WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG VÔ CẤU QUANG ĐÀN PHÁP

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003501
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG VÔ CẤU QUANG ĐÀN PHÁP   17/1/2010, 09:48










Kính thưa quý Hành
giả Chân ngôn,






Bộ
Tôn Thắng Đà la ni đã được chúng tôi ấn
tống đầy đủ trong Quyển Mật Tạng
Phật Giáo Việt Nam Tập 1 năm 1999.



Tuy
nhiên, khi đọc Bài Nghi quỹ Hành trì Tôn Thắng Đà
La Ni do Cố Hoà Thượng Thích Thiền Tâm soạn thuật
và được truyền lại bởi Cố Thuợng
Toạ Thích Chơn Kiến - vị Tôn Túc khả kính và là
Sư phụ của Thấy Thích nguyên Tạng ở

Australia, là người phụ trách Trang nhà lớn của
Phật giáo: www.quangduc.com
hiện nay.



Theo
lời của Thầy Nguyên Tạng cho biết, Cố

Thượng Toạ đã lấy Nghi quỹ nầy
nầy làm công phu mỗi ngày, mong đem dòng Mật nhũ
làm “phương tiện thiện xảo” để độ

sanh và đóng góp vào sự nghiệp tâm linh của chính mình
nói riêng và của Phật giáo- nói chung.



Cảm
niệm và quí trọng tấm lòng đối với Ân
sư của Thầy Thích Nguyên Tạng- vị tăng tài
trẻ và năng nổ, có hạnh nguyện lớn đem

đạo vào đời để lợi ích cho mọi
người
mà chúng tôi được may mắn quen
biết. Chúng tôi xin được đem Nghi quỹ
nầy vào Trang nhà để phổ biến.



Con
xin đê đầu đảnh lễ Giác Linh Cố
Thượng Toạ Thích Chơn Kiến và kính xin Thầy
Thích Nguyên Tạng hoan hỷ cho phép con được làm việc
nầy.



Nếu
những ai hữu duyên và muốn hành trì Chân ngôn Tôn Thắng
Đà La Ni theo Nghi quỹ đã soạn sẳn, có thể
theo đây để miên mật thọ trì.






Cẩn chí,





Cư sĩ Liên Hoa








PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG
VÔ CẤU QUANG
ĐÀN PHÁP

Soạn thuật : HT. THÍCH
THIỀN TÂM.


(bài Thần Chú này
được TT Chơn Kiến thọ trì mỗi ngày)





(Niệm hương xong, đứng
kiết-ấn Phổ-lễ Chân-ngôn tụng chú và lễ
bái như sau):



1.
Tam-bộ phổ-lễ chân-ngôn :

Om ! Tát tha ga tô bát-mô
Vajirô vắt.
(7biến)



I .
Chí tâm đảnh lễ :

Trung-phương thế-giới Tỳ-Lô-Giá-Na Mâu-Ni
Thế-Tôn.


Đông-phương thế-giới A-Súc-Bệ
Thế-Tôn.

Nam-phương thế-giới Bảo-Sanh Thế-Tôn.


Tây-phương thế-giới A-Di-Đà Thế-Tôn.
Bắc-phương thế-giới Bất-Không-Thành-Tựu
Thế-Tôn.


Thập-phương tam-thế nhứt-thiết chư
Phật.

(1 lạy)



II.
Chí tâm đảnh lễ :
Nhứt-thiết Như-Lai Quán-Đảnh Thanh-Tịnh
Chư-Thú, Phật-Đảnh Tôn-Thắng Vô-Cấu-Quang
Đà-ra-ni.


Thập-phương tam-thế nhứt-thiết Tôn-Pháp.

