy tôi và đem cho tôi một sự dũng cảm phi thường
không thể lay chuyển. Thời gian trôi qua rất mau. Những kỷ niệm xa vời
của một tiền kiếp trở lại dồn dập trong trí tôi, xen lẫn với niềm hạnh
phúc vừa được gặp lại vị sư phụ thiêng liêng của tôi.
Thình lình,
giữa cơn vắng lặng của núi rừng tôi nghe có tiếng chân người bước đến
gần. Trong bóng tối, một bàn tay ưu ái đỡ tôi đứng dậy và cầm đưa cho
tôi một bộ áo quần khô ráo.
- Sư huynh hãy trở về động. Sư phụ đang chờ đấy!
Người
ấy đưa đường cho tôi xuyên qua rừng. Từ đàng xa, một ánh sáng rực rỡ
chọc thủng màn đêm u tối một cách đột ngột. Ngạc nhiên, tôi hỏi:
- Trời đã sáng rồi chăng? Sao mà mau lắm vậy, vì tôi tưởng là đêm hãy còn lâu mới hết!
- Mới vừa nửa đêm thôi, sư huynh ạ.
Người hướng dẫn tôi mỉm cười:
-
Ánh sáng đó toát ra từ một tòa cung điện bằng vàng khối mà đức sư phụ
toàn năng vừa tạo ra. Trong một tiền kiếp, sư huynh đã bày tỏ lòng mong
ước có một tòa lâu đài bằng vàng. Sư phụ đã làm thỏa mãn điều ước vọng
đó để cho sư huynh giải tỏa khỏi sợi dậy trói buộc của nghiệp quả.
(Luật
nhân quả định rằng mọi điều ước vọng của con người rốt cuộc sẽ được
thực hiện. Bởi đó, mọi điều ham muốn, dục vọng là sợi dây trói buộc con
người vào vòng luân hồi sinh tử)
Người lại nói thêm:
- Tòa
cung điện này sẽ là nơi sư huynh làm lễ nhập môn theo đạo pháp Kriyâ
Yoga. Tất cả các huynh đệ đều vui mừng chào đón sư huynh sau một thời
gian vắng mặt lâu dài. Kìa, sư huynh hãy nhìn xem!
Một tòa cung
điện nguy nga đồ sộ bằng vàng chói sáng rực rỡ hiện ra trước mắt tôi.
Lâu đài có cẩn muôn nghìn viên ngọc quý đủ màu, và dựng lên giữa một
khung cảnh vườn tược rộng rãi, cây cối sầm uất, thật là một cảnh tượng
có một không hai trên thế gian này. Những vị tu sĩ thánh đức, gương mặt
hiền hòa, đứng túc trực nơi các cửa vàng có chạm những viên ngọc lưu ly
màu đỏ thắm chói lòa. Các cổng ngoài, cửa trong, và khung cửa lớn, cửa
nhỏ, thảy đều cẩn ngọc trai, trân châu, kim cương, ngọc bích, ngọc
thạch... huy hoàng, lộng lẫy, sang trọng vô cùng.
Tôi đi theo
người hướng dẫn viên vào tòa sảnh đường. Một mùi hương trầm và mùi thơm
của hoa hường đượm trong không khí, hàng nghìn ngọn hoa đăng muôn màu
nghìn sắc chiếu một ánh sáng nhạt mờ huyền ảo. Từng nhóm tu sĩ hoặc môn
đồ da trắng hoặc nâu sậm, ngồi rải rác đó đây, hoặc hát thánh ca, hoặc
ngồi thiền theo tư thế liên hoa, đắm chìm trong cơn yên tĩnh của nội
tâm. Một niềm vui tươi phảng phất trong không khí. Ngươi hướng dẫn viên
mỉm cười một cách thân tình với tôi, trong khi tôi thốt ra những tiếng
kêu ngạc nhiên và thán phục. Y nói:
- Sư huynh hãy chiêm ngưỡng
cho thỏa lòng sự huy hoàng lộng lẫy của tòa lâu đài này, vì nó được tạo
lập nên để chào mừng sư huynh đấy!
Tôi đáp:
- Sư huynh hỡi,
những công trình kiến trúc nguy nga tráng lệ này thật là vượt khỏi sự
tưởng tượng của con người. Xin sư huynh hãy vui lòng tiết lộ cho biết
sự bí mật về nguồn gốc của nó.
- Tôi xin sẵn lòng!
Một tia minh triết chiếu sáng trong cặp mắt người bạn đồng môn của tôi, người bắt đầu nói:
-
Trong cõi thiên nhiên, không có gì là khó giải thích. Toàn thể vũ trụ
chỉ là sự kết tinh tư tưởng của đấng Tạo Hóa. Chính quả địa cầu này
cũng là sự thể hiện cái giấc mơ của đấng Hóa Công. Ngài sáng tạo mọi
vật từ trong ý thức hệ của ngài, cũng y như con người lập lại trong
giấc ngủ những gì y đã thấy thật sự trong khi thức tỉnh.
Lúc khởi
thủy, Thượng đế sáng tạo nên trời đất bằng cách phác họa hình ảnh vũ
trụ trong trí của ngài, kế đó ngài mới kết tinh lại thành hình: những
nguyên tử tinh lực mới phát sinh và kết cấu lại thành những quả tinh
cầm đông đặc. Tất cả những phân tử hóa chất đều kết hợp lại do bởi Ý
chí thiêng liêng. Khi thượng đế rút lại cái Ý Chí đó, quả địa cầu lại
tan rã thành tin lực vô hình vô ảnh, và thậm chí đến tinh lực này cũng
tan biến để hoàn nguyên trở lại thành ý thức của Thượng đế. Chừng đó,
quả địa cầu dưới hình thức một ý nghĩ cũa Thượng đế, đã mất hẳn sự tồn
tại của nó trong không gian.
Nhờ hợp nhất làm một với Ý chí sáng
tạo thiêng liêng, đức Babâji có cái quyền năng kết cấu, phối hợp những
nguyên tử vật chất lại thành vô số hình thể biến hóa đến vô cùng tận.
Tòa cung điện bằng vàng khối này, được dựïng lên trong nháy mắt, cũng
có thật như quả địa cầu của chúng ta đây. Sư phụ đã phác họa sẵn trong
trí cái hình ảnh tòa lâu đài bằng vàng và dùng quyền năng của ý chí kết
tinh các nguyên tử vật chất trong không gian theo kiểu mẫu cái khuôn đã
đúc sẵn trong trí để cho nó thể hiện ra thành sự thật. Điều này cũng
giống y như khi Thượng Đế sáng tạo nên Trời đất và các bầu thế giới, và
duy trì các quả tinh cầu thành hình trong một thời gian nhất định.
Người bạn tôi nói thêm:
-
Khi tòa lâu đài đã thực hiện xong vai trò của nó, Babâji sẽ làm cho nó
tan rã và trở về kho tinh lực vật chất trong thiên nhiên.
Tôi lặng người vì ngạc nhiên trước sự mầu nhiệm đó, người bạn tôi nói tiếp:
-
Tòa cung điện nguy nga lát vàng cẩn ngọc này không phải xây dựng nên
bằng sức lao động. Người đã đạt tới cái quả vị thiêng liêng cao quý như
Babâji có thể thực hiện bất cứ việc nhiệm mầu nào do bởi nguồn thần lực
vô biên ẩn tàng trong Chân Ngã của Ngài. Một cục đá có tiềm năng chứa
đựng cả một kho nguyên tử lực vô tận. Chính cũng bởi đó mà một người
phàm có cái tiềm lực hàm xúc một quyền năng vô biên: ấy là nguồn gốc
thiêng liêng ẩn tàng của y.
Vị tu sĩ day qua một bàn gần bên và cầm lấy một lọ lộc bình rất quý, cái quai có cẩn kim cương lóng lánh, và nói tiếp:
-
Sư phụ đã tạo nên tòa cung điện này bằng hằng hà sa số những vũ trụ
tuyến đã kết tinh đông đặc lại. Sư huynh hãy cầm cái lộc bình này, hãy
sờ mó những hột kim cương này để nhận xét rằng đó là sự thật chứ không
phải ảo ảnh.
Tôi quan sát lọ lộc bình, và đưa tay tay sờ lên vách
tường đúc bằng vàng khối! Một sự thỏa mãn thâm trầm đã tràn ngập cõi
lòng tôi: một ước vọng thầm kín chôn chặt dưới đáy lòng từ bao nhiêu
kiếp trở về trước, nay vừa mới được thực hiện!
Xuyên qua những
cánh cửa chạm trổ tinh vi, những hành lang dài thăm thẳm, những gian
phòng trang hoàng lộng lẫy theo một cách điệu sang trọng của bậc đế
vương, vị tu sĩ đưa tôi vào một nơi cung thất to rộng vô cùng. Nơi
chính giữa, có đặt một chiếc ngai vàng cẩn ngọc chớp sáng loè muôn màu
nghìn sắc. Trên ngai vàng, đức Babâji ngồi tĩnh tọa trên thế liên hoa.
Tôi bèn cúi đầu làm lễ dưới chân ngài trên sàn gạch đánh bóng. Sư phụ
cất tiếng hỏi:
- Lahari, con vẫn còn nuôi cái mộng sở hữu một cung vàng điện ngọc nữa chăng?
Đôi mắt của sư phụ chiếu sáng như những viên ngọc quý trong cung điện.
- Con hãy thức tỉnh. Tất cả những dục vọng trần gian của con nay đã gần phủi sạch!
Sư phụ bèn thì thầm một câu châm ngôn bí mật. Kế đó người nói:
- Con hãy đứng dậy để làm lễ nhập môn vào cõi giới của Thượng Đế do đạo pháp Kriyâ Yoga.
Babâji
đưa hai tay ra trước một bàn thờ: một ngọn lửa hy sinh (homa) xuất hiện
một cách mầu nhiệm, giữa những bông hoa và trái cây. Tôi bèn làm lễ thụ
pháp giải thoát của pháp môn Yoga trước bàn thờ khói hương nghi ngút.
Lúc
trời hừng sáng, cuộc lễ đã chấm dứt. Không cảm thấy buồn ngủ chút nào,
tôi đi dạo thẩn thơ trong cung điện và ngắm nhìn những đồ mỹ nghệ quý
giá cùng những kho tàng bảo vật, chỉ có trong những truyện huyền thoại
hoang đường. Trong những khu vườn hoa đẹp như bồng lai tiên cảnh, tôi
nhìn thấy những khối đá tảng của hang núi: mới ngày hôm qua đây, chưa
có một tòa lâu đài nào ở vùng chung quanh.
Trở về cung thất, chiếu
rạng ngời những ánh vàng lộng lẫy trước những tia nắng bình minh, tôi
đưa mắt nhìn quanh để tìm sư phụ. Người vẫn ngồi tĩnh tọa trên ngai,
giữa bầu không khí yên lặng có các vị đệ tử đứng vây chung. Kế đó,
Babâji nói:
- Lahiri, chắc con đã đói bụng. Con hãy nhắm mắt lại.
Khi
tôi mở mắt ra, tòa lâu đài cung điện và những cảnh hoa viên xinh đẹp
như mộng đã biến mắt! Babâji, các đệ tử và tôi thảy đều ngồi dưới đất,
ở ngay chỗ tọa lạc của tòa lâu đài khi nãy, cách hang động của Sư phụ
không xa. Tôi mới nhớ lại lời nói của vị hướng dẫn tôi từ lúc đầu rằng
tòa cung điện sẽ được giải thể (làm cho tan rã, dématérialiser) sau khi
đã hoàn thành sứ mạng của nó, những nguyên tử kết hợp sẽ được giải tỏa
và tiêu tan trong kho tinh lực của trời đất. Kinh ngạc vô cùng, nhưng
tôi nhìn sư phụ một cách tin tưởng, và tự hỏi không biết ngày ấy sẽ còn
dành cho tôi những sự bất ngờ nào nữa chăng. Babâji giải thích:
- Mục đích việc thiết lập nên tòa cung điện này đã đạt được.
Ngài lấy một chén lớn bằng đất đưa cho tôi và nói:
- Con hãy cầm lấy cái chén này và con sẽ có đủ những vật thực mà con muốn ăn.
Khi
tôi vừa cầm lấy cái chén lớn, nó liền chứa đầy những khoanh bánh bột mì
chiên bơ, cari, và những cao lương mỹ vị khác. Tôi ăn ngon lành, và
nhận thấy rằng cái chén không bao giờ cạn thức ăn. Khi đã ăn no, tôi
mới đi tìm nước uống. Sư phụ chỉ cái chén mà tôi vừa dùng xong, và thức
ăn được thay thế bằng nước suối mát trong lành. Babâji nói:
-
Người thế gian ít ai ngờ rằng. Cõi trời là cõi mà mọi điều ước vọng đều
được thỏa mãn. Cõi ấy cũng nới rộng đến quả địa cầu này, tuy rằng thế
gian chỉ là hư ảo và không có gì chân thật.
- Bạch sư phụ, đêm nay Sư đã đưa con vào một lãnh vực tuy ở cõi thế nhưng lại rất gần với Cõi trời!
Tôi
mỉm cười mà nhớ đến lâu đài thần diệu, có người tu sĩ nào lại làm lễ
nhập môn học Đạo ở giữa một khung cảnh cực kỳ xa hoa lộng lẫy như thế?
Từ này tôi có thế chiêm ngưỡng trong yên lặng cái khung cảnh một mạc
giản dị, tương phản một cách rõ rệt với tòa cung điện lúc nãy. Núi
rừng, hang động, suối chảy, thông reo, tất cả đều hợp thành một nơi cư
ngụ lý tưởng cho những tu sĩ đang ở chung quanh tôi.
Ngày hôm ấy,
tôi đắm chìm trong những cơn thiền định, và những sở đắc tâm linh mà
tôi đã thực hiện trong những tiền kiếp đã trở lại với tôi. Sư phụ bước
đến gần đưa bàn tay đặt nhẹ lên đỉnh đầu tôi, và tôi liền lọt vào cơn
đại định nirvikalpa samadhi, trạng thái ấy tiếp tục kéo dài suốt bảy
ngày không dứt. Trong trạng thái đó, tôi đã vượt qua các lớp chướng
ngại để thực hiện Chân Ngã, tôi đã vượt qua ngưỡng cửa của cõi giới
siêu linh để bước vào cõi Đạo diệu huyền. Những bức màn ảo ảnh, những
tham vọng phù du giả tạm thảy đềy lần lượt tiêu tan. Linh hồn tôi đã
bước vào cõi Vô cùng và hợp nhất làm một với Chân Như Đại Ngã, tức Đại
Hồn của Vũ Trụ. Bắt đầu qua ngày thứ tám, tôi quỳ dưới chân Sư phụ và
cần xin ngài hãy giữ tôi lại một bên ngài mãi, giữa chốn núi rừng cô
tịch. Sư phụ ôm lấy tôi một cách rất mến yêu và nói:
- Con hỡi,
trong kiếp này, con phải đóng vai trò của con trên sân khấu của cuộc
đời thế tục. Con đã được thánh hóa nhờ công phu tu luyện mà con đã thực
hành trong bao nhiêu tiền kiếp, bây giờ con phải sống lẫn lộn với người
thế gian.
Sự kiện rằng con chỉ gặp ta sau khi đã lập gia đình và
có một chức vụ khiêm tốn, có hàm xúc một ý nghĩa xâu xa. Con phải từ bỏ
hy vọng gia nhập với nhóm đệ tử của ta trên dãy Tuyết Sơn. Vai trò của
con sẽ sống chung lộn với người đời, để nêu một tấm gương cao quý về
những sở đắc tâm linh mà một người gia trưởng sống ngoài thế gian có
thể đạt được nhờ thực hành pháp môn Yoga.
Thượng Đế không hề làm
ngơ trước những lời cầu nguyện thiết tha của những kẻ khát khao tìm đạo
và còn sống ngoài thế tục. Con đã được chọn lựa để phổ biến đạo pháp
Kriyâ Yoga trong quần chúng. Những kẻ có trách nhiệm gia đình và những
bổn phận hằng ngày sẽ nhận được giáo lý ấy dễ dàng hơn ở nơi con, vì
con cũng ở vào một hoàn cảnh giống như họ. Vai trò của con sẽ là nêu
một tấm gương sống động để chứng minh rằng những thành quả tối cao của
sự thực hành đạo pháp Yoga không phải là hạn chế đối với những người
còn có trách nhiệm gia đình. Dẫu cho sống ngoài thế gian, người hành
giả làm tròn các bổn phận mình một cách vị tha, vô kỷ, chắc chắn sẽ đạt
tới sự giác ngộ tâm linh.
Từ này, không có gì bắt buộc con phải từ
bỏ thế gian, vì con đã cắt đứt mọi sợi dây trói buộc của nghiệp quả.
Tuy sống trong trần thế, nhưng con không còn hệ lụy cõi trần. Con còn
phải trải qua nhiều năm dành cho những bổn phận gia đình, xã hội và tâm
linh. Niềm hy vọng thiêng liêng từ nay sẽ thức động những tâm hồn đau
khổ của người đời đang sống trong thế kỷ này. Cuộc đời hoàn toàn sống
theo kỷ luật tâm linh của con sẽ giúp cho họ hiểu rằng sự giải thoát là
tùy nơi những sự dứt bỏ thâm sâu từ bên trong, chứ không phải từ bên
ngoài.
Gia đình, sở làm, toàn cõi thế gian đối với tôi lúc ấy có
vẻ xa với biết bao nhiêu trong khi tôi lắng nghe những lời dạy đó của
Sư phụ tôi trong vùng Tuyết Sơn hẻo lánh hoang vu. Tuy nhiên, chân lý
đã do cửa miệng của ngài thoát ra, hang động yên tịnh này. Đức Babâji
bèn dạy cho tôi biết những luật lệ cổ xưa và bất biến về việc truyền
pháp Yoga giữa Tôn sư và đệ tử. Sư phụ nói:
- Con chỉ nên truyền
bí thuật Kriyâ Yoga cho những môn đệ xứng đáng. Người nào sẵn sàng từ
bỏ và hy sinh tất cả để tìm đạo, mới thật xứng đáng được truyền thụ
những bí pháp giúp cho y thâu triệt được vấn đề sinh tử bằng cách tham
thiền.
- Bạch sư phụ, sư phụ đã ban cho thế gian bằng cách phụ hồi
đạo pháp Kriyâ Yoga đã bị mất đi trong quên lãng, thì nay cũng xin Sư
phụ hãy mở lượng từ bi mà làm dịu bớt những luật lệt khắt khe về việc
chọn lọc đệ tử.
Tôi nhìn Babâji với đôi mắt khẩn cầu:
- Con
xin sư phụ cho phép cho truyền pháp Kriyâ Yoga cho tất cả những kẻ tầm
Đạo, dẫu rằng họ vẫn chưa sẵn sàng đạt tới sự dứt bỏ hoàn toàn từ bên
trong. Người thế gian, cả nam lẫn nữ, đều đang bị dày vò trong đau khổ
cả thể chất lẫn tinh thần, phải cần được nâng đỡ và khuyến khích. Họ sẽ
không bao giờ tìm thấy chính đạo nếu họ bị từ chối không được truyền
thụ Đạo Pháp Kriyâ Yoga.
- Ta chuẩn y lời cần xin đó. Thiên Ý được biểu lộ qua cửa miệng của con.
Bằng
những lời đó, sư phụ đã đánh đổ những bức rào ngăn cách từ muôn đời vẫn
che dấu đạo pháp Kriyâ Yoga trước mắt người thế gian.
- Con hãy truyền pháp Kriyâ cho tất cả những người tầm Đạo với tấm lòng khiêm tốn.