(1lạy)


III.
Chí tâm đảnh lễ :

Mạn-Thù-Thất-Lỵ Bồ-Tát
Phổ-Hiền Bồ-Tát
Quán-Thế-Âm Bồ-Tát

Đại-Thế-Chí Bồ-Tát
Di-Lặc Bồ-Tát
Chấp-Kim-Cang Bồ-Tát

Hư-Không-Tạng Bồ-Tát
Thắng-Liên-Hoa-Tạng Bồ-Tát
Thập-phương tam-thế nhứt-thiết
Hiền-Thánh-Tăng.
(1 lạy)



(Ngồi
kiết-già chấp tay tụng chú và đọc bài
kệ-tán như sau) :


2.
Tịnh-Pháp-Giới Chân-ngôn :


Om !
Răn.
(108 lần)
(Tịnh pháp giới ấn)


3.
Hộ-Thân Chân-ngôn :


Om !
Sí-răn
(108 lần)
(Hộ thân ấn)


4. Như-Ý-Bảo-Châu-Vương
Chân-ngôn :


Om ! A Văn Răn Hăn Khăn
Ma-ni Pát-mê-hùm. (108 lần)
(Như ý bảo châu ấn)


Kệ-tán
:


Kính lễ Thích-Ca Đại-Điều-Ngự
Tiếp-dẫn Tây-phương Tam-Thánh-Tôn
Mười-phương tám mươi tám cu-chi

Hằng-sa chư Phật đều tuyên thuyết
Thanh-Tịnh Chư-Thú Vô-Cấu-Quang

Phật-Đảnh Tôn-Thắng môn thần diệu
Hay trừ tất cả các tội chướng

Xuất-sanh phước-trí rộng vô biên
Độ thoát ba cõi cùng sáu đường
Khiến được tuỳ tâm lên bỉ-ngạn


Nay con chí thành xin thọ trì
Nguyện thoát Ta-Bà sanh Cực-Lạc.
Nam mô Phật-Đảnh Tôn-Thắng
Hội-Thượng-Phật Bồ-Tát .


(3 lần)


5.
PHẬT-ĐẢNH TÔN-THẮNG DHÀRANI:




1- Na mô ba ga pha tê



2-
Sạt hoa tát răn lô ki da


3-
Bờ ra di vi ti sắc tra da



4-
Bút đà da ba ga phê tê


5-
Tát đi da tha


6-

Um! Bút rum, bút rum, bút rum


7-
Suýt đà da, suýt đà da


8-
Vi suýt đà da, vi suýt đà da



9-
Á sá ma sá ma


10- Sa
măn tá phạ hoa sát


11- Sa
phả ra na ga ti ga gạ na



12- Xoa
phạ hoa vi suýt đi


13- Á
vi chuân da đu măn


14-

Sạt hoa tát thá ga đá


15-
Sủ ga đa


16-

Phạ ra phạ ca nã


17- A
mi rị tá, bi sá cu


18- Ma
ha muýt dơ ra măn đarabana



19- Um!
Á hạ ra, á hạ ra


20- A
du săn đà ra ni


21-

Suýt đà da, suýt đà da


22- Ga
ga na xoa phạ hoa visuýtđi


23- U
sắc ni sá vi ca da visuýtđi



24- Sá
hạ sa ra, ra sa mi santônitê


25- Sá
ra hoa tát thá ga đa


26- A
hoa lô ki ni



27-
Sạt hoa tát thá ga đa mát tê


28- Sá
tra bá ra mi tá


29- Ba
rị bủ ra ni



30- Na
sá bủ mi bơ ra đi sắc ni tê


31- Sá
ra hoa tát thá ga đa hất rị đà da



32-
Đi sắc sá na


33-
Đi sắc si tê


34- Um!
Muýt đơ ri, muýt đơ ri, ma ha muýt đơ ri



35- Hoa
dí ra ca da


36-
Săn hạ da nã vi suýt đi



37- Sá
ra hoa ca ma, phạ ra na vi suýt đi


38- Ba
ra đu ri ca ti, bi ri vi suýt đi


39-

Bơ ra ti na hoa ra đá da, a dục suýt đi


40-
Sam ma dã, đi sắc sá na, đi sắc si tê



41-
Um!ma ni, ma ni mạ hạ ma ni


42- Á
ma ni, á ma ni


43-

Vĩ ma ni,vĩ ma ni, mạ hạ vĩ ma ni


44- Mát
đi mát đi, mạ hạ mát đi



45- Tát
thá đá, bủ đa


46- Cu
thi vi ri suýt đi


47- Vi
sa phổ ra, bút đi vi suýt đi



48- Um!
Hi hi


49- Dá
ra, dá ra


50-
Vĩ dá ra, vĩ dá ra



51- Sa
ma ra, sa ma ra


52- Sa
phạ ra, sa phạ ra


53- Sá
ra phạ bút đa



54-
Đi sắc sá na


55-
Đi sắc si tê


56-

Suýt đi, suýt đi


57-
Họa di ri, họa di ri, mạ hạ họa di ri



58- Á
họa di ri


59- Hoa
di ra gạ bi


60- Dá
ra gạ bi



61-
Vĩ dá ra gạ bi


62-
Hoạ di ra, rít họa lã gạ bi



63-
Họa di rô, na ga tê


64-
Họa di rô, na bà vê


65-

Họa di ra, sam bà vê


66-
Họa di rô, họa di rị na


67-

Họa di rảm, hoa phạ đô mạ mạ


68- Sá
rị sảm, si ra phạ sát ta phạ năng



69-
Tả ca da, bi ri, vi suýt đi


70-
Sất da hoa phạ, đô mi sát na



71- Sá
ra phạ, ga ti, bi rị suýt đi


72- Sá
ra phạ, tát tha gạ đa, sất da mi



73- Sá
ma sa phạ, sát dăn tu


74-
Sạt hoa tát tha ga đa


75- Sá
ma sá phạ sa, đi sắc si tê



76- Um!
Sất đi da, sất đi da


77- Bút
đi da, bút đi da


78- Vi
bút đi da, vi bút đi da



79-
Bồ dà da, bồ đà da


80- Vi
bồ đà đa, vi bồ đà da



81- Mô
ca da, mô ca da


82- Vi
mô ca da, vi mô ca da


83-
Suýt đà da, suýt đà da



84- Vi
suýt đà da, vi suýt đà da


85- Sa
măn tá, tát bi rị mô ca da


86- Sa
măn đá da, sa mi bi rị suýt đi



87- Sá
ra phạ, tát thá ga đá,sam ma da hất rị đà da


88-
Đi sắc sá na, đi sắc si tê



89- Um!
Muýt đơ ri, muýt đơ ri, mạ hạ muýt
đơ ra


90-

Mạn đà ra bá na


91-
Đi sắc si tê


92- Sóa
ha



(Tuỳ
sức tụng nhiều hay ít 7 biến, 21 biến, 49
biến hoặc 108 biến)
Tụng chú xong chắp tay đọc bài kệ Tán :



Tán
:

Phật-Đảnh Tôn-Thắng
Công-đức Hằng-sa

Phá không ác đạo cảnh Diêm-la
Rải rác Mạn-đà-la
Độ thoát Ta-Bà

Về cõi thắng Liên-Hoa.
Nam
Tuyên-Dương Tôn-Thắng Diệu-Môn Bát-Thập
Bát-Cu-Chi Hằng-Hà-Sa Chư

Phật.
(3lần)


6.
Quãng-Đại Bất-Không Ma-Ni Phổ-Cúng-Dường
Chân-ngôn :

Nguyện nhờ sức pháp-giới

Sức Phật Thánh gia-trì
Cùng sức công-đức con
Khắp cúng dường an-trụ.