Sau một lúc im lặng, Babâji nói tiếp:
-
Con hãy lập lại cho mỗi đệ tử lời hứa hẹn này trong kinh Bhagavad Gita:
"Dẫu chỉ có một ít biết về pháp môn này cũng đủ giúp cho ta tránh được
nhiều nỗi đau khổ rất lớn".
Sáng ngày hôm sau, khi tôi làm lễ kiếu
từ Sư phụ để xin ngài ban ân huệ trước khi lên đường, ngài cảm thấy nỗi
thất vọng buồn rầu của tôi phải từ giã ngài ra đi. Ngài nói,
- Sự biệt ly vốn không có giữa chúng ta, con ạ! Dầu cho con ở nơi nào, con chỉ cần gọi đến ta là ta sẽ xuất hiện ngay tức khắc.
Được
an ủi bởi lời hứa hẹn huyền diệu đó, tôi lên đường trở về nhà. Về đến
sợ làm sau mười mấy ngày vắng mặt, tôi được các bạn đồng nghiệp đón
tiếp nồng nàn vì họ tưởng rằng tôi đã đi lạc vào núi trên dãy Tuyết
Sơn. Kế đó, tôi nhận được một bức thơ của viên trưởng phòng. Trong thơ
nói rằng: "Lahiri phải trở về văn phòng Hành Chánh ở Danapur. Việc
thuyên chuyển y đến Ranikhet là một sự sai lầm. Một nhân viên khác sẽ
được gửi đến Ranikhet để thay thế cho y".
Sự "sai lầm" nó đã đưa
tôi lên tận dãy Tuyết Sơn, làm cho tôi mỉm cười. Trước khi trở về
Danapur, tôi đến tạm trú vài ngày tại nhà của một gia đình quen thuộc ở
Moradabad. Tại đây, có sáu người bạn hữu đến thăm tôi. Trong khi tôi
hướng câu chuyện đến những vấn đề tâm linh người chủ nhà tỏ ý buồn rầu
và nói:
- Than ôi! Các vị Chân sư của Ấn Độ ngày nay đã biến mất không còn nữa!
Tôi phản đối mãnh liệt để cải chính:
- Thưa ông, các vị chân sư vẫn còn thánh hóa xứ sở chúng ta bởi gót chân của các ngài!
Trong
cơn hứng khởi tôi cảm thấy cần thuật lại kinh nghiệm độc đáo của tôi
vừa rồi trên dãy Tuyết Sơn. Các bạn tôi tỏ vẻ hoài nghi, nhưng chỉ lễ
phép mỉm cười. Một bạn bèn kết luận:
- Lahiri, có lẽ không khí miền sơ cước đã làm cho bạn say sưa ngây ngất, và chắc là bạn đã có một cơn mơ!
Vì muốn làm sáng tỏ sự thật, tôi đáp không do dự:
- Sư phụ tôi sẽ xuất hiên tại ngay chỗ này, bằng xương bằng thịt, để đáp lại lời kêu gọi của tôi!
Lần
này, tôi đã làm cho họ chú ý, thật không phải là một chuyện lạ nếu mỗi
người đều mong muốn chiêm ngưỡng một vị thánh nhân hiện hình ra một
cách bất ngờ như thế. Tôi yêu cầu chủ nhà sắp đặt cho tôi một gian
phòng và hai tấm nệm mới. Tôi nói:
- Sư phụ tôi sẽ xuất hiện từ không gian. Các bạn hãy đứng im lặng phía sau cánh cửa, trong chốc lát tôi sẽ mời các bạn vào.
Tôi
bèn ngồi tĩnh tọa nhập thiền, và kêu gọi sư phụ tôi bằng tư tưởng.
Trong giây lát, một ánh sáng huyền ảo và êm dịu như ánh trăng le lói
trong gian phòng, và hình dáng đức Babâji từ từ xuất hiện.
- Lahiri, tại sao con lại kêu gọi đến ta vì một mục đích nhỏ mọn, vô nghĩa?
Cặp mắt sư phụ được một vẻ nghiêm khắc.
-
Chân lý chỉ đến với những kẻ thật lòng tìm đạo, chứ không phải để cho
những kẻ tò mò. Thật rất dễ mà tin tưởng nơi những điều tai nghe mắt
thấy, vì chừng đó sự thật đã hiển nhiên, không còn phải chối cãi gì
nữa. Chỉ có người nào thắng được sự hoài nghi mới khám phá được chân lý
thâm diệu và vô hình vô ảnh.
Kế đó, người nói với một giọng nghiêm nghị:
- Hãy để ta đi!
Tôi bèn quỳ xuống chân sư phụ và nài nỉ:
-
Bạch sư phụ, con xin sư phụ tha lỗi cho con. Chính vì con muốn gây đức
tin cho những kẻ hãy còn mù quáng về phương diện tâm linh, mà con đã
kêu gọi đến sư phụ. Sư phụ đã chiếu cố mà xuất hiện trước lời cầu xin
của con thì con cũng xin sư phụ hãy vui lòng ban ân huệ cho các bạn con
trước khi ra về. Tuy họ thiếu đức tin, nhưng ít nhất họ cũng khát khao
được biết sự thật về kinh nghiệm lạ lùng của con.
- Được ta sẽ ở lại, vì ta không muốn cho các bạn con nghi ngờ lời nói của con.
Babâji dịu giọng, nhưng còn nói thêm:
- Từ rày về sau, ta sẽ không xuất hiện trước lời kêu gọi của con nữa, trừ ra khi nào sự có mặt của ta là tối cần thiết.
Khi
tôi bước ra mở cửa, thì các bạn tôi đang chờ đợi trong một sự im lặng
hoàn toàn. Hãy còn ngờ vực nới giác quan của họ, họ đứng sững, miệng há
hốc, giương hai mắt to lên để chiêm ngưỡng dung nhan đức Babâji đang
ngồi ung dung tự tại trên tấm nệm.
- "Đó là phép thôi miên tập
thể", một nhân chứng vừa nói vừa cười. "Không ai có thể bước vào gian
phòng này mà chúng tôi không biết!"
Babâji vừa mỉm cười vừa ra
lịnh cho mỗi người hãy đến gần và sờ mó vào mình ngài để kiểm chứng sự
thật. Khi họ không còn nghi ngờ gì nữa, họ bèn quỳ lạy dưới chân sư phụ
tôi một cách cung kính và tỏ ra ăn năn sám hối vì đã có bụng hoài nghi.

- Hãy nấu cháo cho các vị dùng đỡ lót dạ. Babâji ra lịnh để đưa
thêm một bằng chứng về sự thật của ngài. Trong khi nồi cháo đang sôi,
sư phụ đàm thoại với tấm lòng ưu ái cởi mở với tất cả mọi người. Những
kẻ hoài nghi lúc nãy nay đã trở thành những người sùng tín rất mực,
không còn nghi ngờ gì nữa. Khi chúng tôi đã dùng cháo xong, Babâji đưa
tay ban ân huệ cho từng người. Một tia chớp xuất hiện thình lình xẹt
ngang qua gian phòng: chúng tôi chứng kiến tận mắt sự giải thể mau như
chớp nhoáng của sư phụ: những nguyên tử, tế bào hợp thành thể xác của
ngài bỗng nhiên tan rã mau lẹ trong chớp mắt, và phát ra một vầng hào
quang mỗi lúc càng mờ dần. Quyền năng của Babâji vốn hòa hợp với Thựơng
đế, đã giải tỏa bằng hà sa số những phân tử dĩ thái đã được kết cấu lại
thành hình thể xác của ngài, những nguồn tinh lực được giải tỏa bèn trở
về hòa lẫn với cái kho tinh lực vô biên của vũ trụ.
- Tôi đã thấy tận mắt người chiến thắng Tử thần!
Một
nhân chứng trong nhóm bạn tôi, tên là Maitra đã nói như trên. Gương mặt
y đổi sắc y chứng kiến điều nhiệm màu của sư phụ. Y nói tiếp:
-
Tôn sư bất chấp mọi giới hạn của thời gian và khong gian và hành động
mọi sự một cách dễ dành như trò trẻ. Tôi vừa chứng kiến một bậc siêu
nhân nắm giữ chìa khóa mở các cõi huyền vi của trời đất.
Sau đó tôi trở về Danapur và tiếp tục công việc ở sở làm cùng làm tròn bổn phận người gia trưởng.
Lahiri
Mahâsaya cũng thuật cho tu sĩ Kebalâ và Sru Yukteswar nghe chuyện một
cuộc gặp gỡ khác với Babâji trong trường hợp hứa hẹp của sư phụ: "Ta sẽ
xuất hiện khi nào cần thiết". Lahiri Mahâsaya kể chuyện như sau:
-
Việc ấy xảy ra trong một cuộc thánh lễ Kumbha Mela ở Allahabad, thành
phố tại đó tôi trải qua những tháng nghĩ hè. Trong khi tôi trà trộn
trong đám đông những tu sĩ và khất sĩ từ khắp nởi ở Ấn Đô đến đây để dự
lễ, tôi nhìn thấy một tu sĩ khổ hạnh mình đầy bụi bặm cầm một cái bình
bát khất thực. Tôi có ý nghĩ rằng người này chỉ là một kẻ bịp bợm, giả
vờ khoác lấy cái bề ngoài của kẻ tu hành chứ không phải là một người
chân tu.
Khi tôi vừa đi qua khỏi người ấy thì tôi ngạc nhiên mà
thấy Babâji đang quỳ gối trước mặt một tu sĩ khác râu tóc xồm xoàm. Tôi
bèn chạy tới trước và kêu lên: - Bạch sư phụ, sư phụ làm gì vậy?
- Ta rửa chân cho người tu sĩ này, và sau đó ta sẽ lau chùi cái bình bát khất thực của y.
Babâji
cười với tôi một cách hồn nhiên như một đứa trẻ nhỏ. Tôi hiểu rằng ngài
muốn dạy tôi không nên chỉ trích kẻ khác, mà phải nhìn thấy hình ảnh
của Thượng Đế ở bên trong mỗi người, bất luận lớn nhỏ, sang hèn. Sư phụ
nói thêm:
- Khi ta phục vụ những tu sĩ khất thực, bất luận đó là
những tu sĩ thánh thiện hay ngu dốt, ta học thực hành cái đức tính cao
cả mà Thượng đế quý hơn tất cả mọi đức tính khác, đó là: đức khiêm tốn.
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:35