Nam
Mô Phổ-Cúng-Dường Bồ-Tát.
(3 lần)
Om ! Á mộ gà Vi bu
lã Ma-ni Pát-đơ-ma Va-ji-ri Sạt va

Tát tha ga tá A va lô ki tê Sa manh tá Bơ-ra Sá
ra Hùm.
(7 Biến)
(Ấn Ma-ni Phổ-cúng-dường, tiếp dùng ấn
Xuất-sanh Phổ-cúng-dường để trên
đảnh đọc chữ Om

“21 Lần”)


7.
Tuỳ-Cầu Tâm-Trung-Tâm Chân-ngôn :

Om ! Su ru Su ru
Vạ ra Vạ ra Sâm vạ ra Sâm vạ

ra In đi ri da Vi suýt đà ni Hùm Hùm Ru
ru Chá lê Ca ru Chá lê Soá ha.


(7 Biến)
(Ấn nhiếp-thọ-bí-mật-môn-đảnh-luân)


8.
Đại-Thắng Phật-Đảnh Chân-ngôn : (Ấn
Hoả-Diệm)


Om ! Mạ hạ Hoa ji
ra U sắc Ni sá Quăn Hùm Tra hấc
rị át Ta rê Tuýt ta rê Tu rê phắt Á sám
mẳn Nghĩ-ni Sí-răn Bơ-rum.


(7 Biến)
(Kế tiếp đứng lên lễ sám)


Chí
tâm quy mạng lễ :
Giải-thoát chủ

thế-giới, Nam mô Hư-Không Công-Đức,
Mục-Tịnh Vô-Cấu, Vi-Trần
Đẳng-Đoan-Chánh, Công-Đức-Tướng,
Quang-Minh-Hoa, Ba-Đầu Ma-Diễm Lưu-Ly Quang-Sắc,
Bảo-Thể-Hương,
Tối-Thượng-Hương,
Diệu-Cúng-Dường, Chủng-Chủng Diệu-Thái
Trang-Nghiêm, Đảnh-Kế Diệu-Tướng
Vô-Lượng Vô-Biên, Nhựt-Nguyệt Quang-Minh,
Nguyện-Lực Trang-Nghiêm, Biến-Hoá Trang-Nghiêm,
Quãng-Đại Trang-Nghiêm, Pháp-Giới Cao-Thắng
Vô-Nhiễm Bảo-Vương
Như-Lai.
( 1 lạy )



Chí
tâm quy mạng lễ : Quang-Thắng Thế-giới,
Thiện-Danh-Xưng Kiết-Tường-Vương
Như-Lai
. (1lạy)


Chí
tâm quy mạng lễ : Diệu-Bảo Thế-giới,
Bảo-Nguyệt Trí-Nghiêm Quang-Âm Tự-Tại-Vương
Như-Lai.
( 1
lạy )



Chí
tâm quy mạng lễ : Viên-Mãn Hương-Tích
Thế-giới, Kim-Sắc-Bảo-Quang Diệu-Hạnh
Thành-Tựu Như-Lai.
( 1
lạy )



Chí
tâm quy mạng lễ : Vô-Ưu Thế-giới, Vô-Ưu
Tối-Thắng Kiết-Tường Như-Lai.
( 1
lạy )



Chí
tâm quy mạng lễ : Pháp-Tràng Thế-giới, Pháp-Hải-Lôi-Âm
Như-Lai
. ( 1 lạy )

Chí
tâm quy mạng lễ : Thiện-Trụ Bảo-Hải
Thế-giới, Pháp-Hải-Thắng-Huệ Du-Hý
Thần-Thông Như-Lai.
( 1
lạy )



Chí
tâm quy mạng lễ : Tịnh-Lưu-Ly Thế-giới,
Dược-Sư Lưu-Ly-Quang Như-Lai.

( 1 lạy )



Chí
tâm quy mạng lễ : Vô-Chướng-Ngại
Thế-giới, Anh-Đà-Ra-Tràng-Tinh-Vương Như-Lai.

( 1 lạy )



Chí
tâm quy mạng lễ : Ái-Lạc Thế-giới,
Phổ-Quang-Minh Công-Đức Trang-Nghiêm Như-Lai.

(1lạy)



Chí
tâm quy mạng lễ : Phổ-Nhập Thế-giới,
Thiện-Đấu Chiến-Nan Hàng-Phục Siêu-Việt
Như-Lai.
(1lạy)


Chí
tâm quy mạng lễ : Diệu-Âm-Minh Thế-giới,
Bảo-Liên-Hoa Thiện-Trụ Sa-La Thọ-Vương
Như-Lai.
( 1 lạy )


(Quỳ
chấp tay niệm Phật hồi-hướng) :


Quy
mạng lễ A-Di-Đà Phật


Ở phương Tây thế-giới an lành
Nay con xin phát nguyện Vãng-sanh
Cúi xin Đức Từ-bi nhiếp-thọ.

Nam
mô Tây-phương Cực-Lạc Thế-giới
Đại-Từ Đại-Bi Tiếp-Dẫn
Đạo-Sư A-Di-Đà Phật.



Nam
A-Di-Đà Phật

(10 hơi)
Nam
Quán-Thế-Âm Bồ-Tát


( 3 hơi )
Nam
Đại-Thế-Chí Bồ-Tát

( 3 hơi )
Nam

mô Thanh-Tịnh Đại-Hải-Chúng Bồ-Tát.
( 3
hơi )


Nay
con trì-chú Lễ-sám niệm

Nguyện con phát lòng Bồ-Đề rộng lớn


Nguyện con Định-huệ sớm viên-minh
Nguyện con Công-đức đều thành tựu

Nguyện con thắng-phước khắp trang-nghiêm
Nguyện con tội-chướng đều tiêu
diệt


Vô thỉ đến nay con tạo ác
Đều do vô-thỉ tham-sân-si
Từ thân, miệng, ý phát sanh ra

Tất cả nay con xin sám-hối.
(Xá)


Chúng-sanh
vô-biên thề-nguyện độ

Phiền-não vô-tận thề-nguyện dứt

Pháp-môn vô-lượng thề-nguyện học
Phật-đạo vô-thượng thề-nguyện
thành



Con
nguyện lâm-chung dự biết thời

Dứt trừ tất cả điều
chướng-ngại


Diện-kiến Tây-phương Tam-Thánh-Tôn
Liền được sanh về cõi Cực-Lạc



Xin
đem công-đức thù-thắng nầy

Hồi-hướng bốn-ân và ba-cõi
Nguyện khắp pháp-giới các chúng-sanh

Đều sanh Cực-Lạc thành Phật-đạo.


(Đứng
lên xướng lễ) :


Chí
tâm đảnh lễ :

Tận hư không, biến pháp-giới, quá, hiện,
vị lai Thập-phương Chư-Phật, Tôn-Pháp,
Hiền-Thánh-Tăng thường trú
Tam-Bảo.


( 1 lạy )


Chí
tâm đảnh lễ :
Ta-Bà Giáo-Chủ Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật,
Thập-phương Thế-giới, Bát-thập Bát-cu-chi
Hằng-hà-sa Chư-Phật Cập-sở-thuyết
Phật-Đảnh Tôn-Thắng Vô-Cấu-Quang Đà-ra-ni.


( 1 lạy )


Chí
tâm đảnh lễ :
Tây-phương Cực-Lạc Thế-giới
Tiếp-dẫn Đạo-sư Đại-từ

Bi-Phụ A-Di-Đà Phật, Đại-bi Quán-Thế-Âm
Bồ-Tát, Đại-Lực Đại-Thế-Chí
Bồ-Tát, Thanh-Tịnh Đại-Hải-Chúng
Bồ-Tát.


( 1 lạy )
(Thức ba tiếng chuông, xá 3 xá lui ra).