Dịch giả: Nguyễn Hữu Kiệt

Một cung điện trên dãy Tuyết Sơn






Gặp
gỡ giữa Lahiri Mahâsaya và Babâji là một truyện thần tiên, một huyền
thoại phàm thật xứng đáng với tác phong của vị Tôn sư bất tử.
Chính
bởi những lời này mà tu sĩ Kebalâ bắt đầu câu chuyện tường thuật của
ông. Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện này, tôi đã thật sự giật mình vì
kinh ngạc. Sau đó, tôi đã nhiều lần yêu cầu tu sĩ, thầy dạy Phạn ngữ
của tôi, hãy lập lại cho tôi nghe câu chuyện ấy, mà về sau Sri
Yukteswar đã kể lại cho tôi nghe cũng đại khái giống y như thế. Hai vị
đều là đệ tử của đức Lahiri Mahâsaya, và đều đã được nghe Tôn sư trực
tiếp kể lại câu chuyện ấy. Đức Lahiri Mahâsaya thuật chuyện như sau:
-
Cuộc gặp gỡ lần đầu tiên của tôi ới đức Babâji xảy ra hồi năm tôi ba
mươi ba tuổi. Mùa thu năm 1861, tôi đang làm kế toán viên của sở Hành
chánh quân đội Anh ở Danapar. Một buổi sáng, ông trưởng phòng cho mời
tôi đến và nói:
- Lahiri, chúng tôi vừa nhận được một bức điện tín
của văn phòng Trung ương. Anh sẽ được thuyên chuyển đi Ranikhet, tại
đây tiền đồn quân sự vừa mới được thiết lập.
Tôi bèn cùng với một
người gia nô bắt đầu một chuyến viễn du dài năm trăm dặm đường. Khi thì
đi ngựa, khi đi xe, sau một tháng trường chúng tôi đã đến Ranikhet,
dưới chân dãy núi Tuyết Sơn. Công việc của tôi tại đây cũng nhàn, nên
tôi có nhiều thời giờ rảnh để đi chơi trên núi. Người ta đồn rằng vùng
này được thánh hóa bởi sự hiện diện của nhiều bậc hiền giả, chân tu đã
đắc Đạo. Tôi cảm thấy một sự mong ước mãnh liệt là được gặp các ngài.
Một buổi chiều, trong một chuyến đi ngao du trên núi, tôi ngạc nhiên mà
nghe thấy có một giọng nói từ đàng xa gọi tên tôi. Tôi đang cố gắng leo
lên sườn núi cheo leo như vách của ngọn núi Drongiri, và hơi e ngại
rằng có thể tôi không kịp về nhà trước khi trời tối. Sau cùng, tôi đến
một khoảng trống và hẹp giữa hai bên vách núi có những hang động thâm
u, ở trước một hang động này tôi thấy một dị nhân gương mặt trẻ như một
thanh niên, vừa mỉm cười vừa đưa một tay vẫy tôi như một cử chỉ đón
tiếp. Tôi lấy làm ngạc nhiên mà thấy người ấy giống tôi như đúc, chỉ
trừ ra mái tóc của người như màu đồng đó.
- Lahiri, con đây rồi!
Dị nhân nói với tôi một cách trìu mến bằng tiếng thổ ngữ Bắc Ấn.
- Con hãy nghỉ ngơi trong động này. Chính ta đã gọi con đến đây.
Tôi bước vào động và nhìn thấy có những nệm, chăn bông và vài cái bình bát khất thực.
- Lahiri, con có nhớ chỗ ngồi này không?
Dị nhân vừa nói vừa chỉ một nệm vuông ở một góc.
- Bạch ngài, tôi không nhớ.
Hơi ngạc nhiên vì cuộc gặp gỡ lạ lùng này, tôi nói thêm:
- Bây giờ, tôi phải trở về trước khi trời tối. Sáng mai, tôi còn phải có mặt tại sở làm!
Dị nhân nói một câu bằng tiếng Anh rất trôi chảy:
- Sở làm được tạo ra cho con, chứ không phải con được tạo ra cho sở làm!
Tôi
lấy làm king ngạc mà thấy dị nhân không những nói được tiếng Anh, mà
còn chú thích cả lời nói của đấng Christ: "Ngày lễ Chúa Nhật được đặt
ra cho con người, chứ không phải con người được sinh ra cho cuộc lễ
ngày Chúa Nhật" (marc, II:27).
- Ta thấy rằng bức điện tín của ta đã có hiệu quả.
Câu nói đó đối với tôi là một điều bí hiểm. Tôi xin dị nhân giải thích rõ. Người đáp:
-
Ta nói về bức điện tín nó đã kêu gọi con đến nơi thị trấn hẻo lánh này.
Chính ta đã dùng thần giao cách cảm để gợi ý cho thượng cấp của con
thuyên chuyển con đến Tanikhet. Đối với người nào đã đạt tới sự hợp
nhất tâm linh với toàn thể nhân loại, thì tất cả những linh hồn đều là
những trạm thu thanh vô tuyến sẵn sàng tiếp nhận mệnh lệnh của y.
Dị nhân nói thêm với tấm lòng ưu ái:
- Lahiri, chắc hẳn con đã từng quen thuộc với chốn hang động này?
Tôi
còn đang hoang mang trong sự thầm lặng, dị nhân bèn bước đến gần và vỗ
nhẹ một cái trên trán tôi. Ngay khi đó, một luồng từ điện chạy xuyên
qua óc tôi, làm cho tôi nhớ lại những kỷ niệm đã bị che lấp về tiền
kiếp của tôi.
- À, con nhớ ra rồi!
Giọng nói tôi đứt quảng vì xúc động, xen lẫn với những giọt lệ sung sướng:
- Ngài tức là Babâji, Sư phụ con! Cũng như tự thuở nào!
Những
hình ảnh của quá khứ diễn ra rõ ràng trong trí tôi! Chính tại đây,
trong động núi thâm u này, tôi đã từng sống trong nhiều năm trải qua
nhiều tiền kiếp! Những kỷ niệm đó mỗi lúc càng hiển hiện ra trong ký ức
tôi, tôi bèn cúi xuống hôn hai bàn chân của sư phụ thiêng liêng...
- Ta đã đợi con ở đây từ trên ba mươi năm nay, ta hy vọng con sẽ trở lại!
Một tình thương bao la biểu lộ trong giọng nói của Babâji:
-
Con đã từ biệt ta, và biến mất dạng giữa những cảnh giới bên kia cửa
Tử. Sự hành động của nghiệp quả mầu nhiệm như chiếc đũa thần, đã khiến
cho con từ giã cõi trần, và con đã biến mất. Tầm nhãn quang của con
không còn nhìn thấy ta nữa, nhưng còn ta, thì trái lại, không khi nào!
Ta đã theo dõi con trên những làn sóng hào quang dập dồn của biển trung
giới, là nơi mà các vị thiên thần bay lương thung dung. Xuyên qua bóng
tối dày đặc, xuyên qua bão bùng, mưa gió, ánh sáng, ta đã theo dõi con
như một người mẹ tìm con. Khi con đầu thai vào lòng mẹ trong kiếp này,
ta đã chú ý đến con. Khi còn nhỏ, con tập ngồi thiền trong tư thế liên
hoa, ta đã có mặt một bên, tuy rằng vô hình vô ảnh. Trải qua bao nhiêu
năm tháng dập dồn, ta luôn luôn để ý theo dõi con, và trông đợi đến
ngày tốt lành mà con sẽ trở lại sống gần bên ta. Đây là cái động đá
thân yêu của con khi xưa. Ta vẫn giữ nó được sạch sẽ, sẵn sàng tiếp đón
ngày con trở về. Đây là tấm nệm con vẫn ngồi thiền định. Kìa, con hãy
nhìn xem, đây là cái bình bát khất thực, trong đó con đã bao lần uống
cạn nước cam lồ mà ta rót cho con. Con có nhận thấy chăng nó vẫn trơn
tru, bóng láng, sáng chói, chờ đợi đến ngày nó sẽ phục vụ con như thuở
nào. Con hỡi, bây giờ con đã hiểu chưa?
- Bạch sư phụ, con còn
biết nói gì hơn? Tôi nói thì thầm, giọng nói đứt đoạn vì xúc động, Chưa
bao giờ con được nghe nói đến một thứ tình thương sâu rộng bao la như
thế, tình ấy còn mạnh hơn cả bất cứ một mãnh lực nào trên thế gian này!

Tôi rơi vào một trạng thái say sưa ngây ngất trong một lúc rất lâu,
và chiêm ngưỡng đức sư phụ mến yêu của tôi, thầy của tôi trong cõi sống
và cả trong cõi chết.
- Lahiri, con phải tinh luyện xác thân con.
Con hãy uống chất dầu đựng trong cái chén này, rồi đi ra tắm rửa dưới
giòng sông ở trước mặt.
Tôi thầm nghĩ:
- Sư minh triết của Babâji cũng vẫn như độ nào!
Tôi
bèn tuân theo các chỉ thị đó. Tuy rằng đêm lạnh như băng của vùng Tuyết
sơn đã đến, một nhiệt độ tốt lành, dễ chịu, phát sinh từ những rung
động thầm kín bên trong nội tâm, đã thấm nhuần khắp cả những tế bào
trong thân thể tôi. Hay là chất dầu mà tôi vừa uống đã đem lại sự công
hiệu nhiệm mầu?