Về

tín ngưỡng cột kinh Phật đỉnh Tôn Thắng
ở Thế kỷ X (Số 1(25)/2004)



Năm 1963, ở Hoa Lư,
đã phát hiện được một cột kinh
Phật do Đinh Liễn, con Đinh Tiên Hoàng, dựng
năm 973. Tác giả bài này đã nghiên cứu cột kinh

đó(1). Năm 1964, phát hiện được cột kinh
thứ hai, tác giả bài này cũng đã nghiên cứu
cột kinh này(2). Năm 1978, lại phát hiện thêm 14
cột kinh tương tự ở Hoa Lư. Trên các cột
kinh này đều có khắc bài Phật đỉnh Tôn
thắng Đà-la-ni (Usnisavijaya dharani). Đây là bài chú
bằng chữ Hán phiên âm tiếng Phạn. 14 cột kinh nói
trên đều không còn nguyên vẹn, nhưng xét những dòng
chữ còn lại thì thấy các minh văn tương

đối giống nhau. Trong đó, có ba cột còn khá nguyên
vẹn, có thể đọc được đầy
đủ các dòng chữ.



Ba cột kinh này khác hai cột được phát
hiện năm 1963-1964 một đoạn quan trọng, cho
ta nhiều thông tin sử liệu. Đoạn này nằm
ngay sau bài Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni nói trên.

Đoạn này trên ba cột cũng có những chỗ khác
nhau. Tôi gọi bản khắc trên ba cột đó là 3A, 3B và
3C.



Sau đây là nguyên văn đoạn đó mà tôi chép
lại từ cột 3A: “Đệ tử Suy thành Thuận
Hóa, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đặc
tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực ấp nhất
vạn hộ, Nam Việt vương Đinh Khuông Liễn,
sở vi vong đệ Đại đức Đính Noa
Tăng Noa bất vi trung hiếu phục sự

thượng phụ cập trưởng huynh, khước
hành ác tâm, vi bội nhược ái khoan dung, huynh hư trước
tạo thứ sở dĩ tổn hại Đại

đức Đính Noa Tăng Noa tính mệnh, Yếu thành gia
quốc vĩnh bá môn phong. Cổ ngôn tranh quan bất
nhượng vị, tiên hạ thủ vi lương, trí
dĩ như tư. Kim nguyện tạo bảo tràng nhất
bách tọa, tiến bạt vong đệ cập tiên vong
hậu một nhất hạ thoát, miễn cánh chấp
tụng. Tiên chúc Đại Thắng Minh hoàng đế,
vĩnh bá thiên Nam,
hằng an bảo vị”.



Dịch nghĩa như sau: Đệ tử là Suy thành
Thuận Hóa, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ,

đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực
ấp một vạn hộ, Nam Việt vương Đinh
Khuông Liễn, vì vong đệ là Đại đức

Đính Noa Tăng Noa không làm điều trung hiếu, không
thờ cha và anh, lại có lòng ác, trái với sự yêu
thương và khoan dung, anh không thể bỏ qua, nên đã
làm tổn hại đến tính mệnh của Đại

đức Đính Noa Tăng Noa, để trọn vẹn
tình nhà nghĩa nước. Lời người xưa
rằng đã tranh quan thì không nhường, ra tay
trước mới là hay, đến nỗi ra tình hình
như vậy. Nay nguyện làm 100 cột kinh để cúng
cho vong đệ và những hồn ma của người
chết trước đây và sau này, cầu cho tất
cả giải thoát, không phải tranh giành kiện tụng.
Trước hết là chúc cho Đại Thắng Minh hoàng

đế, mãi mãi làm chủ trời Nam, giữ yên ngôi báu.