Một ngọn gió lạnh như cắt thổi rít lên chung
quanh tôi, và tung hoành như vũ bão trong đêm tối. Những ngọn sóng nhấp
nhô của con sông Gogash lạnh như băng đập vàp mình tôi, trong khi tôi
bám chặt lấy những tảng đá lớn. Những tiếng gầm thét của chúa sơn lâm
vang dội gần bên, nhưng lòng tôi không cảm thấy sợ sệt, một nguồn thần
lực vô hình xâm chiếm lấy tôi và đem cho tôi một sự dũng cảm phi thường
không thể lay chuyển. Thời gian trôi qua rất mau. Những kỷ niệm xa vời
của một tiền kiếp trở lại dồn dập trong trí tôi, xen lẫn với niềm hạnh
phúc vừa được gặp lại vị sư phụ thiêng liêng của tôi.
Thình lình,
giữa cơn vắng lặng của núi rừng tôi nghe có tiếng chân người bước đến
gần. Trong bóng tối, một bàn tay ưu ái đỡ tôi đứng dậy và cầm đưa cho
tôi một bộ áo quần khô ráo.
- Sư huynh hãy trở về động. Sư phụ đang chờ đấy!
Người
ấy đưa đường cho tôi xuyên qua rừng. Từ đàng xa, một ánh sáng rực rỡ
chọc thủng màn đêm u tối một cách đột ngột. Ngạc nhiên, tôi hỏi:
- Trời đã sáng rồi chăng? Sao mà mau lắm vậy, vì tôi tưởng là đêm hãy còn lâu mới hết!
- Mới vừa nửa đêm thôi, sư huynh ạ.
Người hướng dẫn tôi mỉm cười:
-
Ánh sáng đó toát ra từ một tòa cung điện bằng vàng khối mà đức sư phụ
toàn năng vừa tạo ra. Trong một tiền kiếp, sư huynh đã bày tỏ lòng mong
ước có một tòa lâu đài bằng vàng. Sư phụ đã làm thỏa mãn điều ước vọng
đó để cho sư huynh giải tỏa khỏi sợi dậy trói buộc của nghiệp quả.
(Luật
nhân quả định rằng mọi điều ước vọng của con người rốt cuộc sẽ được
thực hiện. Bởi đó, mọi điều ham muốn, dục vọng là sợi dây trói buộc con
người vào vòng luân hồi sinh tử)
Người lại nói thêm:
- Tòa
cung điện này sẽ là nơi sư huynh làm lễ nhập môn theo đạo pháp Kriyâ
Yoga. Tất cả các huynh đệ đều vui mừng chào đón sư huynh sau một thời
gian vắng mặt lâu dài. Kìa, sư huynh hãy nhìn xem!
Một tòa cung
điện nguy nga đồ sộ bằng vàng chói sáng rực rỡ hiện ra trước mắt tôi.
Lâu đài có cẩn muôn nghìn viên ngọc quý đủ màu, và dựng lên giữa một
khung cảnh vườn tược rộng rãi, cây cối sầm uất, thật là một cảnh tượng
có một không hai trên thế gian này. Những vị tu sĩ thánh đức, gương mặt
hiền hòa, đứng túc trực nơi các cửa vàng có chạm những viên ngọc lưu ly
màu đỏ thắm chói lòa. Các cổng ngoài, cửa trong, và khung cửa lớn, cửa
nhỏ, thảy đều cẩn ngọc trai, trân châu, kim cương, ngọc bích, ngọc
thạch... huy hoàng, lộng lẫy, sang trọng vô cùng.
Tôi đi theo
người hướng dẫn viên vào tòa sảnh đường. Một mùi hương trầm và mùi thơm
của hoa hường đượm trong không khí, hàng nghìn ngọn hoa đăng muôn màu
nghìn sắc chiếu một ánh sáng nhạt mờ huyền ảo. Từng nhóm tu sĩ hoặc môn
đồ da trắng hoặc nâu sậm, ngồi rải rác đó đây, hoặc hát thánh ca, hoặc
ngồi thiền theo tư thế liên hoa, đắm chìm trong cơn yên tĩnh của nội
tâm. Một niềm vui tươi phảng phất trong không khí. Ngươi hướng dẫn viên
mỉm cười một cách thân tình với tôi, trong khi tôi thốt ra những tiếng
kêu ngạc nhiên và thán phục. Y nói:
- Sư huynh hãy chiêm ngưỡng
cho thỏa lòng sự huy hoàng lộng lẫy của tòa lâu đài này, vì nó được tạo
lập nên để chào mừng sư huynh đấy!
Tôi đáp:
- Sư huynh hỡi,
những công trình kiến trúc nguy nga tráng lệ này thật là vượt khỏi sự
tưởng tượng của con người. Xin sư huynh hãy vui lòng tiết lộ cho biết
sự bí mật về nguồn gốc của nó.
- Tôi xin sẵn lòng!
Một tia minh triết chiếu sáng trong cặp mắt người bạn đồng môn của tôi, người bắt đầu nói:
-
Trong cõi thiên nhiên, không có gì là khó giải thích. Toàn thể vũ trụ
chỉ là sự kết tinh tư tưởng của đấng Tạo Hóa. Chính quả địa cầu này
cũng là sự thể hiện cái giấc mơ của đấng Hóa Công. Ngài sáng tạo mọi
vật từ trong ý thức hệ của ngài, cũng y như con người lập lại trong
giấc ngủ những gì y đã thấy thật sự trong khi thức tỉnh.
Lúc khởi
thủy, Thượng đế sáng tạo nên trời đất bằng cách phác họa hình ảnh vũ
trụ trong trí của ngài, kế đó ngài mới kết tinh lại thành hình: những
nguyên tử tinh lực mới phát sinh và kết cấu lại thành những quả tinh
cầm đông đặc. Tất cả những phân tử hóa chất đều kết hợp lại do bởi Ý
chí thiêng liêng. Khi thượng đế rút lại cái Ý Chí đó, quả địa cầu lại
tan rã thành tin lực vô hình vô ảnh, và thậm chí đến tinh lực này cũng
tan biến để hoàn nguyên trở lại thành ý thức của Thượng đế. Chừng đó,
quả địa cầu dưới hình thức một ý nghĩ cũa Thượng đế, đã mất hẳn sự tồn
tại của nó trong không gian.
Nhờ hợp nhất làm một với Ý chí sáng
tạo thiêng liêng, đức Babâji có cái quyền năng kết cấu, phối hợp những
nguyên tử vật chất lại thành vô số hình thể biến hóa đến vô cùng tận.
Tòa cung điện bằng vàng khối này, được dựïng lên trong nháy mắt, cũng
có thật như quả địa cầu của chúng ta đây. Sư phụ đã phác họa sẵn trong
trí cái hình ảnh tòa lâu đài bằng vàng và dùng quyền năng của ý chí kết
tinh các nguyên tử vật chất trong không gian theo kiểu mẫu cái khuôn đã
đúc sẵn trong trí để cho nó thể hiện ra thành sự thật. Điều này cũng
giống y như khi Thượng Đế sáng tạo nên Trời đất và các bầu thế giới, và
duy trì các quả tinh cầu thành hình trong một thời gian nhất định.
Người bạn tôi nói thêm:
-
Khi tòa lâu đài đã thực hiện xong vai trò của nó, Babâji sẽ làm cho nó
tan rã và trở về kho tinh lực vật chất trong thiên nhiên.
Tôi lặng người vì ngạc nhiên trước sự mầu nhiệm đó, người bạn tôi nói tiếp:
-
Tòa cung điện nguy nga lát vàng cẩn ngọc này không phải xây dựng nên
bằng sức lao động. Người đã đạt tới cái quả vị thiêng liêng cao quý như
Babâji có thể thực hiện bất cứ việc nhiệm mầu nào do bởi nguồn thần lực
vô biên ẩn tàng trong Chân Ngã của Ngài. Một cục đá có tiềm năng chứa
đựng cả một kho nguyên tử lực vô tận. Chính cũng bởi đó mà một người
phàm có cái tiềm lực hàm xúc một quyền năng vô biên: ấy là nguồn gốc
thiêng liêng ẩn tàng của y.
Vị tu sĩ day qua một bàn gần bên và cầm lấy một lọ lộc bình rất quý, cái quai có cẩn kim cương lóng lánh, và nói tiếp:
-
Sư phụ đã tạo nên tòa cung điện này bằng hằng hà sa số những vũ trụ
tuyến đã kết tinh đông đặc lại. Sư huynh hãy cầm cái lộc bình này, hãy
sờ mó những hột kim cương này để nhận xét rằng đó là sự thật chứ không
phải ảo ảnh.
Tôi quan sát lọ lộc bình, và đưa tay tay sờ lên vách
tường đúc bằng vàng khối! Một sự thỏa mãn thâm trầm đã tràn ngập cõi
lòng tôi: một ước vọng thầm kín chôn chặt dưới đáy lòng từ bao nhiêu
kiếp trở về trước, nay vừa mới được thực hiện!
Xuyên qua những
cánh cửa chạm trổ tinh vi, những hành lang dài thăm thẳm, những gian
phòng trang hoàng lộng lẫy theo một cách điệu sang trọng của bậc đế
vương, vị tu sĩ đưa tôi vào một nơi cung thất to rộng vô cùng. Nơi
chính giữa, có đặt một chiếc ngai vàng cẩn ngọc chớp sáng loè muôn màu
nghìn sắc. Trên ngai vàng, đức Babâji ngồi tĩnh tọa trên thế liên hoa.
Tôi bèn cúi đầu làm lễ dưới chân ngài trên sàn gạch đánh bóng. Sư phụ
cất tiếng hỏi:
- Lahari, con vẫn còn nuôi cái mộng sở hữu một cung vàng điện ngọc nữa chăng?
Đôi mắt của sư phụ chiếu sáng như những viên ngọc quý trong cung điện.
- Con hãy thức tỉnh. Tất cả những dục vọng trần gian của con nay đã gần phủi sạch!
Sư phụ bèn thì thầm một câu châm ngôn bí mật. Kế đó người nói:
- Con hãy đứng dậy để làm lễ nhập môn vào cõi giới của Thượng Đế do đạo pháp Kriyâ Yoga.
Babâji
đưa hai tay ra trước một bàn thờ: một ngọn lửa hy sinh (homa) xuất hiện
một cách mầu nhiệm, giữa những bông hoa và trái cây. Tôi bèn làm lễ thụ
pháp giải thoát của pháp môn Yoga trước bàn thờ khói hương nghi ngút.
Lúc
trời hừng sáng, cuộc lễ đã chấm dứt. Không cảm thấy buồn ngủ chút nào,
tôi đi dạo thẩn thơ trong cung điện và ngắm nhìn những đồ mỹ nghệ quý
giá cùng những kho tàng bảo vật, chỉ có trong những truyện huyền thoại
hoang đường. Trong những khu vườn hoa đẹp như bồng lai tiên cảnh, tôi
nhìn thấy những khối đá tảng của hang núi: mới ngày hôm qua đây, chưa
có một tòa lâu đài nào ở vùng chung quanh.
Trở về cung thất, chiếu
rạng ngời những ánh vàng lộng lẫy trước những tia nắng bình minh, tôi
đưa mắt nhìn quanh để tìm sư phụ. Người vẫn ngồi tĩnh tọa trên ngai,
giữa bầu không khí yên lặng có các vị đệ tử đứng vây chung. Kế đó,
Babâji nói:
- Lahiri, chắc con đã đói bụng. Con hãy nhắm mắt lại.
Khi
tôi mở mắt ra, tòa lâu đài cung điện và những cảnh hoa viên xinh đẹp
như mộng đã biến mắt! Babâji, các đệ tử và tôi thảy đều ngồi dưới đất,
ở ngay chỗ tọa lạc của tòa lâu đài khi nãy, cách hang động của Sư phụ
không xa. Tôi mới nhớ lại lời nói của vị hướng dẫn tôi từ lúc đầu rằng
tòa cung điện sẽ được giải thể (làm cho tan rã, dématérialiser) sau khi
đã hoàn thành sứ mạng của nó, những nguyên tử kết hợp sẽ được giải tỏa
và tiêu tan trong kho tinh lực của trời đất. Kinh ngạc vô cùng, nhưng
tôi nhìn sư phụ một cách tin tưởng, và tự hỏi không biết ngày ấy sẽ còn
dành cho tôi những sự bất ngờ nào nữa chăng. Babâji giải thích:
- Mục đích việc thiết lập nên tòa cung điện này đã đạt được.
Ngài lấy một chén lớn bằng đất đưa cho tôi và nói:
- Con hãy cầm lấy cái chén này và con sẽ có đủ những vật thực mà con muốn ăn.
Khi
tôi vừa cầm lấy cái chén lớn, nó liền chứa đầy những khoanh bánh bột mì
chiên bơ, cari, và những cao lương mỹ vị khác. Tôi ăn ngon lành, và
nhận thấy rằng cái chén không bao giờ cạn thức ăn. Khi đã ăn no, tôi
mới đi tìm nước uống. Sư phụ chỉ cái chén mà tôi vừa dùng xong, và thức
ăn được thay thế bằng nước suối mát trong lành. Babâji nói:
-
Người thế gian ít ai ngờ rằng. Cõi trời là cõi mà mọi điều ước vọng đều
được thỏa mãn. Cõi ấy cũng nới rộng đến quả địa cầu này, tuy rằng thế
gian chỉ là hư ảo và không có gì chân thật.
- Bạch sư phụ, đêm nay Sư đã đưa con vào một lãnh vực tuy ở cõi thế nhưng lại rất gần với Cõi trời!
Tôi
mỉm cười mà nhớ đến lâu đài thần diệu, có người tu sĩ nào lại làm lễ
nhập môn học Đạo ở giữa một khung cảnh cực kỳ xa hoa lộng lẫy như thế?
Từ này tôi có thế chiêm ngưỡng trong yên lặng cái khung cảnh một mạc
giản dị, tương phản một cách rõ rệt với tòa cung điện lúc nãy. Núi
rừng, hang động, suối chảy, thông reo, tất cả đều hợp thành một nơi cư
ngụ lý tưởng cho những tu sĩ đang ở chung quanh tôi.
Ngày hôm ấy,
tôi đắm chìm trong những cơn thiền định, và những sở đắc tâm linh mà
tôi đã thực hiện trong những tiền kiếp đã trở lại với tôi. Sư phụ bước
đến gần đưa bàn tay đặt nhẹ lên đỉnh đầu tôi, và tôi liền lọt vào cơn
đại định nirvikalpa samadhi, trạng thái ấy tiếp tục kéo dài suốt bảy
ngày không dứt. Trong trạng thái đó, tôi đã vượt qua các lớp chướng
ngại để thực hiện Chân Ngã, tôi đã vượt qua ngưỡng cửa của cõi giới
siêu linh để bước vào cõi Đạo diệu huyền. Những bức màn ảo ảnh, những
tham vọng phù du giả tạm thảy đềy lần lượt tiêu tan. Linh hồn tôi đã
bước vào cõi Vô cùng và hợp nhất làm một với Chân Như Đại Ngã, tức Đại
Hồn của Vũ Trụ. Bắt đầu qua ngày thứ tám, tôi quỳ dưới chân Sư phụ và
cần xin ngài hãy giữ tôi lại một bên ngài mãi, giữa chốn núi rừng cô
tịch. Sư phụ ôm lấy tôi một cách rất mến yêu và nói:
- Con hỡi,
trong kiếp này, con phải đóng vai trò của con trên sân khấu của cuộc
đời thế tục. Con đã được thánh hóa nhờ công phu tu luyện mà con đã thực
hành trong bao nhiêu tiền kiếp, bây giờ con phải sống lẫn lộn với người
thế gian.
Sự kiện rằng con chỉ gặp ta sau khi đã lập gia đình và
có một chức vụ khiêm tốn, có hàm xúc một ý nghĩa xâu xa. Con phải từ bỏ
hy vọng gia nhập với nhóm đệ tử của ta trên dãy Tuyết Sơn. Vai trò của
con sẽ sống chung lộn với người đời, để nêu một tấm gương cao quý về
những sở đắc tâm linh mà một người gia trưởng sống ngoài thế gian có
thể đạt được nhờ thực hành pháp môn Yoga.
Thượng Đế không hề làm
ngơ trước những lời cầu nguyện thiết tha của những kẻ khát khao tìm đạo
và còn sống ngoài thế tục. Con đã được chọn lựa để phổ biến đạo pháp
Kriyâ Yoga trong quần chúng. Những kẻ có trách nhiệm gia đình và những
bổn phận hằng ngày sẽ nhận được giáo lý ấy dễ dàng hơn ở nơi con, vì
con cũng ở vào một hoàn cảnh giống như họ. Vai trò của con sẽ là nêu
một tấm gương sống động để chứng minh rằng những thành quả tối cao của
sự thực hành đạo pháp Yoga không phải là hạn chế đối với những người
còn có trách nhiệm gia đình. Dẫu cho sống ngoài thế gian, người hành
giả làm tròn các bổn phận mình một cách vị tha, vô kỷ, chắc chắn sẽ đạt
tới sự giác ngộ tâm linh.
Từ này, không có gì bắt buộc con phải từ
bỏ thế gian, vì con đã cắt đứt mọi sợi dây trói buộc của nghiệp quả.
Tuy sống trong trần thế, nhưng con không còn hệ lụy cõi trần. Con còn
phải trải qua nhiều năm dành cho những bổn phận gia đình, xã hội và tâm
linh. Niềm hy vọng thiêng liêng từ nay sẽ thức động những tâm hồn đau
khổ của người đời đang sống trong thế kỷ này. Cuộc đời hoàn toàn sống
theo kỷ luật tâm linh của con sẽ giúp cho họ hiểu rằng sự giải thoát là
tùy nơi những sự dứt bỏ thâm sâu từ bên trong, chứ không phải từ bên
ngoài.
Gia đình, sở làm, toàn cõi thế gian đối với tôi lúc ấy có
vẻ xa với biết bao nhiêu trong khi tôi lắng nghe những lời dạy đó của
Sư phụ tôi trong vùng Tuyết Sơn hẻo lánh hoang vu. Tuy nhiên, chân lý
đã do cửa miệng của ngài thoát ra, hang động yên tịnh này. Đức Babâji
bèn dạy cho tôi biết những luật lệ cổ xưa và bất biến về việc truyền
pháp Yoga giữa Tôn sư và đệ tử. Sư phụ nói:
- Con chỉ nên truyền
bí thuật Kriyâ Yoga cho những môn đệ xứng đáng. Người nào sẵn sàng từ
bỏ và hy sinh tất cả để tìm đạo, mới thật xứng đáng được truyền thụ
những bí pháp giúp cho y thâu triệt được vấn đề sinh tử bằng cách tham
thiền.
- Bạch sư phụ, sư phụ đã ban cho thế gian bằng cách phụ hồi
đạo pháp Kriyâ Yoga đã bị mất đi trong quên lãng, thì nay cũng xin Sư
phụ hãy mở lượng từ bi mà làm dịu bớt những luật lệt khắt khe về việc
chọn lọc đệ tử.
Tôi nhìn Babâji với đôi mắt khẩn cầu:
- Con
xin sư phụ cho phép cho truyền pháp Kriyâ Yoga cho tất cả những kẻ tầm
Đạo, dẫu rằng họ vẫn chưa sẵn sàng đạt tới sự dứt bỏ hoàn toàn từ bên
trong. Người thế gian, cả nam lẫn nữ, đều đang bị dày vò trong đau khổ
cả thể chất lẫn tinh thần, phải cần được nâng đỡ và khuyến khích. Họ sẽ
không bao giờ tìm thấy chính đạo nếu họ bị từ chối không được truyền
thụ Đạo Pháp Kriyâ Yoga.
- Ta chuẩn y lời cần xin đó. Thiên Ý được biểu lộ qua cửa miệng của con.
Bằng
những lời đó, sư phụ đã đánh đổ những bức rào ngăn cách từ muôn đời vẫn
che dấu đạo pháp Kriyâ Yoga trước mắt người thế gian.
- Con hãy truyền pháp Kriyâ cho tất cả những người tầm Đạo với tấm lòng khiêm tốn.