Ở câu cuối cùng, bản 3B chép: “Tiên chúc Đại
Thắng Minh hoàng đế, vĩnh trấn thiên Nam, thứ

vi khuông tá dĩ đế”. Nghĩa là: Trước chúc cho
Đại Thắng Minh hoàng đế, mãi mãi trấn
giữ trời Nam,
sau nữa là phụ giúp cho cơ đồ hoàng đế.
Còn bản 3C thì chép: “Tiên chúc Đại thắng Minh hoàng

đế, vĩnh trấn thiên Nam, thứ vi Khuông Liễn
hằng kiên lộc vị”. Nghĩa là: Trước chúc cho
Đại Thắng Minh hoàng đế, mãi mãi trấn
giữ trời Nam, sau nữa chúc cho Khuông Liễn mãi
giữ vững được lộc vị.



Chúng ta biết Đại Thắng Minh hoàng đế là
tên hiệu của vua Đinh Tiên Hoàng. Còn Tĩnh Hải quân
Tiết độ sứ, đặc tiến Kiểm
hiệu Thái sư là tước vua Tống ban cho Đinh
Liễn năm 973 khi Liễn đi sứ Trung Quốc (xem
Tống sử). Theo chức danh trên cột kinh này thì

Đinh Liễn còn có thực ấp 1 vạn hộ. Chúng ta
đã biết rằng thực ấp là một hình thức
ruộng ban cấp vào thời Lý. Như vậy là cột
kinh này ta biết thực ấp đã có từ đời

Đinh.



Theo ba cột kinh này thì Đinh Khuông Liễn đã làm 100
cột kinh như vậy để cầu cho người
em là Đính Noa Tăng Noa đã bị Liễn giết.
Người em này, theo sử ta thì được ghi là
Hạng Lang. Chúng ta cần chú ý là chữ Đính rất
gần với chữ Hạng.



Việc tạo hàng loạt cột kinh khắc Phật
đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni ở Hoa Lư có liên
hệ với tín ngưỡng kinh tràng Phật đỉnh
Tôn thắng Đà-la-ni trong Mật giáo Trung Quốc. Mật
giáo Trung Quốc phổ biến tín ngưỡng cột kinh
Phật đỉnh Tôn thắng vào thế kỉ VIII.
Thời kỳ này, Phật giáo Trung Quốc đã trải
qua giai đoạn Trì Minh giáo (Vidya-yana), bước vào giai

đoạn Chân Ngôn giáo (Mantra-yana) với sự phổ
biến của kinh Đại Nhật Như Lai và bắt
đầu hình thành Mật tông với các Tổ như

Thiện Vô Uý (Subhakarasimha), Kim Cương Trí (Vajrabodhi),
Bất Không (Amoghavajra).



Trong thời kì này, Phật đỉnh là một loại
Phật của Mật giáo bắt đầu

được thờ phụng như Đại Phật
đỉnh, Phật đỉnh luân vương, Kim luân
Phật đỉnh, Xí Thịnh Quang Phật đỉnh.
Về tiếu tượng cũng có tượng Phật

đỉnh, đó là tượng ngồi Kiết già trên tòa
sen, tay trái kết ấn Thiền định, tay phải
kết ấn Hàng ma. Các bài kinh và thần chú liên quan
đến Phật đỉnh Phật cũng

được phiên dịch, tạo thành một loại
hành trì gọi là Phật đỉnh pháp.



Trong các kinh về Phật đỉnh thì kinh Phật
đỉnh Tôn thắng là đặc biệt quan trọng.
Kinh Phật đỉnh Tôn thắng được Phật
- đà - ba - lợi (Buddhapala) đem vào Trung Quốc và

được dịch năm 687 (Đại tạng kinh q.
19, 349). Theo ý kiến của nhiều người thì kinh này
được dịch từ niên hiệu Nghi Phượng
(676-679).



Tôn thắng Phật đỉnh tu du già pháp nghi quỹ
chép: “Tôn thắng Phật đỉnh, cũng có tên là
Trừ chướng Phật đỉnh Luân vương,
ngồi Kiết già trên tòa sen, da trắng, hai tay Thiền

định, trong tay có hoa sen, trên hoa sen đặt Kim
Cương câu. Trong tất cả các Phật đỉnh,
Tôn thắng Phật đỉnh có thể trừ
được tất cả phiền não nghiệp
chướng cho nên gọi là Tôn thắng Phật

đỉnh hay là Trừ chướng Phật đỉnh”.
Vì vậy, năm Đại Lịch 11 (776) vua
Đường là Đại tông đã ra lệnh cho
tăng ni trong toàn quốc, trong một tháng phải

đọc thuộc kinh Phật đỉnh Tôn thắng
Đà-la-ni.



Từ tín ngưỡng Phật đỉnh Tôn thắng,
xuất hiện hình thức sùng bái đặc biệt,

đó là tín ngưỡng Tôn thắng kinh tràng, tức các
cột kinh khắc bài Đà-la-ni Phật đỉnh Tôn
thắng. Trong kinh Tôn thắng Đà-la-ni có viết: “Đem
Đà-la-ni viết lên các tràng, để trên núi cao, hay trên
nhà cao, các chỗ cao, hoặc trong tháp, các tăng ni,
thiện nam tín nữ, thấy các kinh tràng này, hay gần các
kinh tràng, hình các kinh tràng dọi vào người, gió thổi
bay vào người, hay gió thổi bụi tràng vào
người, thì các tội nghiệp sẽ tiêu tan”. Và
phổ biến là dựng các cột kinh bằng đá,
gọi là các Tôn thắng thạch tràng. Ở Trung Quốc
hiện nay, dựa vào các ghi chép, người ta biết

được khoảng 70-80 cột kinh. Tuy có nhiều
loại khác nhau, nhưng nói chung người ta chia làm hai
loại: Loại thứ nhất là cột kinh dựng
để cầu phúc, tu công đức cho chúng sinh. Loại
thứ hai là dựng cho người chết. Người
dựng kinh tràng có thể lấy danh nghĩa cá nhân, tự viện,
gia đình hay quốc gia để lập kinh tràng. Còn có
cột kinh khắc cả tượng của người

đã mất, lại còn có cột kinh có bình đặt xá
lợi, ngoài Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni còn
khắc cả Pháp thân kệ. Những cột kinh này
gọi là Xá Lợi tràng. Như cột kinh ở chùa Long Hưng
Hàng Châu năm 842.



Trên các kinh tràng có một đoạn tự ghi rõ lí do, tên
người lập, gọi là tràng chủ, tên người
cùng dựng và tên người viết chữ. Có những
cột, số người tham gia xây dựng khá đông.



Như vậy, những cột kinh tìm thấy ở Hoa
Lư là biểu hiện một tín ngưỡng của
Mật giáo Trung Quốc. ảnh hưởng của nó

đã lan đến Triều Tiên. Và với những phát
hiện ở Hoa Lư, ta thấy tín ngưỡng này đã
phổ biến ở Việt Nam vào thế kỉ X./.





sưu tầm: lien-hoa.net
Hà Văn Tấn (*)

__________________________

*. GS. Viện Khảo cổ học.


1. Hà Văn Tấn. Từ một cột kinh Phật năm
973 vừa phát hiện ở Hoa Lư -Nghiên cứu Lịch
sử số 76, tháng 7-1965.
Về Đầu Trang Go down
 
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG VÔ CẤU QUANG ĐÀN PHÁP
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Thác Trắng - Minh Long - Quảng Ngãi
» Danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XI
» Quỹ Cựu Học sinh Tư Nghĩa: Tri ân Thầy Cô, Nhớ về Trường xưa, Vì Đàn em thân yêu...
» Quảng Ngãi quê ta- thú chơi : Chim -Cây - Cá - Cảnh
» Thiết bị làm hàng

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu! :: >>>Mật Tông-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Free blog