Sau một lúc im lặng, Babâji nói tiếp:
-
Con hãy lập lại cho mỗi đệ tử lời hứa hẹn này trong kinh Bhagavad Gita:
"Dẫu chỉ có một ít biết về pháp môn này cũng đủ giúp cho ta tránh được
nhiều nỗi đau khổ rất lớn".
Sáng ngày hôm sau, khi tôi làm lễ kiếu
từ Sư phụ để xin ngài ban ân huệ trước khi lên đường, ngài cảm thấy nỗi
thất vọng buồn rầu của tôi phải từ giã ngài ra đi. Ngài nói,
- Sự biệt ly vốn không có giữa chúng ta, con ạ! Dầu cho con ở nơi nào, con chỉ cần gọi đến ta là ta sẽ xuất hiện ngay tức khắc.
Được
an ủi bởi lời hứa hẹn huyền diệu đó, tôi lên đường trở về nhà. Về đến
sợ làm sau mười mấy ngày vắng mặt, tôi được các bạn đồng nghiệp đón
tiếp nồng nàn vì họ tưởng rằng tôi đã đi lạc vào núi trên dãy Tuyết
Sơn. Kế đó, tôi nhận được một bức thơ của viên trưởng phòng. Trong thơ
nói rằng: "Lahiri phải trở về văn phòng Hành Chánh ở Danapur. Việc
thuyên chuyển y đến Ranikhet là một sự sai lầm. Một nhân viên khác sẽ
được gửi đến Ranikhet để thay thế cho y".
Sự "sai lầm" nó đã đưa
tôi lên tận dãy Tuyết Sơn, làm cho tôi mỉm cười. Trước khi trở về
Danapur, tôi đến tạm trú vài ngày tại nhà của một gia đình quen thuộc ở
Moradabad. Tại đây, có sáu người bạn hữu đến thăm tôi. Trong khi tôi
hướng câu chuyện đến những vấn đề tâm linh người chủ nhà tỏ ý buồn rầu
và nói:
- Than ôi! Các vị Chân sư của Ấn Độ ngày nay đã biến mất không còn nữa!
Tôi phản đối mãnh liệt để cải chính:
- Thưa ông, các vị chân sư vẫn còn thánh hóa xứ sở chúng ta bởi gót chân của các ngài!
Trong
cơn hứng khởi tôi cảm thấy cần thuật lại kinh nghiệm độc đáo của tôi
vừa rồi trên dãy Tuyết Sơn. Các bạn tôi tỏ vẻ hoài nghi, nhưng chỉ lễ
phép mỉm cười. Một bạn bèn kết luận:
- Lahiri, có lẽ không khí miền sơ cước đã làm cho bạn say sưa ngây ngất, và chắc là bạn đã có một cơn mơ!
Vì muốn làm sáng tỏ sự thật, tôi đáp không do dự:
- Sư phụ tôi sẽ xuất hiên tại ngay chỗ này, bằng xương bằng thịt, để đáp lại lời kêu gọi của tôi!
Lần
này, tôi đã làm cho họ chú ý, thật không phải là một chuyện lạ nếu mỗi
người đều mong muốn chiêm ngưỡng một vị thánh nhân hiện hình ra một
cách bất ngờ như thế. Tôi yêu cầu chủ nhà sắp đặt cho tôi một gian
phòng và hai tấm nệm mới. Tôi nói:
- Sư phụ tôi sẽ xuất hiện từ không gian. Các bạn hãy đứng im lặng phía sau cánh cửa, trong chốc lát tôi sẽ mời các bạn vào.
Tôi
bèn ngồi tĩnh tọa nhập thiền, và kêu gọi sư phụ tôi bằng tư tưởng.
Trong giây lát, một ánh sáng huyền ảo và êm dịu như ánh trăng le lói
trong gian phòng, và hình dáng đức Babâji từ từ xuất hiện.
- Lahiri, tại sao con lại kêu gọi đến ta vì một mục đích nhỏ mọn, vô nghĩa?
Cặp mắt sư phụ được một vẻ nghiêm khắc.
-
Chân lý chỉ đến với những kẻ thật lòng tìm đạo, chứ không phải để cho
những kẻ tò mò. Thật rất dễ mà tin tưởng nơi những điều tai nghe mắt
thấy, vì chừng đó sự thật đã hiển nhiên, không còn phải chối cãi gì
nữa. Chỉ có người nào thắng được sự hoài nghi mới khám phá được chân lý
thâm diệu và vô hình vô ảnh.
Kế đó, người nói với một giọng nghiêm nghị:
- Hãy để ta đi!
Tôi bèn quỳ xuống chân sư phụ và nài nỉ:
-
Bạch sư phụ, con xin sư phụ tha lỗi cho con. Chính vì con muốn gây đức
tin cho những kẻ hãy còn mù quáng về phương diện tâm linh, mà con đã
kêu gọi đến sư phụ. Sư phụ đã chiếu cố mà xuất hiện trước lời cầu xin
của con thì con cũng xin sư phụ hãy vui lòng ban ân huệ cho các bạn con
trước khi ra về. Tuy họ thiếu đức tin, nhưng ít nhất họ cũng khát khao
được biết sự thật về kinh nghiệm lạ lùng của con.
- Được ta sẽ ở lại, vì ta không muốn cho các bạn con nghi ngờ lời nói của con.
Babâji dịu giọng, nhưng còn nói thêm:
- Từ rày về sau, ta sẽ không xuất hiện trước lời kêu gọi của con nữa, trừ ra khi nào sự có mặt của ta là tối cần thiết.
Khi
tôi bước ra mở cửa, thì các bạn tôi đang chờ đợi trong một sự im lặng
hoàn toàn. Hãy còn ngờ vực nới giác quan của họ, họ đứng sững, miệng há
hốc, giương hai mắt to lên để chiêm ngưỡng dung nhan đức Babâji đang
ngồi ung dung tự tại trên tấm nệm.
- "Đó là phép thôi miên tập
thể", một nhân chứng vừa nói vừa cười. "Không ai có thể bước vào gian
phòng này mà chúng tôi không biết!"
Babâji vừa mỉm cười vừa ra
lịnh cho mỗi người hãy đến gần và sờ mó vào mình ngài để kiểm chứng sự
thật. Khi họ không còn nghi ngờ gì nữa, họ bèn quỳ lạy dưới chân sư phụ
tôi một cách cung kính và tỏ ra ăn năn sám hối vì đã có bụng hoài nghi.

- Hãy nấu cháo cho các vị dùng đỡ lót dạ. Babâji ra lịnh để đưa
thêm một bằng chứng về sự thật của ngài. Trong khi nồi cháo đang sôi,
sư phụ đàm thoại với tấm lòng ưu ái cởi mở với tất cả mọi người. Những
kẻ hoài nghi lúc nãy nay đã trở thành những người sùng tín rất mực,
không còn nghi ngờ gì nữa. Khi chúng tôi đã dùng cháo xong, Babâji đưa
tay ban ân huệ cho từng người. Một tia chớp xuất hiện thình lình xẹt
ngang qua gian phòng: chúng tôi chứng kiến tận mắt sự giải thể mau như
chớp nhoáng của sư phụ: những nguyên tử, tế bào hợp thành thể xác của
ngài bỗng nhiên tan rã mau lẹ trong chớp mắt, và phát ra một vầng hào
quang mỗi lúc càng mờ dần. Quyền năng của Babâji vốn hòa hợp với Thựơng
đế, đã giải tỏa bằng hà sa số những phân tử dĩ thái đã được kết cấu lại
thành hình thể xác của ngài, những nguồn tinh lực được giải tỏa bèn trở
về hòa lẫn với cái kho tinh lực vô biên của vũ trụ.
- Tôi đã thấy tận mắt người chiến thắng Tử thần!
Một
nhân chứng trong nhóm bạn tôi, tên là Maitra đã nói như trên. Gương mặt
y đổi sắc y chứng kiến điều nhiệm màu của sư phụ. Y nói tiếp:
-
Tôn sư bất chấp mọi giới hạn của thời gian và khong gian và hành động
mọi sự một cách dễ dành như trò trẻ. Tôi vừa chứng kiến một bậc siêu
nhân nắm giữ chìa khóa mở các cõi huyền vi của trời đất.
Sau đó tôi trở về Danapur và tiếp tục công việc ở sở làm cùng làm tròn bổn phận người gia trưởng.
Lahiri
Mahâsaya cũng thuật cho tu sĩ Kebalâ và Sru Yukteswar nghe chuyện một
cuộc gặp gỡ khác với Babâji trong trường hợp hứa hẹp của sư phụ: "Ta sẽ
xuất hiện khi nào cần thiết". Lahiri Mahâsaya kể chuyện như sau:
-
Việc ấy xảy ra trong một cuộc thánh lễ Kumbha Mela ở Allahabad, thành
phố tại đó tôi trải qua những tháng nghĩ hè. Trong khi tôi trà trộn
trong đám đông những tu sĩ và khất sĩ từ khắp nởi ở Ấn Đô đến đây để dự
lễ, tôi nhìn thấy một tu sĩ khổ hạnh mình đầy bụi bặm cầm một cái bình
bát khất thực. Tôi có ý nghĩ rằng người này chỉ là một kẻ bịp bợm, giả
vờ khoác lấy cái bề ngoài của kẻ tu hành chứ không phải là một người
chân tu.
Khi tôi vừa đi qua khỏi người ấy thì tôi ngạc nhiên mà
thấy Babâji đang quỳ gối trước mặt một tu sĩ khác râu tóc xồm xoàm. Tôi
bèn chạy tới trước và kêu lên: - Bạch sư phụ, sư phụ làm gì vậy?
- Ta rửa chân cho người tu sĩ này, và sau đó ta sẽ lau chùi cái bình bát khất thực của y.
Babâji
cười với tôi một cách hồn nhiên như một đứa trẻ nhỏ. Tôi hiểu rằng ngài
muốn dạy tôi không nên chỉ trích kẻ khác, mà phải nhìn thấy hình ảnh
của Thượng Đế ở bên trong mỗi người, bất luận lớn nhỏ, sang hèn. Sư phụ
nói thêm:
- Khi ta phục vụ những tu sĩ khất thực, bất luận đó là
những tu sĩ thánh thiện hay ngu dốt, ta học thực hành cái đức tính cao
cả mà Thượng đế quý hơn tất cả mọi đức tính khác, đó là: đức khiêm tốn.
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:35

Dịch giả : Nguyễn Hữu Kiệt

Gương thánh thiện





Sợi dây liên lạc trường cửu giữ Tôn Sư và đệ tử đã nối liền Babâji với
Lahiri Mahâsaya. Với một sự chăm sóc đầy trìu mến, vị tôn sư bất tử đã
không quản âm dương cách biệt mà theo dõi người đệ tử trong cõi vô hình
bên kia cửa Tử, và tiếp tục dìu dắt y trong vòng bí mật lúc y mới tái
sinh trở lại cho đến khi trưởng thành. Khi người đệ tử được ba mươi ba
tuổi, Babâji mới thấy rằng thời giờ đã điểm để công khai nối lại sự
liên lạc trong quá khứ. Sau cuộc tiếp xúc ngắn ngủi tại Ranikhet, tôn
sư mới cho đệ tử mến yêu hạ sơn và lãnh một sứ mạng cứu độ trần gian.
"Con hỡi, ta sẽ có mặt một bên con khi nào con cần đến ta". Thử hỏi, có
thứ tình nào của thế gian có thể bảo đảm một lời hứa hẹn long trọng như
thế?
Trong
sự âm thầm mà thế gian không hề biết đến, một sự phục sinh tâm linh vĩ
đại đang được chuẩn bị nơi một địa điểm hẻo lánh ở ngoại ô thành
Bénerès. Cũng như một cái hoa có hương thơm không thể bị mai một trong
quên lãng, Lahiri Mahâsaya mặc dầu sống cuộc đời người gia trưởng, vẫn
không thể dấu sự cao cả tâm linh của mình trước mắt người đời. Không
bao lâu, những kẻ tầm sư học đạo từ bốn phương đã tìm đến để được thấm
nhuần ân huệ thiêng liêng mà người ban rải cho họ.
Tại sở làm,
viên trưởng phòng người Anh là người đầu tiên đã nhận thấy sự thay đổi
lạ kỳ nơi Lahiri, mà ông ta gọi là "Tiên sinh trầm lặng". Một hôm,
Lahiri Mahâsaya hỏi thăm ông trưởng phòng của mình:
- Thưa ông, hôm nay tôi thấy hình như ông không được vui. Xin ông cho biết lý do tại sao?
- Tôi đang lo buồn vì vợ tôi ở bên Anh quốc đang đau nặng.
- Để tôi thử dọ tin tức của bà giùm cho ông.
Lahiri
Mahâsaya liền rời khỏi văn phòng, tìm nơi hẻo lánh và ngồi tham thiền
trong một lúc. Một chập sau, người trở lại trạng thái bình thường và
nói với nụ cười an ủi:
"Bà đã khá nhiều, trong lúc này bà đang ngồi viết thơ cho ông.
Kế đó, Lahiri kể sơ vài đoạn trong bức thơ bà ấy đang viết. Ông trưởng phòng sáng mắt lên:
-
À, "tiên sinh trầm lặng", tôi biết ông không phải là một người thường.
Tuy vậy, tôi vẫn không tin rằng ông có thể chế ngự được không gian và
thời gian tùy ý muốn!
Bức thơ Anh quốc đã đến. Ông trưởng phòng
rất đổi ngạc nhiên mà được biết rằng không những bà vợ ông đã khỏi
bệnh, mà còn viết trong thơ chính những câu mà Lahiri Mahâsaya đã đọc
cho ông nghe từ mấy tuần lễ trước!
Sau đó vài tháng, bà trưởng
phòng đáp tàu sang Ấn Độ. Bà đến viếng sở Hỏa Xa nơi văn phòng của
Lahiri Mahâsaya đang làm việc. Vừa thấy Tôn sư, ba ta bước đến chào một
cách rất cung kính:
- Thưa ông, chính ông đã xuất hiện với một
vầng hào quang sáng rỡ bên giường của tôi ở Luân Đôn. Sau khi đó, tôi
đã hoàn toàn khỏi bịnh! Nhờ đó mà tôi có đủ sức chịu đựng cuộc hành
trình lâu dài bằng đường biển để sang Ấn Độ.
Ngày nào cũng có một
hai người mộ đạo đến khẩn cầu Tôn sư cho họ làm lễ nhập môn theo đạo
pháp Kriyâ Yoga. Ngoài những bổn phận tâm linh và công việc ở sở làm,
tôn sư còn chú trọng đến vấn đề giáo dục. Người thành lập nhiều nhóm
học sinh và đóng một vai trò hoạt động trong việc truyền bá nền giáo
dục ban trung học trong khu vực người Bengali ở Bénarès. Những buổi
thuyết pháp thường xuyên của tôn sư về các thánh kinh Ấn Độ đã hấp dẫn
một số đông thính giả mộ đạo.
Ý thức được sự hợp nhất của mình với
Thượng đế, Tôn sư quý trọng tất cả mọi người, bất luận lớn nhỏ, cao
thấp. Khi một đệ tử kính cẩn chào ngài, ngài luôn luôn đáp lễ. Với một
sự thành thật khiêm tốn, ngài thường nắm chân những khách đến viếng và
ít khi để cho họ đáp lễ một cách tương tự, tuy rằng sự kính trọng một
vị tôn sư là một phong tục rất cổ ở phương Đông.
Ngài thường nói với các đệ tử:
-
Con hãy luôn luôn nhớ rằng con không là sở hữu của một người nào, và
cũng không ai là sở hữu của con. Con hãy nghĩ rằng có ngày con sẽ phải
từ bỏ hết tất cả ở thế gian này, vậy các con nên hành đạo ngay từ bây
giờ. Con hãy chuẩn bị đời sống ngay từ bây giờ bằng cách nâng tâm hồn
lên tận Thượng đế do sự tham thiền. Cái thể xác bằng xương thịt này là
nguồn gốc của mọi sự phiền não. Hãy cố gắng tham thiền để sớm nhận thức
cái Tinh hoa bất diệt của chân ngã tiềm tàng ở nơi con, chính cái đó
mới là thoát khải mọi điều đau khổ, nghiệp chướng. Vậy con đừng làm nô
lệ của xác thân: pháp môn Kriyâ là cái chìa khóa bí mật sẽ mở cửa cho
con lọt vào cõi giới Tinh thần.
Một ngày nọ, sư phụ đang giảng lý
kinh Bhagavad Gita cho một nhóm đệ tử ngồi vây chung quanh, họ có dịp
nhận thấy một bằng chứng trực tiếp về sự toàn thông của người. Khi sư
phụ đang giải thích đoạn kinh nói về Tâm thức Bồ Đề giữa cảnh giời trần
duyên vọng động, thình lình người thốt lên một tiếng kêu:
- Có một đám đông linh hồn đang bị chết đuối ở ngoài khơi biển Nhật Bổn!
Sáng
ngày hôm sau, các đệ tử xem báo thấy có bài tường thuật một vụ đắm tàu
làm cho một số đông người bị chết chìm ngoài khơi quần đảo Nhật.
Những
đệ tử ở cách xa Lahiri Mahâsaya thường cảm thấy có ý thức về sự hiện
diện vô hình của sư phụ. Người thường nói để an ủi những đệ tử vì ở xa
không thể sống gần bên thầy:
- Ta luôn luôn ở bên cạnh những người
thực hành pháp môn Kriyâ Yoga. Ta sẽ dắt dẫn họ đến mục đích nhờ công
phu tu luyện để nới rộng tâm thức của họ.
Tu sĩ Sâtyânanda thuật
chuyện một đệ tử ở xa không thể đến tận Bénarès, tuy vậy cũng được
truyền pháp Kriyâ Yoga trong giấc mộng. Lahiri Mahâsaya đã xuất hiện
đến với người đệ tử trên, đáp lại lời thỉnh cầu của y.
Lahiri
Mahâsaya đã phân chia đạo pháp Kriyâ Yoga làm bốn cấp đẳng, từ đệ nhất
đến tứ pháp môn. Ba cấp đẳng trên chỉ được truyền thụ cho những đệ tử
đã thực hiện được những tiến bộ tâm linh khả quan và rõ rệt. Có lần một
vị đệ tử sơ cơ, cho rằng mình đã tiến bộ nhưng không được thừa nhận
đúng mức, bèn tỏ sự bất mãn và nói:
- Bạch sư phụ, con hẳn là đã sẵn sàng được truyền thụ đệ nhị pháp môn!
Ngau
khi đó, cánh cửa mở hoát: Người bước vào là một đệ tử sơ cơ rất khiêm
tốn, tên là Brinda Bhagat, làm thư tín viên sở bưu điện Bénarès.
Sư phụ nở một nụ cười thương mến và nói:
- Brinda, con hãy ngồi an tọa, và nói cho ta biết con đã sẵn sàng muốn được truyền thụ đệ nhị pháp môn hay chưa?
Người đệ tử kinh hoảng, chắp tay vái lia lịa và nói:
-
Bạch sư phụ, xin sư phụ đừng cho con thụ pháp nữa. Con đã xứng đáng
được thụ pháp ở cấp cao hơn chăng? Hôm nay con đến đây xin sư phụ ban
ân huệ vì đệ nhất pháp môn Kriyâ cũng đã làm cho con quá say sưa ngây
ngất đến nỗi con không thể phát thơ tín bưu điện được nữa!
- Brinda đã nhẹ bước phiêu diêu trên cỡi giới Tinh thần rồi đó!
Nghe sư phụ nói đến đó, người đệ tử kia lẳng lặng cúi đầu không nói gì. Kế đó y nói:
- Bạch sư phụ, con thấy rằng con chỉ là một người thợ dốt mà lại đi chê đồ khí cụ của mình là dở.
Người
thư tín viên, hoàn toàn thất học, đã phát triển những khả năng siêu
linh của mình bằng pháp môn Kriyâ đến nỗi những nhà bác học phải nhờ
đến y để diễn đạt những đoạn khó khăn trong Kinh thánh. Xuất thân là
một người dốt, Brinda lại nổi tiếng là thông minh xuất chúng trong giời
các nhà học giả uyên bác.
Ngoài ra những đệ tử rất đông ở vùng
Bénarès, còn có một số đệ tử khác đến vài trăm người từ bốn phương ở Ấn
Độ tìm đến học Đạo dưới chân sư phụ.
Trong số những tu sĩ được
nhập môn thụ pháp Kriyâ Yoga, có vài vị về say này trở nên những bậc
thánh nhân đắc đạo. Trong một thời gian, Lahira Mahâsaya đã làm đạo sư
cho hoàng tử Đông cung của vị Quốc vương ở Bénarès.
Biết rõ sự cao
cả tâm linh của tôn sư, Quốc vương và hoàng tử đều xin thụ pháp Kriyâ
Yoga, cùng với vị quốc vương Jotindra Mohan Thakur.
Một số đệ tử
có địa vị khả quan và thế lực ở ngoài đời muốn truyền bá đạo pháp Kriyâ
Yoga bằng phương tiện quảng cáo. Tôn sư bèn triệt để ngăn cấm việc ấy.
Một đệ tử khác có thế lực muốn cho tôn sư được suy tôn trong quảng đại
quần chúng như là vị thánh sống của Bénarès, nhưng tôn sư cũng từ chối
không chịu. Người nói:
- Đạo pháp Kriyâ ví như một cái hoa, mùi
thơ của nó phải được truyền đi một cách tự nhiên, không giả tạo. Những
hột giống của nó sẽ nẩy mầm trong mảnh đất phì nhiêu của những tâm hồn
đã có sự thức tỉnh tâm linh.
Tôn sư không muốn dùng những phương
tiện quảng cáo hiện đại như báo chí hay hội hè, vì người biết rằng
thông điệp mạnh mẽ của đạo pháp Kriyâ Yoga sẽ tự nó truyền đi trong thế
gian như một làn sóng vô hình để tinh luyện những linh hồn mộ đạo.
Những đệ tử gương mẫu phải tự họ chứng minh cho nguồn sinh khí bất tử
của pháp môn Kriyâ Yoga.
Lahiri Mahâsaya về hưu năm 1886, từ hai
mươi lăm năm sau khi nhập môn tại Ranikhet và sau ba mươi lăm năm làm
việc như một công chức. Từ ngày quy điền, người có nhiều thời giờ rảnh
rang, nên càng ngày càng có nhiều đệ tử hơn. Ngồi tĩnh tọa trên thế
liên hoa, tôn sư giữ im lặng hầu như suốt ngày. Người ít khi rời khỏi
tịnh thất, dầu cho để dạo một vòng trong vườn nhà. Những đệ tử luôn
luôn đến viếng tịnh xá để chiêm ngưỡng tôn sư.
Những quan khách
đến viếng tịnh thất đều kinh ngạc mà thấy Tôn sư biểu lộ những dấu hiệu
đáng lo ngại: người không thở, không ngủ, các mạch máu và quả tim đều
ngừng đập. Đôi mắt người đứng tròng trong nhiều giờ, toàn thân bất động
của người đều bao trùm một niềm an tịnh thiêng liêng. Không một người
đệ tử nào đến chiêm ngưỡng tôn sư mà không cảm thấy tâm hồn họ được yên
tĩnh, thanh cao khi họ ra về: mỗi người đều nhìn nhận rằng bằng cách đó
họ thọ lãnh luồng ân huệ bí mật của tôn sư, một vị sứ giả của Trời.
Lahiri
Mahâsaya có thể được người đời suy tôn dưới cái danh hiệu Yogâvatar, có
nghĩa là hiện thân của Yoga. Có lòng từ ái đối với tất cả, Tôn sư đã
nâng cao trình độ tâm linh của xã hội loài người. Quyền năng của tôn sư
biến đổi vài vị đệ tử cao cấp trở thành các bậc thánh, và sự truyền bá
đạo pháp Yoga trong quảng đại quần chúng, đã đặt Lahiri Mahâsaya vào
hàng các bậc cứu độ thế gian.
Với tư cách một vị giáo chủ, tôn sư
đã mở rộng cửa đạo giải thoát cho tất cả mọi người bằng một phường pháp
nhất định, đó là pháp môn Kriyâ Yoga.
Trong cuộc đời của tôn sư,
người đã làm nhiều điều mầu nhiệm, nhưng điều lớn nhất là đã giản dị
hóa đạo pháp Yoga, để cho mọi người thành tâm thiện chí học Đạo có thể
lãnh hội được một cách dễ dàng.
Lahiri Mahâsaya thường nói về các điều mầu nhiệm như sau:
-
Sự tác động của những định luật huyền bí, thường không được người đời
biết rõ, không nên đem ra làm một đầu thảo luận ở chốn công cộng hoặc
ấn hành một cách bừa bãi.
Nếu trong những trang sách này, tôi có
vẻ vi phạm những lời trên đây, thì đó là bởi vì một sự chắc chắn từ bên
trong do sư phụ truyền sang cho tôi, đã cho phép tôi bàn đến những
chuyện ấy. Tuy nhiên, khi tôi kể lại cuộc đời của Babâji, Lahiri
Mahâsaya và Sri Yukteswar, tôi thấy cần phải bỏ qua không nói đến một
vài chuyện nhiệm mầu mà muốn giải thích rõ, có lẽ phải cần đến nhiều
pho sách dày.
Bằng pháp môn Kriyâ Yoga, những người nào không thể
cố gắng nhìn thấy hình ảnh của Thượng đế nơi kẻ khác, ít nhất sẽ khám
phá ra ngài trong tận chốn thâm sâu bí ẩn nhất của lòng mình.
- Bạch sư phụ, sư phụ có bao giờ gặp đức Bâbâji chưa?
Một
buổi chiều mùa hè yên tĩnh, tôi ngồi gần bên Sri Yukteswar trên bao lơn
đạo viện, dưới ánh sao vằng vặc của vùng nhiệt đới chói rạng trên đỉnh
đầu chúng tôi.
- Có.
Sư phụ mỉm cười trả lời câu hỏi của tôi với một niềm tôn kính khôn tả hiện ra trong cặp mắt:
- Thầy đã có hân hạnh được chiêm ngưỡng tôn sư ba lần. Lần thứ nhất là trong dịp thánh lễ Kumbha Mela ở Alahabad.
Thánh
lễ Kumbha Mela là cuộc lễ tôn giáo long trọng được cử hành tại Ấn Độ từ
nghìn xưa, và vẫn còn giữ được tính cách thu hút đối với quần chúng cho
đến ngay nay. Hằng triệu tín đồ Ấn giáo đều quy tựu đông đảo trong dịp
đó để chiêm ngưỡng hàng nghìn những tu sĩ, đạo sĩ, khuất sĩ ta bà, và
các nhà tu khổ hạnh từ bốn phương đến đây, trong số đó có vài người chỉ
rời khỏi am thất hay hang động vào dịp Thánh Lễ này để ban ân huệ cho
các tín đồ và bá tánh thập phương. Sri Yukteswar nói tiếp:
- Vào
lúc Thầy gặp đại đức Babâji, Thầy chưa phải là tu sĩ xuất gia, nhưng
Thầy đã nhập môn với đức Lahiri Mahâsaya để được thụ pháp Kriyâ Yoga.
Sư phụ khuyên Thầy nên đến dự Thánh Lễ Kumbha Mela ở Allahabad vào
tháng giêng năm 1894, và đó là lần đầu tiên mà Thầy dự cuộc lễ. Thầy
chỉ nghe tiếng động ồn ào của đám quần chúng, nhưng Thầy không gặp một
bậc danh sư nào đáng kể. Thầy đi ngang qua cầu Bắc trên sông Hằng, và
nhìn thấy một gương mặt quen đang ngồi bên cầu với chiếc bình bát khuất
thực. Thầy thầm nghĩ trong cơn thất vọng "Cuộc Thánh Lễ này chỉ là một
nơi ồn ào tiếng động và một ổ ăn mày" Thầy tự hỏi những nhà bác học Tây
phương kiên nhẫn tìm tòi khảo cứu và nới rộng tầm kiến thức vì sự ích
lợi vật chất của nhân loại, há lại chẳng được đẹp lòng Thượng Đế hơn là
những kẻ biếng nhác ăn hại này, bề ngoài làm ra vẻ đạo đức, nhưng chỉ
sống nhờ của bố thí?
Khi đó một vị tu sĩ xuất gia tác người cao lớn bước đến gần và nói với Thầy:
- Có một vị tu sĩ muốn mời ông.
- Ai vậy?
- Ông hãy đến gặp, rồi ông sẽ biết.
Thầy
còn do dự, rồi cất bước đi đến một gốc cây lớn đang che bóng mát cho
một vị tôn sư và các đệ tử ngồi vây chung. Vị tôn sư ấy, có một vẻ tiên
phong đạo cốt khác thường, bèn đứng dậy khi Thầy vừa đến gần, rồi đưa
tôi ôm lấy Thầy và nói một cách trìu mến:
- Chào đại đức Swami!
Thầy đáp:
- Bạch ngài, tôi chưa phải là tu sĩ xuất gia.
- Người nào mà do bởi nguồn cảm hứng thiêng liêng, khiến ta đã phán cho cái danh hiệu ấy, sẽ không thể từ chối được nữa!
Vị
tôn sư thốt ra những lời ấy một cách rất giản dị, nhưng một giọng quả
quyết cứng rắn rung động trong những lời nói của ngài, đột nhiên tôi
cảm thấy tràn ngập một niềm say sưa mùi Đạo làm cho tôi ngây ngất. Mỉm
cười vì đột nhiên tôi lại được đưa lên hàng tu sĩ xuất gia của dòng tu
Swami, tôi nghiên mình cúi đầu làm lễ trước vị tôn sư đã ban cho tôi
cái danh dự ấy.
Đức Babâji (vì đó chính là ngài mà lúc ấy Thầy còn
chưa biết) chỉ chỗ Thầy ngồi một bên. Tác cao lớn, gương mặt trẻ trung,
ngài giống Đức Lahiri Mahâsaya một cách lạ thường, như Thầy đã từng
nghe nói nhưng bây giờ mới nhìn thấy tận mặt. Hiển nhiên là Tôn sư muốn
rằng Thầy được hoàn toàn tự nhiên trước mặt ngài. Ngài hỏi:
- Con nghĩ sao về Thánh Lễ Kumbha Mela?
-
Bạch Tôn sư, con hoàn toàn thất vọng cho đến khi con được gặp tôn sư.
Sự Thánh linh và tất cả những sự ngu xuẩn động ồn ào đó thật không đi
đôi với nhau chút nào!
Tôn sư nói:
- Con hỡi, con không nên
xét đoán sự vô minh lầm lạc của người khác. Trên thế gian tất cả đều
lẫn lộn cả tốt lẫn xấu, cũng như cát trộn với đường. Con hãy làm như
bậc hiền giả chỉ lọc lấy chất đường mà loại bỏ chất cát. Tuy rằng một
số tu sĩ hãy còn đắm chìm trong ảo vọng, vô minh, nhưng cuộc lễ cũng
được thánh hóa bởi sự hiện diện của những người đã đạt tới sự giác ngộ
thiêng liêng.
Thầy liền nhìn nhận Tôn sư nói đúng, vì chính Thầy đã được gặp ngài tại cuộc Thánh lễ này.
-
Bạch Tôn sư, con đang nghĩ đến những nhà bác học Tây phương là những
người có trí óc thông minh hơn nhiều đối với phần đông những tu sĩ dự
cuộc Thánh Lễ. Họ sống bên các nước Âu Mỹ, có những tín ngưỡng khác và
không biết có gì là cao cả trong những cuộc Thánh lễ vĩ đại như cuộc lễ
này. Gặp được các vị chân sư Ấn Độ sẽ là một điều lợi ích rất lớn đối
với họ. Tuy rằng họ có một khối óc rất thông minh, nhưng phần đông
người Tây phương đều thiên về chủ nghĩa duy vật. Những người khác tuy
lỗi lạc về các ngành khoa học hay triết học, lại không nhìn nhận tính
cách đồng nhất căn bản của tất cả mọi tôn giáo, Sự mù quáng của họ là
một bức rào chướng ngại nó hăm dọa một sự chia rẽ đời đời kiếp kiếp
giữa Đông phương và Tây phương.
Tôn sư nói với một giọng chấp thuận:
-
Ta thấy rằng con chú trọng đến Tây phương cũng như Đông phương. Ta cảm
thấy lòng con bao quát cả hai chủng tộc lớn trên thế giới, vì vậy nên
ta đã cho mời con đến đây.
Tôn sư nói tiếp:
Đông phương và Tây
phương sẽ phải đi đến sự hợp nhất về mọi ngành sinh hoạt vật chất và
tâm linh. Xứ Ấn Độ có nhiều điều cần phải học của phương Tây về phương
diện tiến bộ kỹ thuật và văn minh vật chất. Trái lại, Ấn Độ sẽ dạy cho
các nước phương Tây về các pháp môn Yoga là những phương pháp tiến bộ
tâm linh bao quát đại đồng cho toàn thể nhân loại, và nguồn gốc của mọi
tôn giáo.
- Hỡi đại đức Swamiji, con sẽ phải đóng vai trò của con
trong việc thiết lập những mối liên lạc điều hòa giữa Đông phương và
Tây phương. Trong vài năm nữa, ta sẽ gởi đến cho con một người đệ tử để
con huấn luyện nhằm mục đích truyền bá pháp môn Yoga sang Tây phương.
Những linh hồn khát khao chân lý đang đòi hỏi một sự giác ngộ tâm linh.
Ta nhận thấy có nhiều vị thánh tương lai ở Âu Mỹ đang đợi chờ sự giác
ngộ đó.
Kể đến đoạn này của câu chuyện, Sri Yukteswar nhìn tôi với một cách nhìn thâm sâu, và nói với một nụ cười dưới ánh trăng:
- Con hỡi, chính con là người đệ tử mà đức Babâji đã hứa gửi đến cho thầy từ nhiều năm về trước.
Tôi
lấy làm sung sướng mà được biết rằng đức Babâji đã dìu dắt những bước
chân của tôi đến gặp Sri Yukteswar. Tuy vậy, tôi cũng cảm thấy buồn mà
phải đi sang Tây phương, từ biệt sư phụ mến yêu và chốn đạo viện êm
dềm.
Sri Yukteswar nói tiếp:
- Kế đó, tôn sư nhắn với thầy một
thông điệp để chuyển giao cho Lahiri Mahâsaya. Thầy kính cẩn cúi đầu từ
giã tôn sư. Ngài hứa sẽ gặp lại ầy sau nầy. Sáng ngày hôm sau, thầy rời
Allahabad đáp xe lửa đi Bénarès. Đến nơi tịnh thất của Lahiri Mahâsaya,
Thầy mới kể lại cho sư phụ nghe câu chuyển gặp gỡ một vị Tôn sư trong
cuộc Thánh lễ Kumbaha Mela. Sư phụ cười nói: "Chắc là con không nhìn ra
ngài! Đó là sư phụ của ta, đức Babâyji thiêng liêng!"
Thầy bất giác kêu lên với một lòng sùng kính vô biên:
-
Đức Babâji! Đấng đại giáo chủ Babaji! Vị cứu thế vừa hữu tình vừa vô
hình! Tiếc thay, nếu con có thể được gặp ngài lần nữa để quỳ lạy dưới
chân thiêng liêng của ngài!
Sư phụ nói để an ủi Thầy:
- Không sao, ngài đã hứa sẽ gặp lại con sau này.
-
Bạch sư phụ, tôn sư có dặn con nhắn lại với sư phụ những lời này: "Hãy
nói với Lahiri rằng nguồn sinh khí dự trữ trong kiếp này đã cạn khô và
trống rỗng!"
Vừa nghe câu nói bí hiểm đó, Lahiri Mahâsaya run lên
như bị điện giật, và kế đó liền đắm chìm trong một cơn im lặng thâm
trầm. Người ngồi yên như pho tượng gỗ, nét mặt sa sầm, và dường như mất
hết sinh khí. Tôi lấy làm ngạc nhiên và lo ngại. Tôi không hề thấy
người nào bình nhật vui vẻ như Tôn sư mà lại có sự thay đổi tâm trạng
đột ngột như vậy. Những vị đệ tử có mặt đều nhìn Tôn sư với một vẻ lo
ngại.
Ba giờ đồng hồ trôi qua trong một cơn im lặng hoàn toàn. Kế
đó tôn sư trở lại trạng thái vui vẻ bình thường và nói chuyện một cách
thân tình với mỗi vị đệ tử, làm cho họ thốt ra những tiếng thở dài nhẹ
nhõm.
Nhìn thấy những phản ứng đó của Sư phụ, Thầy hiểu rằng thông
điệp của đức Babâji đã cho sư phụ biết rằng không bao lâu người sẽ phải
rời bỏ xác phàm. Cơn im rằng đáng sợ vừa rồi có nghĩa là sư phụ đã tự
đặt mình dưới sự kiểm soát của ý chí, và cắt đứt mọi sợi dây liên lạc
lên cõi Tinh Thần. Những lời nói của Babâji cũng có nghĩa là: "Ta sẽ
luôn luôn có mặt bên cạnh con".
Tuy rằng Babâji và Lahiri cả hai
vị đều đắc pháp thần thông và có thể giao cảm với nhau bằng tư tưởng mà
không cần đến người trung gian, hai vị đôi khi cũng xử sự theo lối
thương tình. Có những trường hợp mà hai vị Tôn sư chuyển đạt những lời
tiên tri bằng lối thông thường, qua một người truyền tin để cho sự thực
hiện lời tiên tri đó được lan truyền và giúp thêm một đức tin mới cho
những người được nghe câu chuyện ấy về sau này.
- Đó là một trong những lần viếng thăm cuối cùng của thầy tại nhà sư phụ. Sri Yukteswar kết luận.
Như
Babâji đã tiên đoán, cuộc đời Lahiri Mahâsaya trong vai trò gia trưởng
ở kiếp này đã gần chấm dứt. Mùa đông năm 1895, sư phụ bị một cái ung
nhọt ở phía sau lưng. Người từ chối không chịu giải phẩu, và như vậy
người đảm nhận việc trả quả báo xấu của các đệ tử trên xác thân mình.
Ít lâu sau đó, sư phụ trút linh hồn tại Bénarès. Suốt cuộc đời Thầy đều
được nguồn cảm hứng tâm linh của đức sư phụ toàn năng...
Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486653
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   31/12/2009, 17:35

Cuộc hành trình sang Mỹ Quốc






Đây
là Mỹ Quốc! Những người này chắc hẳn là người Mỹ! Đó là ý nghĩa đầu
tiên đến với tôi trong một cơn linh ảnh diễn ra mau lẹ trước nhãn quang
siêu linh của tôi. Đắm chìm trong cơn thiền định, tôi ngồi trong một
gian phòng trống tại trường học của tôi Ranchi. Cơn linh ảnh vẫn tiếp
tục, trong tầm nhãn quang, tôi thấy một đám đông người da trắng mặc Âu
phục đang chăm chú nhìn tôi. (Sau khi đến Mỹ quốc, tôi đã nhận diện
được vài người trong số những gương mặt đã xuất hiện trong cơn linh ảnh
đó).
Cánh cửa phòng tự nhiên mở, một thiếu sinh đã tìm ra nơi trú ẩn của tôi! Tôi gọi em ấy và nói:
- Bimal, em lại đây, tôi cho em hay một tin lạ. Thượng Đế đã gọi tôi sang Mỹ Quốc!
- Mỹ Quốc?
Em thiếu sinh lập lại hai chữ ấy với một vẻ kinh ngạc chẳng khác nào như nghe tôi sắp sửa đi lên mặt trăng!
-
Phải! Tôi sẽ khám phá Châu Mỹ, theo gương Kha Luân Bố khi ông ta vượt
biển định tìm ra xứ Ấn Độ. Hẳn là phải có một sợi dây nhân duyên liên
hệ giữa hai xứ sở ấy!
Bimal liền chạy đi và trong giay lát cả
trường đều biết rõ tin ấy. Không kéo dài thời giờ, tôi bèn tập hợp các
vị giáo viên còn đang ngơ ngác vì cái tin bất ngờ đó, và phú thác
trường học họ trông nom. Tôi nói:
- Tôi biết rằng các vị sẽ giữ
vững lý tưởng giáo dục của đức Lahari Mahâsaya tại trường này. Tôi sẽ
thơ từ liên lạc thường xuyên tới quý vị. Nếu Thượng Đế muốn, có ngày
tôi sẽ trở lại.
Tôi rưng rưng giọt lệ khi tôi nhìn các em học sinh
thân yêu và các lớp học nhà trường dưới ánh nắng mặt trời trong sáng
của tỉnh Ranchi. Cả một giai đoạn trong cuộc đời vừa chấm dứt. Kể từ
nay, tôi phải sống ở ngoại quốc, cách biệt xa xứ nhà. Vài giờ sau cơn
linh ảnh vừa rồi, tôi đã ngồi trên chiếc xe lửa đi Calcutta. Qua ngày
hôm sau, tôi nhận được thư mời làm đại biểu xứ Ấn Độ để tham dự Đại hội
Tôn Giáo Hoàn Cầu bên Mỹ quốc tổ chức tại Boston vào năm 1920, dưới sự
bảo trợ của Hội Tôn Giáo Thống Nhất Hoa Kỳ.
Trong lòng còn đang phân vân, tôi bèn đến đạo viện Serampore để hỏi ý kiến Sư phụ:
- Bạch Sư phụ, con vừa được chỉ định làm đại biểu dự một cuộc họp Đại Hội Tôn Giáo Bên Mỹ. Vậy con có nên nhận lời chăng?
- Đó là dịp may hiếm có, một cơ hội ngàn năm một thuở.
-
Nhưng thưa Sư phụ, con không biết nói chuyện trước công chúng! Con
không quen thuyết pháp trên diễn đàn, nhất là bằng Anh Ngữ!
- Anh ngữ hay không, những buổi giảng của con về đạo pháp Yoga sẽ được hoan nghinh bên Phương Tây.
Tôi bật cười:
-
Bạch sư phụ, con không tin rằng người Mỹ sẽ học tiếng Bengali. Xin Sư
phụ hãy giúp sức cho con để vượt qua những chướng ngại về văn phạm Anh
ngữ.
Khi tôi đem chuyện này nói với cha tôi, người lấy làm hoàn
toàn kinh ngạc. Mỹ quốc đối với người dường như quá xa xôi, và cha tôi
sợ rằng người sẽ không bao giờ gặp tôi trở lại nữa. Cha tôi hỏi:
- Con đi bằng cách nào? và ai sẽ đài thọ công cuộc này?
Cha tôi hy vọng rằng vấn đề đó sẽ làm cho tôi bị trở ngại để tôi đừng đi. Tôi đáp:
- Thượng Đế sẽ lo cho con!
Việc
này làm tôi nhớ lại một câu trả lời tương tự của tôi cho Ananta, anh cả
tôi, tại Agra cách đây nhiều năm về trước. Tôi nói thêm:
- Thưa cha, có lẽ Thượng Đế sẽ xui khiến cho cha giúp con?
Tôi
chỉ nói cầu may mà thôi, không ngờ ngày hôm sau, cha tôi làm tôi ngạc
nhiênkhi người đưa cho tôi một ngân phiếu với số bạc khá lớn, và nói:
-
Cha cho tôi số tiền này không phải do bổn phận của người cha, mà của
một đệ tử trung thành của đức Lahiri Mahâsaya. Con hãy sang Tây Phương
để truyền bá giáo lý thâm sâu của đạo pháp Kriyâ Yoga.
Sự hi sinh
mà cha tôi đã chứng tỏ bằng cách đè nén những xúc cảm của lòng mình,
làm cho tôi vô cùng cảm động. Trong đêm vừa qua, người đã hiểu rằng
cuộc hành trình của tôi không phải việc mục đích di du lịch ngoạn cảnh
mà thôi.
- Có thể cha con ta sẽ không còn gặp nhau lại trong kiếp này.
Cha tôi lúc ấy đã sáu mươi bảy tuổi, nói với một giọng băn khoăn. Tôi đáp theo linh cảm của tôi:
- Nhờ trời, con sẽ gặp cha trở lại.


Trong
khi chuẩn bị từ giã Sư phụ và xứ sở mến yêu của tôi, tôi không khỏi bị
xâm chiếm bởi một sự lo ngại. Tôi thường nghe nói về chủ nghĩa duy vật
ở Phương Tây, nơi mà người ta sống dưới một bầu không khí khán hẳn với
bầu không khí đạo vị thâm trầm của xứ Ấn Độ. Tôi nghĩ rằng: "Thở bầu
không khí của Phương Tây, đòi hỏi nhiều can đảm hơn là chịu đựng những
cơn rét lạnh kinh khủng trên dãy Tuyết Sơn!"
Một buổi sáng tôi
thức dậy sớm ngồi câu nguyện, với lòng cương quyết sẽ tiếp tục cho đến
khi tôi nhận được sự trả lời, dẫu cho tôi phải ngồi chết tại chỗ. Tôi
muốn được sự ân huệ và bảo đảm thiêng liêng rằng tôi sẽ không bị đi vào
chốn mê đồ của nền văn minh vật chất. Tôi đã quyết định đi sang Mỹ,
nhưng tôi cũng không muốn nhận được sự chấp nhận của Thiêng Liêng.
Tôi
cầu nguyện với hết cả tâm hồn, và đè nén con xúc động của lòng tôi. Sự
trả lời vẫn chưa đến. Sự khẩn cầu thầm lặng của tôi tăng gia ráo riết
đến nỗi vào lúc trưa, khối óc của tôi đã quá căng thẳng đến mức không
còn chịu nỗi sự cố gắng: tôi có cảm tưởng rằng óc tôi sẽ nổ tung nếu
tôi phát ra thêm một lời cầu nguyện nữa. Ngay khi đó tôi nghe có tiếng
gõ cửa. Tôi đứng dậy mở cửa và thấy một người gương mặt còn trẻ mặc áo
mào vàng sậm của giới tu sĩ xuất gia. Người ấy bước vào, từ chối không
chịu ngồi ghế, và ra hiệu ám chỉ rằng người muốn đứng nói chuyện mà
thôi. Tôi ngạc nhiên và nghĩ thầm rằng vị tu sĩ này có lẽ là đức
Babâji, vì người ấy giống đức Lahiri Mahâsaya như đúc, tuy gương mặt
coi trẻ hơn.
Người ấy liền đáp ngay tư tưởng của tôi:
- Phải, ta là Babâji.
Ngài
nói tiếng Hindi, thổ ngữ miền Bắc Ấn, với một giọng du dương trong
trẻo. - Thượng Đế đã nghe lời cầu nguyện của con. Ngài nói cho con biết
rằng: con hãy tuân tuân lệnh Sư phụ con và hãy đi sang Mỹ quốc. Con
đừng sợ gì cả vì con sẽ được che chở.
Sau khi ngừng một lúc, đức Babâji nói tiếp:
-
Con là người ta đã chọn lựa để truyền bá đạo pháp Kriyâ Yoga sang Tây
Phương. Nhiều năm về trước, ta đã gặp Sư phụ con tại Thánh Lễ Kumbha
Mela, và đã cho sư phụ con biết rằng ta sẽ gởi con đến cho người huấn
luyện.
Tôi câm lặng vì ngạc nhiên, và lấy làm cảm động vô cùng mà
dược nghe từ cửa miệng của Sư Tổ nói rằng chính ngài đã dìu dắt tôi đến
gặp Sư phụ tôi. Tôi bèn quỳ lạy dưới chân thiêng liêng của Sư Tổ và
ngài đỡ tôi đứng dậy với đầy hảo ý. Ngài tiết lộ cho tôi biết nhiều
điều về cuộc đời của tôi, đưa ra cho tôi vài chỉ thị và thốt ra vài
điều tiên tri bí mật.
Sau cùng, ngài nói một cách trịnh trọng:
-
Đạo pháp Kriyâ Yoga, một phương pháp khoa học để tiếp xúc với Thượng
Đế, sẽ được truyền bá khắp thế giới và giúp vào việc thiết lập điều hòa
giữa các quốc gia, khi con người biết cảm thông một cách trực tiếp với
Thượng Đế.
Với một cách nhìn im lặng, Sư Tổ bèn truyền cho tôi một
linh ảnh về tâm thức diêu đẳng của ngài. Trong chốc lát, ngài đã bước
đến cửa, và nói:
- Con đừng đi theo ta. Vả lại con cũng không thể theo được đâu.
Tôi khẩn cầu ngài liên tiếp:
- Bạch Sư Tổ, xin ngài đừng đi mất! Xin Sư Tổ hãy đem con theo với.
Babâji quay lại và nói:
- Bây giờ con không đi được. Hãy để lần khác.
Trong
cơn xúc cảm, tôi không nghe lời cảnh cáo đó. Tôi thử chạy theo ngài,
thì thấy rằng hai chân tôi dính chặt dưới đất. Đức Babâji còn quay lại
nhìn tôi với cái nhìn trìu mến, đưa tay ban ân huệ và lẳng lặng đi
thẳng.
Sau một lúc hai chân tôi đã cử động được. Tôi ngồi xuống và
đắm chìm trong cơm thiền định. Tôi tạ ơn Thượng Đế không những đã đáp
lời cầu nguyện của tôi, mà còn ban cho tôi cái diễm phúc được gặp đức
Babâji. Toàn thân tôi dường như được thánh hóa bởi cuộc tiếp xúc với
đức Sư Tổ luôn luôn trẻ mãi không già. Từ lâu tôi hằng mong ước được
chiêm ngưỡng dung nhan của ngài, thì nay lòng tôi đã thỏa nguyện.
Cho
đến nay, tôi không hề thố lộ với ai về cuộc gặp gỡ này, đó là một cơ
hội nhiệm mầu nhất trong đời tôi, mà tôi mãi mãi chôn chặt dưới tận đáy
lòng. Nhưng tôi nghĩ rằng độc giả sẽ tin tưởng một cách dễ dàng hơn về
sự hiện diện của đức Babâji và những trách nhiệm cao cả của ngài đối
với vận mạng của thế giới, nếu tôi quả quyết đã nhìn thấy ngài tận mắt,
tôi đã giúp ý kiến cho một họa sĩ vẽ lại bức chân dung của ngài, một vị
sư tổ về đạo pháp Yoga của xứ Ấn Độ hiện kim.
Trước ngày tôi lên đường sang Mỹ quốc, tôi đến viếng Sư phụ tôi. Người dặn dò tôi mấy lời sau đây:
-
Con nên có một thái độ cởi mở, đừng quá thiên lệch về phía Ấn Độ, nhưng
cũng đường trở nên quá "Mỹ" vì lẽ đó. Con hãy dung hòa những đức tính
tốt của hai chủng tộc. Con hãy luôn luôn giữ cái vị thế của mình là một
đứa con của Thượng Đế, một sứ giả của thiêng liêng.
Kế đó Sư phụ ban ân huệ cho tôi, và nói:
-
Tất cả những người mộ đạo tìm đến con với một đức tin, sẽ được giúp đỡ.
Dưới cái nhìn của con, luồng điển lực tâm linh toát ra từ đôi mắt con
sẽ thấm nhuần vào trí óc của họ, làm cho họ thay đổi cuộc đời, và thức
tỉnh nơi họ cái tâm thức của Thượng Đế.
Sư phụ nói tiếp:
- Con
sẽ gây một ảnh hưởng rất lớn đối với những linh hồn thành thật tìm Chân
lý. Bất cứ nơi nào con đi đến, dẫu cho ở những nơi hẻo lánh, con cũng
sẽ thu hút nhiều bạn tốt.
Hai điều tiên tri đó đã được thực hiện.
Tôi đến Mỹ quốc có một mình, không bàn bè thân thuộc, nhưng tôi đã tìm
thấy hàng nghìn linh hồn sẵn sàng thụ giáo đạo pháp Yoga cổ truyền tự
muôn đời.
Tôi tự giã Ấn Độ vào tháng tám, năm 1920, do chuyến tàu
"City sẵn sàng Sparta", tức chuyến tàu đầu tiên vượt biển sang Mỹ quốc
từ khi trận Đệ Nhất Thứ Chiến chấm dứt. Tôi đã trải qua rất nhiều khó
khăn mới mua được vé tàu với tấm thẻ thông hành của tôi.
Trong
thời gian hành trình trên mặt biển, một hành khách dưới tàu phát hiện
rằng tôi là viên đại biểu Ấn Độ tại Đại Hội Tôn Giáo ở Boston.
Y bèn gợi chuyện:
-
Bạch đại đức, xin đại đức vui lòng thuyết pháp cho các vị hành khách
dưới tàu nghe vào tối ngày thứ năm tới đây, về một đề tài nào đó, như
"Cuộc Đấu Tranh Tìm Sống" chẳng hạn.
Than ôi! đó thật là một cuộc
đấu tranh để vớt vát thanh danh và sự sống của tôi trong buổi thuyết
pháp tối thứ năm, như tôi đã nhận thấy ngay sau khi đó! Sau những cố
gắng vất vả để soạn bài thuyết pháp của tôi bằng tiếng Anh, nhưng vô
hiệu quả, sau cùng tôi phải bỏ cuộc vì những tư tưởng của tôi không
chịu uốn nắn dễ dàng theo những mẹo luật rất rối kinh khủng của văn
phạm Anh ngữ! Tin tưởng nơi những lời nói của Sư phụ, tôi xuất hiện
buổi tối ngày thứ năm trong phòng khách của chiếc tàu. Nhưng tôi không
thể thốt ra một lời nào, mà vẫn im lặng đứng yên một chỗ trong khoảng
trên hai mươi phút đồng hồ, sau cùng cả cử tọa đều nhận thấy rằng tình
trạng lúng túng của tôi, bèn bất giác cười ầm lên.
Riêng tôi, tôi không cảm thấy muốn cười chút nào, tôi bèn âm thầm cầu nguyện xin Sư phụ tôi hãy giúp đỡ tôi.
- Con phải nói!
Giọng
nói của Sư phụ vang rền trong chỗ bí ẩn của tiềm thức tôi, sau khi tôi
cầu nguyện đến người. Kế đó những tư tưởng của tôi liền hòa điệu ngay
tức khắc với những mẹo luật khó khăn của Anh ngữ. Tôi nói thao thao bất
tuyệt trong bốn mươi lăm phút đồng hồ, làm cho cử tọa chăm chú nghe
muốn đứng hơi thở. Nhờ bài thuyết pháp này mà về sau tôi nhận được
nhiều lời mời của nhiều hiệp hội tôn giáo Hoa Kỳ để đi thuyết pháp tại
các giảng đường của họ.


Tuy vậy, tôi không còn nhớ một chữ
nào về những gì tôi vừa mới nói. Một cuộc thăm dò kín đáo trong giới
hành khách trên tàu cho biết rằng tôi đã giảng "một thời pháp đầy cảm
hứng bằng một thứ tiếng Anh rất trôi chảy". Được nghe tin tốt lành đó,
tôi thầm tạ ơn Sư phụ tôi về sự giúp đỡ của người, lại một lần nữa tôi
lại biết chắc chắn rằng những chướng ngại về thời gian và không gian
không bao giờ có đối với Sư phụ tôi, và người luôn luôn ở một bên tôi.
Trong
khi hành trình, thỉnh thoảng tôi lại cảm thấy băn khoăn sợ sệt với ý
nghĩ rằng tôi phải thuyết trình trước một cử tọa gồm những thính giả
Anh và Mỹ tại Đại Hội Tôn Giáo ở Boston. Tôi cầu nguyện Thượng Đế hãy
giúp nguồn cảm hứng cho tôi, nhưng không phải ở giữa những tiếng cười
của toàn thể cử tọa!
Chuyến tàu "City sẵn sàng Sparta" đến Boston
vào cuối thánh chín. Ngày Sáu tháng Mười, tôi thuyết pháp lần đầu tiên
trên đất Mỹ, tại Đại Hội Tôn Giáo. Buổi thuyết trình được hoan nghinh
và tôi thở dài một tiếng nhẹ nhỏm. Viên bí thơ của Hiệp Hội Tôn Giáo
Thống Nhất Hoa Kỳ có viết bài tường thuật về buổi thuyết pháp của tôi.
Nhờ cái ngân phiếu dồi dào của cha tôi, tôi có thể ở lại Mỹ sau ngày bế
mạc Đại Hội. Tôi đã ở lại bốn năm ở Boston, trong thời gian đó tôi đi
thuyết pháp, mở lớp giảng pháp môn Yoga, và xuất bản một tập thi thơ về
đạo lý nhan đề "Tiếng Hát của Linh Hồn".
Mùa hè năm 1924, tôi thực
hiện một chuyến đi vòng quanh Mỹ quốc, và thuyết pháp ở mỗi thành phố
lớn trước hàng nghìn khán giả. Năm 1925, nhờ sự trợ cấp tài chính của
những học viên hảo tâm, tôi thiết lập văn phòng của tôi trên một sườn
đồi ở Los Angeles. Dinh thự này là ngôi kiến trúc đã xuất hiện trong
một linh ảnh của tôi từ nhiều năm trước ở Kashmir. Tôi đã gởi ngay cho
Sư phụ tôi một tập hình ảnh và người đã trả lời cho tôi trên một tấm
bưu thiếp viết bằng tiếng Bengali, mà tôi xin dịch ra dưới đây:
Serampore, ngày Mười một tháng Tám năm 1926.
Yogânanda, con yêu quý của Thầy,
Thầy
nhìn xem các bức ảnh đạo viện và các môn đệ Yoga của con, mà lòng Thầy
tràn ngập một niềm vui khôn tả. Thầy lấy làm sung sướng mà nhìn thấy
trong đó những môn sinh Yoga của nhiều thành phố khác nhau bên Mỹ quốc.

Thầy nhìn tấm ảnh đạo viện với cái cổng ngoài, con đường đi lên
sườn đồi và cái viễn cảnh cùng cảnh vật chung quanh nhìn từ trên đồi mà
lòng Thầy chỉ mơ ước một điều: là có ngài Thầy sẽ ngắm nhìn những cảnh
ấy tận mắt.
Bên này, mọi sự đều tốt lành. Cầu xin ơn phước thiêng liêng được ban xuống cho con mãi mãi.
Sri Yukteswar Giri.
Thời
gian trôi qua đã ghi dấu những hoạt động của tôi ở rãi rác khắp mọi nơi
bên Mỹ quốc. Tôi đi thuyết pháp tại hàng trăm các câu lạc bộ, trường
học, giảng đường các nhà thờ và những tổ chức tinh thần khác nhau. Hàng
muôn hàng nghìn người Mỹ đã được nhập môn để thụ giáo về đạo pháp Yoga,
và đã có dịp thấm nhuần nền minh triết thâm sâu cổ truyền của xứ Ấn Độ
muôn đời bất diệt.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga   

Về Đầu Trang Go down
 
Xứ Phật huyền bí - Phương pháp Môn Kriyâ Yoga
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Phim hay tháng 6: Huyền thoại sân cỏ GGO
» Thác Trắng - Minh Long - Quảng Ngãi
» Phim mới của Chung Tử Đơn cực hay_Legend Of The Fist: The Return Of Chen Zhen 2010-Huyền Thoại Trần Chân
» Dãy số bí ẩn chống say sóng, say tàu xe
» [Forum Fic] Immortal - Chương 2.2

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu!-
Chuyển đến 

free countersFree forum | Khoa học | tôn giáo | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog