WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 KINH NHẤT THIẾT CÔNG ÐỨC TRANG NGHIÊM VƯƠNG

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003498
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: KINH NHẤT THIẾT CÔNG ÐỨC TRANG NGHIÊM VƯƠNG   17/1/2010, 09:53


NAM MÔ NHẤT THIẾT CÔNG ÐỨC



TRANG NGHIÊM VƯƠNG KINH HỘI THƯỢNG
PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT
(3 lần)







KINH NHẤT THIẾT CÔNG
ÐỨC TRANG NGHIÊM VƯƠNG


(MỘT
QUYỂN)



Ðời Ðường, Ngài Tam Tạng
pháp sư Nghĩa Tịnh



phụng chiếu dịch Phạn ra
Hán.



Thích Viên Ðức dịch thành
Việt văn.






Như thật tôi nghe, một thời đức Bạc Già Phạm ở
tại thành Vương Xá, nơi Yết Lan Ðạt Ca, trong vườn Trì Trúc Lâm cùng các
đại Bí sô chúng, đầy đủ 500 người. Các vị đại Bồ Tát gồm có 1.200 vị, đều
đắc Ðà Ra Ni, biện tài trôi chảy, được trí vô nhiễm, dạo vô ngại cảnh,
khéo quyền phương tiện, nhiếp dẫn chúng sanh, quán sát thế gian, tâm hành
bình đẳng, nhiêu ích từ bi, lòng ưa thuần tịnh, ở chỗ chư Phật, pháp mầu
thâm sâu, thường hay thưa hỏi.



Các Ngài ấy gọi rằng: Từ Thị đại Bồ Tát,
Thường Cần Dũng đại Bồ Tát, Bình Ðẳng Trụ đại Bồ Tát, Ðại Huệ đại Bồ Tát,
Vô Biên Biện đại Bồ Tát, Dũng Huệ đại Bồ Tát, Quán Tự Tại đại Bồ Tát, Trừ
Nghi đại Bồ Tát. Những vị đại Bồ Tát Ma Ha Tát như vậy đều là bậc Thượng
thủ. Còn có các vị Thích, Phạm, Hộ Thế, Tứ Thiên Vương, Long, Thần, Bát Bộ
và các ngoại đạo, số có sáu ngàn (6000) cùng đem quyến thuộc, thảy đều vân
tập những đại chúng này đều đến chỗ Phật, lễ chân Phật rồi hữu nhiễu ba
vòng, trời mưa hoa màu, tấu thiên âm nhạc, thiêu các danh hương làm lễ
cúng dường.



Bấy giờ đại chúng đều thốt lên rằng: Lành
thay! Lành thay! Giáo pháp Như Lai, đủ đại oai đức, hễ có lòng tin, hay
đoạn phiền não, nói lời ấy rồi lại ngồi một bên.



Lúc ấy đức Thế Tôn nhập vào “Năng đoạn hoặc ly
cấu Tam ma địa”. Khi nhập định này, đại địa tức liền sáu món chấn động.
Trời mưa hương bột, mầu nhiệm chiên đàn, hoa thơm cõi trời rưới khắp nơi
ấy. Phóng đại hào quang chiếu khắp thế giới, nếu các hữu tình đọa trong ác
thú mong nhờ hào quang đều được giải thoát. Cho đến tất cả Thiên, Long,
Dược Xoa những chúng Bát Bộ, chỗ ở cung điện thảy đều chiếu sáng, nghe
thiên âm nhạc, hương trời mầu nhiệm. Chư Thiên thần kia thấy việc hy hữu
không thể nghĩ bàn, lòng sanh suy nghĩ, ai làm thần lực, thù thắng như thế
khiến đất đại động, trời mưa hương hoa, phóng đại hào quang chiếu sáng
cung thất thảy đều rực rỡ. Suy nghĩ thế rồi cùng nhau bảo rằng: Ðây là Như
Lai hiện đại oai đức, không phải các trời, hay có điềm ấy. Chúng ta nay
đây hãy đến vườn Trúc nơi chỗ Thế Tôn lễ bái cúng dường, nghe pháp mầu
nhiệm. Các chư Thiên kia cầm hoa Ốt bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Phần đà
lợi, hoa Tô kiện đề, hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la. Ðến chỗ Thế Tôn
đầu đảnh lễ kính nơi hai chân Phật mà vì cúng dường, trời mưa các hoa khắp
cả đại địa, ngập đầy đầu gối chân. Chấp tay cung kính, chiêm ngưỡng tôn
nhan. Lại có Bồ Tát vô lượng phương khác như Ngài Chấp Kim Cang Bồ Tát,
Trang Nghiêm Vương Bồ Tát, cùng muôn ức chư Thiên trì chú Thần vương, thấy
hào quang lớn đều dùng oai lực làm diệu trang nghiêm, hương hoa đẹp đẽ,
các thứ âm nhạc qua đến chỗ Phật cùng các quyến thuộc đều nhiễu ba vòng,
chấp tay chí thành, lễ hai chân Phật, cúng dường đã xong, đầy đủ oai nghi,
lui ngồi một bên.



Bấy giờ, Ngài Từ Thị và các đại Bồ Tát thấy
các đại chúng đều đã vân tập khởi niệm thế này: Ta xem đại chúng đều đến
chỗ Phật, chắc sẽ diễn nói, pháp đó thù diệu không thể nghĩ bàn, thảy đều
lặng lòng chờ nghe lời mầu. Lúc lấy Thế Tôn biết các Bồ Tát tất cả đại
chúng lòng nghĩ như thế liền xuất thiền định dạy Bồ Tát Trang Nghiêm Vương
rằng: Này thiện nam tử! Ông hãy đi xem cõi đại địa này, sẽ thấy những gì.
Khi ấy Trang Nghiêm Vương Bồ Tát thừa giáo chỉ Phật từ tòa đứng dậy liền
xem đại địa, đã xem khắp rồi trở về chỗ Phật cung kính đảnh lễ nơi hai
chân Phật, rồi đứng một bên mà bạch Phật rằng: Thưa đức Thế Tôn! Con vâng
lời Phật, xem cõi đại địa đã có người trời, tất cả đại chúng đều đến vân
tập, mong đức từ bi vì các chúng sanh làm việc nhiêu ích.



Lúc bấy giờ, Ðức Phật dạy Trang Nghiêm Vương
Bồ Tát rằng: Ông nên nhất tâm lắng nghe ta nói. Ta nay sẽ vì sáu mươi bốn
ức chúng sanh hữu duyên, thọ ký đạo quả Vô thượng Bồ đề.



Bấy giờ Chấp Kim Cang Bồ Tát liền từ tòa đứng
dậy chấp tay hướng Phật bạch đức Thế Tôn: Nay có vô lượng ức số Thiên
Long, Dược Xoa và các La Sát, Càn Thát Bà, A Tô La, Yết Lỗ Trà, Khẩn Na
La, Mạc Hô Lạc Già, Người và Phi nhân cùng các ngoại đạo đều đến vân tập.
Bạch đức Thế Tôn! Nay chính là lúc, mong Ngài vì nói. Kinh Nhất Thiết Công
Ðức Trang Nghiêm Vương hay tiêu hết thảy nghiệp chướng, hay diệt các tội
khổ, hay dứt tất cả ma nghiệp, hữu tình chưa tin khiến sanh kính tín, trừ
bỏ đói khát, thường được giàu vui, tiêu các bệnh tật, xa lìa uổng tử, cũng
khiến hữu tình, dứt trừ hối hận đều được an ổn, thường thọ khoái lạc. Bạch
đức Thế Tôn! Con lúc xưa kia từng ở chỗ Phật Ðiển Quang nghe thọ kinh này
vừa được nghe xong, tất cả diệu pháp đều được hiện tiền, tất cả ác đạo
thảy đều đóng bít, chỗ có nghiệp chướng đều được tiêu trừ. Cúi mong Như
Lai từ bi xót thương vì chúng diễn nói. Thưa lời ấy rồi Thế Tôn yên lặng.



Bấy giờ Ngài Chấp Kim Cang Bồ Tát cũng lại ân
cần ba lần thưa thỉnh, nói pháp như thế. Ðức Phật dạy Chấp Kim Cang Bồ Tát
rằng: Này thiện nam tử! Ông chớ thỉnh ta nói kinh Nhất Thiết Pháp Công Ðức
Trang Nghiêm Vương, vì cớ sao thế? Ta nếu nói ra, đối với đời ác sau này
sẽ có chúng sanh không thể tín thọ, lại nói như vầy: Kinh đây chẳng phải
Như Lai tuyên nói, cũng chẳng khen ngợi, hủy báng kinh này hay chiêu hai
món thiện ác nghiệp báo. Bởi chúng sanh kia vì tội xan tham, không hay
cung kính cúng dường kinh điển, đối thuyết pháp sư cũng không gần gũi, hủy
báng kinh này, rộng làm bất tín, ở trong hiện đời tạo các ác nghiệp, về
đời mai sau đọa trong địa ngục, chịu khổ đốt cháy. Này thiện nam tử! Như
Vương Kinh này càng nên tôn trọng cũng như cha mẹ, lại hay diệt trừ các ác
nghiệp chướng. Tuy nhiên trong đời ác thế ngũ trược cũng chẳng phải thời
nói, cũng chẳng phải thời nghe. Bởi vì sao vậy? Chớ nên khiến kia tất cả
ngoại đạo và các hữu tình đọa nơi địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, chịu khổ
lâu dài. Vậy nên chúng sanh tín tâm kém thiếu, vui đắm các dục, siêng quản
tục vụ, buôn bán tranh tụng, đối kinh điển này ắt khởi bán tâm. Những
chúng sanh đây sau khi mạng chết đọa vào tám địa ngục lớn, phải chịu cực
khổ.



Khi ấy trong chúng có tám muôn người, đều từ
chỗ ngồi đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng: Thưa đức Thế Tôn! Chúng con
đem lòng tin sâu kinh điển, tôn trọng cúng dường, biên chép đọc tụng, rộng
truyền kẻ khác. Nếu có người ngu, không tin pháp đây vì bởi mạn pháp cũng
lại hủy báng khinh chê nơi con, con lúc bấy giờ hết thảy nhẫn chịu. Báo ân
kinh này trọn không hờn giận. Chỉ mong vì nói thù thắng kinh điển. Sở dĩ
vì sao? Vương kinh mầu này nơi đời vị lai lơi ích chúng sanh, như Phật
không khác. Nói lời ấy rồi, trở về chỗ ngồi.



Ngài Chấp Kim Cang Bồ Tát bạch Ðức Phật rằng:
Thưa Thế Tôn! Bồ Tát Ma Ha Tát làm thế nào cầu thiện tri thức?



Phật dạy: Này thiện nam tử! Cầu thiện tri thức
phải nên thành tựu bốn pháp như vầy: Một là thường đến thưa hỏi, hai là
khởi lòng tin cần, ba là ý ưa thanh tịnh, bốn là tôn trọng mến pháp.



Chấp Kim Cang Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Thưa
Thế Tôn! Làm thế nào Bồ Tát an trụ A Lan Nhã?



Phật dạy: Thiện nam tử! Thành tựu được bốn
pháp thì an trụ A Lan Nhã:



Một là bỏ lìa nhà thế tục, hai là xa lìa ác
tri thức, ba là xả bỏ hết tài vật, bốn là thường nhiếp tự tâm.



Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát bạch Phật rằng:
Thưa đức Thế Tôn! Con không thấy có người được nghe kinh này mà đọa ác
thú. Bạch Thế Tôn! Kinh này có đại oai đức, khó thể nghĩ lường. Bạch Thế
Tôn! Nếu có người tạm nghe kinh này mà lễ bái khen ngợi, cung kính cúng
dường thì thu hoạch được phước vô lượng huống gì biên chép, lưu hành, thọ
trì, đọc tụng, các thứ hương hoa vì đó cúng dường, còn đối thuyết pháp sư,
nên đem những thứ y thực cúng dường. Người như thế đó được tất cả chư Phật
cùng chung hộ niệm vì họ thọ ký sẽ được sanh sang thế giới An Lạc. Pháp sư
như thế cùng Phật không khác. Phật dạy: Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử!
Ta cũng cúng dường Pháp sư như thế và sẽ thọ ký, được sanh An Lạc thế giới
mau chứng Bồ đề. Nếu lại có người đối chỗ chư Phật và kinh điển này, tôn
trọng cung kính rồi dùng hương thơm, hoa đẹp, hương hoa, hương bột, y phục
anh lạc, các thứ âm nhạc, tràng phan, bảo cái, lọng tàn, màn trướng mà
cúng dường ấy thì người này trọn không bao giờ hoạnh tử, không có oán
giặc, binh chiến lo sợ, cũng không cha mẹ, vợ con quyến thuộc, bằng hữu
tri thức, buồn khổ lo rầu! Có mong cầu chi đều được toại ý. Thiện nam tử!
Chư Phật ra đời việc đó rất khó, được nghe kinh này lại càng khó hơn. Nếu
kinh điển này lưu hành chỗ nào, hoặc là thành ấp, tụ lạc, lan nhã, tòng
lâm, các nơi trụ xứ, phải biết chỗ ấy tức là chư Phật Thế Tôn đều đã nhiếp
thọ.



Khi bấy giờ Chấp Kim Cang Bồ Tát bạch Phật
rằng: Thưa Thế Tôn! Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát vì nhân duyên gì mà gọi tên
Quán Tự Tại? Thế Tôn dạy rằng: Thường lấy mắt tịnh xem xét thế gian, nơi
có chúng sanh an ủi dụ dẫn, thành thục từ bi, lợi ích an ổn. Nếu xưng danh
ấy, có việc mong cầu đều khiến đầy đủ, bởi nhân duyên đó, tên Quán Tự Tại.
Lại bạch Phật nữa rằng: Nếu có chúng sanh chỉ xưng danh hiệu của Quán Tự
Tại Bồ Tát, mà việc mong cầu còn được đầy đủ huống gì có người cúng dường
Như Lai và kinh điển này, biên chép đọc tụng, rộng vì kẻ khác, lưu hành
truyền nói, y phục hương hoa mà vì cúng dường, người này được phước vô
lượng vô biên.



Quán Tự Tại Bồ Tát bạch Phật rằng: Thưa đức
Thế Tôn! Kinh này có đại oai đức hay làm Phật sự. Cúi mong Thế Tôn lại vì
thương xót các chúng sanh ấy nên nói chú Ðà Ra Ni.



Phật dạy: Thiện nam tử! Có Ðà Ra Ni gọi rằng
Thắng Diệu. Ta lúc xưa kia còn làm Bồ Tát, nơi Thắng Diệu thế giới chỗ
Phật Diệu Âm, cùng các đại chúng đồng khen Thần chú Ðà Ra Ni này, đã thọ
được rồi chứng pháp Thập Ðịa Vô Lượng chúng sanh thảy đều đồng chứng Vô
sanh pháp nhẫn.



Bấy giờ trong hội các chúng Bồ Tát đều đứng cả
dậy mà bạch Phật rằng: Thưa đức Thế Tôn! Cúi mong từ bi thương xót lân
mẫn, hết thảy chúng con mà nói Thần chú Ðà Ra Ni ấy.



Bấy giờ Thế Tôn dùng tiếng Phạn âm liền nói
chú rằng:



“Ðát Ðiệt Tha, Thệ Dã Thệ Dã, Thệ Da Phược Ha,
Khê Phược Ha, Thệ Dã Phược Ha, Hốt Lỗ Hốt Lỗ Bát Ðầu Ma, Bệ A Bà Ma Phạm
Mê Tát Ra Tát Rị Nê, Ðịa Lỵ Ðịa Lỵ, Ðịa Ra Ðịa Lỵ Ðề Bà Ðả Bát Lợi Ba Rị
Nê, Du Ðà Ốt Ða, Lạt Nĩ Bát Ra, Chước Yết Ra Nĩ Bà, Lạt Nĩ Bô, Lạt Dã Bà
Già Phạm



Ngã đệ tử tên …(tự xưng tên mình) do Phật gia
hộ, tất cả sở cầu, nguyện mong viên mãn. hết thảy tội nghiệp đều được tiêu
trừ TÓA HA.”



Phật dạy: Thiện nam tử! Thắng Diệu Ðà Ra Ni
chú này, hay trừ tất cả tội chướng, hay bẽ gãy tất cả tha quân, vĩnh viễn
không đói khát, tật dịch tai nạn, các việc bịnh khổ. Thường được giàu có,
kho lẫm dẫy đầy, tăng ích thọ mạng. Ðà Ra Ni chú này là chư Phật Mẫu. Nu
có kẻ trai lành và người gái tín nào tín tâm đảnh lễ, cung kính cúng
dường, biên chép đọc tụng, thọ trì kinh chú, còn lại cúng dường pháp sư
trì kinh thì người đó nghiệp chướng đều được tiêu diệt, không gặp hoạnh
tử, nơi trong hiện thân thường được hoan hỷ khoái lạc. Cha mẹ vợ con bằng
hữu quyến thuộc thảy được an ổn, có việc mong cầu đều được toại ý. Chấp
Kim Cang Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Thưa đức Thế Tôn! Con cũng đem lòng
cung kính trì dịch kinh điển ấy. Nếu lại có người đem hương hoa mầu nhiệm
và các đồ ăn uống cúng dường pháp sư và kinh điển này, con cũng tùy hỷ
đồng tâm cúng dường kinh ấy. Những người nhơn dân và vị quốc chủ tại quốc
gia kia con đều ủng hộ khiến khỏi suy hoạn khổ não, mong cầu điều chi thì
được toại nguyện. Bạch đức Thế Tôn! Con nay khởi lòng phát tâm dõng mãnh,
vì Quốc chủ kia và người tín thọ, cũng vì tuyên nói chú Ðà Ra Ni để mà ủng
hộ. Phật dạy, thiện nam tử! Ông hay vì các chúng sanh làm điều lợi ích an
vui mà nói Ðà Ra Ni nên ta tùy hỷ. Lúc ấy Chấp Kim Cang Bồ Tát nhờ Phật
thần lực đã gia trì nên nói Thần chú Ðà Ra Ni rằng:



“Nam ma tát bà bột đà, đát tha yết đa nẫm. Nam
ma a di đa bà dã, đát tha yết đa dã. Nam ma tát bà bồ đề tát đõa nẫm. Nam
ma tát bà mộ hiết địa kê tệ. Ðát điệt tha hổ hô mê, hổ hô mê, mạt để mộ ha
mạt để, bạt chiết la mạt để, điệt lật trà bạt chiết la mạt để, đát tha yết
đa, a nô bát lị bà lợi đế, tát ra tát ra, a dũ mục xí, bậc lệ cu trí, tỳ
cu đa mục xí, ngật lật bế, ngật lật ba, lộc kế, tát đế a nô táp mạt ra bạt
già phạm bạt chiết ra ba nĩ tát bà ba bạt yết ma thật dã.



Ngã đệ tử tên … (tự xưng tên mình) sở hữu
nguyện cầu, giai đắc toại ý, đương giữ ngã nguyện, dĩ Phật Ðà thật ngữ, Bồ
Tát thật ngữ, Thanh Văn thật ngữ TÓA HA.”



Bạch đức Thế Tôn! Nếu lại có người muốn vào
địa vị Bồ Tát, nguyện thấy các đức Như Lai, muốn sanh về cõi tịnh độ, mong
cầu phú quí, tài bảo giàu có, sống lâu không bịnh, nên trì kinh điển vi
diệu này cho đến pháp sư, viết chép đọc tụng, hương hoa âm nhạc, y phục ẩm
thực, tràng phan, bảo cái mà làm lễ cúng dường. Người như vậy con sẽ theo
ủng hộ làm cho chỗ mong cầu nguyện mãn, thường khởi lòng thương mến coi
như con một.



Bạch Thế Tôn! Nếu lại có người bẩm tánh si độn
muốn cầu thông minh và hộ cõi nước khiến không tật dịch. Phải nên đối với
tháng bạch nguyệt, ngày mùng tám bắt đầu khởi công tu niệm một ngày đoạn
thực niệm tụng chú này. Mười lăm ngày cho đến hết tháng. Trong thời gian
ấy chỉ ăn ba thứ bạch thực, như cơm (bánh), sữa, bơ. Thanh tịnh tắm rửa
sạch sẽ, tụng Thần chú này mãn mười vạn biến. Nếu có sức lực tụng mãn ba
mươi vạn biến, thường nên tùy sức cúng dường Tam-Bảo. Hãy khiến một vị họa
sư thọ bát quan trai giới. Thân y tinh khiết mà họa tượng kia. Nơi giữa an
bày tượng Phật Thích Ca, ngồi trên tòa sư tử, đang thuyết pháp nghi. Bên
phía hữu an bày tượng Quán Tự Tại Bồ Tát, đồ phục sức trang nghiêm đầy đủ,
đứng trên hoa sen, thân có bốn tay. Tay trên bên hữu cầm bổn Phạn kinh,
tay dưới cầm tràng chuỗi, tay trên bên tả cầm hoa sen trắng, tay dưới cầm
bình Quân trì. Bên phía tả an bày Chấp Kim Cang thần, tay hữu cầm Kim Cang
xử, tay tả đưa lên nương cầm đầu xử. Nét mặt vui vẻ, anh lạc nghiêm thân.
Nơi bốn bên an để Hộ Thế Tứ Thiên Vương. Những tôn tượng này đều đeo dây
lụa, đầy Xá lợi Phật, qua lại nơi thân như trái quai lạc.



Lại nữa, ở trước tượng có thể làm một cái Ðàn,
(Mạn Ðà La) tùy theo lớn nhỏ, bốn mặt mở bốn cửa, lấy ngưu phẩn thoa đắp
(phân trâu trắng thơm ở tuyết sơn) các thứ hương hoa bày khắp trên ấy, lư
hương phải đủ năm cái, để thiêu riêng năm thứ hương nghĩa là: Trầm hương,
đàn hương, tô hạp hương, an tức hương, huân lục hương. Ở bốn cửa đàn, mỗi
cửa an hai bình, hoặc đầy nước tịnh thủy, hoặc lại đầy sữa, đèn thắp mười
sáu chén tùy chỗ mà an trí. Treo tràng phan, bảo cái và các âm nhạc, nước
hương thơm rưới sái nơi đất, hương hoa đồ ăn uống, mà làm lễ cúng dường. Ở
nơi đàn tứ giác, khiến người đọc tụng kinh này, thường thường tắm rửa, mặc
y thanh tịnh, ăn ba món bạch thực. Người trì cầu nguyện ấy, lấy hoa để
trong tay, hãy chấp tay lại trình bày việc mình sở cầu, khởi tâm từ niệm,
tùy lòng phát nguyện, lấy hoa ấy tán rải cúng dường Phật, có việc sở
nguyện gì đều được tùng tâm. Ở trong thời gian bảy ngày, con sẽ vì kia
hiện tướng trạng thù thắng, khiến thấy hảo mộng, cùng chung nói chuyện,
người kia tâm mong cầu đều được viên mãn, trừ lòng nghi không tin. Phật
dạy: Hay thay! Hay thay! Ông hay thương xót hữu tình mà nói chú pháp này.



Lúc ấy Quán Tự Tại Bồ Tát bảo chấp Kim Cang Bồ
Tát rằng: Kinh điển mầu nhiệm này khó có thể được gặp gỡ chúng sanh bạc
phước ở trong quốc gia kia, tuy có kinh điển này mà không được thấy, cũng
lại không thể biên chép đọc tụng, nghe học thọ trì. Bởi vì sao vậy? Do có
ác ma làm sự chướng ngại. Lại nữa thiện nam tử! Nếu có chúng sanh khi biên
chép đọc tụng kinh điển này có bốn thứ ác ma nó làm não loạn. Những gì là
bốn thứ:



1.
Là sanh lòng biếng nhác.



2.
Là khởi tâm không tin.



3.
Là đối chỗ của pháp sư không sanh tôn trọng.



4.
Là tâm không thường định.



Người này liền biết đó là ma sự.


Lại nữa có bốn nghiệp ác ma. Gì là bốn:


1.
Là xa lìa thiện tri thức.



2.
Là không như lý tác ý.



(Khởi tâm không hợp chân lý)


3.
Là không hiểu rõ văn tự.



4.
Là chỉ thấy hiện tại, nói không vị lai, tạo các ác nghiệp, lòng
không lo sợ, nói không nhân quả.



Ta nói kẻ đó còn làm những điều phi pháp, ưa
quản tục vụ, tham nhiễm ràng buộc, chúng sanh như thế sẽ đọa địa ngục,
trải vô lượng kiếp, chịu đại khổ não.



Lại nữa có bốn thứ ma. Gì là bốn:


1.
Là tham đắm tiền tài vật chất.



2.
Là gần gũi bạn ác.



3.
Là chướng ngại pháp sư.



4.
Là đối pháp sư thuyết pháp hay tìm vạch lỗi lầm.



Những chúng sanh ấy do nghiệp ác này cho nên
sẽ chịu nghèo cùng khốn khổ. Không thấy bạnh lành, xa lìa tôn sư, khởi
tướng tà kiến, nói không nhân quả. Phải đọa địa ngục chịu nhiều kịch khổ.



Phật dạy: Này đại chúng, ta nay trở lại ba
lần, nói thật mà dạy các ông rằng, chớ nên buông lung coi nhẹ kinh điển
này, phải một lòng kính thọ đừng sanh phỉ báng.



Khi ấy đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa
trên mà nói lời tụng rằng:



Ta từng tuyên nói các Vương kinh,


Khiến các chúng sanh đắc Chánh giác


Nay đây lại nói chơn diệu điển,


Ông nghe cung kính khéo tu hành.


Về sau khỏi chịu cực thống khổ,


Ðọa nơi địa ngục trải nhiều kiếp.


Hãy đối kinh này sanh tín tâm,


Ðời đời thường làm Chơn tử ta


Còn lại cúng dường kinh điển này


Sẽ được sanh sang về cõi Tịnh.


Hiện không La Sát quỷ thần khi,


Cũng không các ác đến nhiễm xâm.


Nếu Vương kinh này ở chỗ nào,


Không các tai ách hay hại người.


Cầu nguyện việc chi thảy tùy tâm,


An vui mau đến đạo Bồ đề.





Khi ấy Tứ Thiên Vương nghe tụng này rồi rơi lệ
buồn khóc, khắp thân run rẩy, lễ hai chân Phật, bạch thưa Thế Tôn: Chúng
con Tứ Thiên Vương, nếu thấy pháp sư thủ trì kinh này, con sẽ cúng dường
khi họ thuyết pháp, đến các người nghe đều được phò hộ. Nếu có quốc vương
đối kinh điển này biên chép đọc tụng, thọ trì cúng dường, con sẽ ủng hộ
bảo vệ cho đến nhơn dân trong nước đó, cơi như con một, cũng đem y phục
anh lạc mà cung cấp, khiến cõi nước kia giàu có tài bảo, không còn kém
thiếu, nếu khi chiến trận thường khiến đắc thắng. Nghĩ báo ân Phật, con
không biếng nhác. Bạch đức Thế Tôn! Nếu lại có người nghe kinh điển này
không sanh tín tâm cúng dường pháp sư. Con đối với người ấy không có
phương tiện gì mà cứu thoát họ, chỉ sanh lo buồn!



Phật dạy: Lành thay! Lành thay! Ông hộ Chánh
pháp hay sanh tâm ân trọng như thế.



Khi bấy giờ, Trì Quốc Thiên Vương Càn Thát Bà
chủ, từ tòa đứng dậy đảnh lễ chân Phật, chấp tay cung kính mà bạch Phật
rằng: Thưa đức Thế Tôn! Về đời sau này có các chúng sanh thường làm không
lành, không tin Như Lai, đối kinh điển này không thể cúng dường viết chép
đọc tụng, cũng không làm điều bố thí, không tin bố thí là hiện đời được
quả báo vui. Lòng đại từ của đức Thế Tôn vì những người không tin như vậy
mà nói kinh điển khiến cho họ thọ hành. Phật dạy: Thiện nam tử! Có hai
việc khiến các chúng sanh đọa đại địa ngục, sanh tử luân hồi: một là dâm
dục, hai là giận hờn. Lại có bốn pháp khiến các chúng sanh được sanh trong
cõi trời, người. Những gì là bốn:



1.
Là các chúng sanh tâm hành bình đẳng.



2.
Là đối ngôi Tam-Bảo sanh tâm ân trọng.



3.
Là có của riêng mình đều đem bố thí.



4.
Là kiên trì giữ gìn phạm hạnh (hạnh tốt) đừng cho khuyết phạm.



Bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này
mà nói bài tụng rằng:



Bố thí hay có đại oai thần,


Nơi ba ác thú vớt chúng khổ.


Chúng sanh bị hoặc xan, tham, si,


Các thứ nhiễm dục não lòng kia


Nghe kinh điển này không kính thọ,


Ðối trong Phật pháp không tin thí.


Xả thân thường đọa nơi ác thú,


Phải chịu vô biên đại kịch khổ.


Ích lợi Quốc chủ và nhân dân,


Ta nói kinh này đủ oai đức.


Khiến lìa bịnh dữ các tà não,


Không bị dược xoa thảy làm hại.


Nếu có tin kinh người biên chép,


Cúng dường hay sanh vô lượng phước


Hết thảy chúng sanh trí như Phật,


Nhiều kiếp nói phước không thể hết.


Nếu có kinh nơi nhiều kiếp số,


Cúng dường tất cả chư Bồ Tát.


Không bằng đối Vương kinh mầu này,


Tạm thời lòng tin viết một chữ.


Công đức trước trì so phước này,


Ðó là ức phần chẳng bằng một.


Vậy nên người trí đối kinh này,


Một lòng phụng hành không biếng trễ.





Bấy giờ Bồ Tát Quán Tự Tại bạch Phật rằng:
Thưa đức Thế Tôn! Ðời sau này nếu có kẻ trai lành và người gái tín nào đối
với kinh điển này đem lòng tin kính thâm sâu, dùng hương thơm hoa đẹp và
các đồ ăn uống, y phục, ngọa cụ, hết thảy đem cúng dường cho vị sư thuyết
pháp cho đến người biên chép đọc tụng kinh này thì người ấy hiện đời quyết
chắc sẽ thu hoạch được vô lượng phước lợi, thân họ được nhiêu ích lìa các
bịnh khổ. Trong sáu căn như nhãn v.v… được thanh tịnh không bịnh hoạn,
không gặp nạn ách nước, lửa, đói khát, cũng không bị độc dữ trúng thương,
tất cả hữu tình thấy đều vui mừng, khi mạng gần chết, thấy Ðức Phật Bất
Ðộng đến an ủi mà bảo rằng: Này thiện nam tử! Ông tu căn lành phước kia vô
luợng, trong mười phương tịnh độ Cực Lạc thế giới hãy tùy ý thọ sanh.



Lúc bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát bạch Phật rằng:
Thưa đức Thế Tôn! Lành thay! Lành thay! Ðức Thế Tôn vì muốn thương xót các
chúng sanh trong Nam Thiệm Bộ Châu cho nên Ngài nói kinh điển này. Ðời
đương lai rộng làm Phật sự lợi ích chúng sanh. Ðại Minh chú này hay trừ
tất cả cực trọng nghiệp chướng.



Phật dạy: Thiện nam tử! Ác nghiệp chúng sanh
tội kia sâu nặng, không nghe kinh này, không thể biên chép, thọ trì đọc
tụng. Nếu có chúng sanh được nghe kinh điển này chép viết thọ trì, tôn
trọng cúng dường, phải biết đó là sức oai thần của Phật. Nếu lại có người
đối với kinh điển này, hay vì người khác mà nói chừng một chữ, hãy cúng
dường người đó như Phật không khác. Bởi vì sao? Thiện nam tử! Kinh này là
quá khứ bảy ngàn chư Phật đã tuyên nói, tất cả Bồ Tát thảy đều tùy hỷ, chư
Thiên ủng hộ là Bồ Tát mẫu.



Khi ấy, Chấp Kim Cang Bồ Tát bạch Phật rằng:
Thưa đức Thế Tôn! Kinh điển này nơi đời vị lai sẽ ở chỗ nào lưu thông đầy
đủ?



Phật dạy: Thiện nam tử! Kinh đây sẽ ở trong
cung Hải Long Vương và ba mươi ba cõi trời đều có đầy đủ. Trong Nam Thiệm
Bộ Châu chỉ có phần ít tùy chỗ lưu thông. Phật dậy: Thiện nam tử! Ta nay
đem kinh điển này giao phó (phú chúc) cho ông, phải nên thọ trì, cúng
dường ủng hộ như Phật không khác. Tại chỗ lưu thông chớ khiến đoạn dứt,
lợi ích chúng sanh rộng làm Phật sự.



Chấp Kim Cang Bồ Tát bạch Phật rằng: Thưa Thế
Tôn! Con nay thọ Phật giáo sắc lưu bố kinh này, cũng lại ủng hộ trì kinh
pháp sư.



Phật dạy: Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử!
Ðây chính thật là ông đã làm Phật sự đó.



Lại nữa, Quán Tự Tại Bồ Tát bạch Phật rằng:
Thưa đức Thế Tôn! Con nay chí thành kính lễ, vi diệu kinh điển như vậy,
đối với kẻ thuyết pháp và người biên chép thảy đều cúng dường. Bạch Thế
Tôn! Nếu có nước bạc phước vô đạo quân vương, dẫu có kinh này không thể
cúng dường, cho đến pháp sư, kinh này ẩn mất. Nước kia sẽ có tai nạn ác
sự, họa biến hiện tiền. Như vậy phải biết Chánh pháp muốn diệt. Người trí
thấy rồi hãy đem tâm ân trọng cúng dường.



Phật dạy: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử!
Như lời ông đã nói, giả sử có người mãn đủ ngàn tuổi, dùng đủ thú vui,
cúng dường chư đại Bồ Tát và Thanh Văn chúng, số kia như cát sông Hằng,
lại lấy của thất bảo đồng như số cát ấy mà làm việc bố thí, sau rồi tự xả
bỏ thân. Thiện nam tử! Như phước đó so với phước cúng dường trì kinh cho
đến một câu, một chữ, trăm ngàn vạn phần kia không bằng một, huống gì đem
hết khả năng biên chép đọc tụng. Vì sao thế? Bởi kinh chú này có đại oai
lực, nếu thọ trì ấy, rõ thân không bền chắc như huyễn hóa, như chiêm bao,
biết pháp vô ngã, mong nhờ Phật thọ ký đắc được đại Bồ đề.



Khi ấy đại chúng, tất cả Bồ Tát và các thiên,
long, dược xoa, a tô la, yết lạc trà, người và phi nhơn v.v… đều cùng một
lòng, đồng thinh khen Phật: Hay thay! Hay thay! Ðây là lần thứ hai chuyển
đại pháp luân. Chúng con thảy đều cung kính cúng dường. Kinh này ở quốc độ
thành ấp nào cũng sẽ ủng hộ và người thuyết pháp ấy, nếu có chúng sanh hủy
báng kinh này, thì hiện thân đắc vô lượng trọng tội, sau khi mạng chết sẽ
đọa vào địa ngục. Con bỏ người ấy không còn ủng hộ.



Phật dạy: Thiện nam tử! Ta nay cũng đem kinh
điển này phó chúc cho ông, đời sau này tuyên dương rộng rãi, chớ cho đoạn
dứt. Kinh này có lợi ích lớn, an vui trời, người, ruộng phước thêm lớn,
lìa ba ác thú. Chớ sanh nghi hoặc, thường khuyến thọ trì. Khi Phật nói
kinh này, sáu vạn bốn ngàn người đều được Vô sanh Pháp nhẫn.



Quán Tự Tại Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Thưa
đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh tín tâm biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng
dường kinh này thì người ấy khi mạng chết sẽ sanh về chỗ nào? Ðược bao
nhiêu phước?



Phật dạy: Này thiện nam tử! Ông có thể hỏi
việc phước thù thắng ấy. Người này mạng chết xa lìa ác thú thường sanh
Tịnh độ. Giả sử có người tu hành Bồ Tát hạnh, bỏ đầu, mắt, tay, chân và vợ
con, cũng lại không bằng người trì kinh điển này. Kinh này ở chỗ nào địa
phương nào chính đó là tháp, đều nên cúng dường.



Quán Tự Tại Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Thưa
đức Thế Tôn! Về đời sau người trì kinh này, con vì họ thọ ký, tiêu diệt
ngũ nghịch cực trọng tội chướng, trong chín vạn kiếp thường được giàu
sang, nơi tám vạn kiếp làm Chuyển Luân Thánh vương.



Phật dạy: Như vậy! Như vậy! Thiện nam tử! Ta
nhớ thời quá khứ vô lượng kiếp, có đức Phật Thế Tôn gọi là Vô Biên Công
Ðức Pháp Trí Thanh Tịnh Tinh Tú Vương Như Lai. Ta khi bấy giờ làm Bà la
môn, nơi chỗ Ðức Phật kia được nghe kinh này, thọ trì đọc tụng đắc pháp
Nhãn tịnh. Những kẻ đồng nghe từ đó về sau không đọa ác thú, lần lượt sẽ
được Vô thượng Bồ đề. Thiện nam tử! Ta trong vô lượng nhiều đại kiếp, vì
pháp này mà bỏ các tài bảo, đầu, mắt, tay, chân, vợ con, thành, ấp, tu
tịnh phạm hạnh không lòng hối não. Các ông cũng nên như vậy tu tập.



Khi ấy đại chúng nghe nói việc khổ hạnh quá
khứ, thảy đều rơi lệ buồn khóc, mà bạch Phật rằng: Hy hữu Thế Tôn! Ðời sau
đây có ai hay thọ trì, đọc tụng, cúng dường kinh điển này thì được phước
vô lượng. Nếu có Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di v.v… đối với
vương kinh này mà không hay đọc tụng, Ðà Ra Ni chú cũng không chịu thọ
trì, lại cũng không siêng năng tu lục độ, nơi kẻ khổ não, không lòng lân
mẫn. Người như thế đó nơi vô lượng kiếp đọa trong biển sanh tử, chịu nhiều
khổ não. Thiện nam tử! Thí như người phụ nhơn, thân mạng chửa nặng cho đến
mười tháng, khi ấy phụ nhơn lại thêm bịnh khổ, thân thể chi tiết đau nhức
dường như dao cắt, không thể uống ăn. Khi muốn sanh nở chịu đại kịch khổ,
mà nghĩ như vầy: Nếu tôi qua khỏi nạn này, vĩnh viễn không còn dâm dục,
thường tu phạm hạnh. Sau mới vừa sanh lại làm ác pháp, bèn quên khi trước
khổ hoạn thống thiết. Thiện nam tử! Ðời sau này chúng sanh ngu si cũng lại
như thế! Không tin kinh này, cũng không đọc tụng, bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, tu định, tu huệ, tham đắm dục tình, ưa việc thế gian,
không tu nhơn hạnh ba nghiệp thanh tịnh. Những chúng sanh này đọa địa ngục
rồi, sanh lòng hối hận. Như người phụ nhơn thân mang dạ chửa, lại gặp cực
khổ, chịu khổ não rồi, từ địa ngục ra đã được thân người, ham đắm ngũ dục.
Ðịa ngục khổ kia không hay ghi nhớ, lại tạo nghiệp dữ.



Thiện nam tử! Thí như có người ham ưa uống
rượu, uống rồi hôn mê, không biết xứ nhà, Phật Pháp Tăng bảo, cha mẹ vợ
con, từng không nhớ nghĩ, không lòng cung kính, do rượu hôn mê, sa vào
những chỗ thi lâm hiểm nạn cũng không lòng lo lắng sợ sệt, lại nghĩ như
vầy: Ðâu có loại trời, rồng, dược xoa hay làm ta sợ. Người hay như thế,
tuy nơi khi ấy thân mình nằm lăn trên gai bén nhọn lại tưởng là vui. Sau
khi tỉnh rượu ôm lòng hối tiếc, tự biết phi pháp , nói ta từ nay cho đến
khi chết không dám uống rượu làm các lỗi lầm. Sau gặp ác duyên trở lại
tham uống đồng như trước kia tạo các tội lỗi. Ngu si hữu tình cũng lại như
thế! Do tham nhiễm ấy chứa nhiều tiền của, làm điều kiêu mạn buông lung
phóng dật, không nhớ nghĩ Tam-Bảo, trái bỏ tôn thân, cung không tu hành
thí giới nhẫn nhục v.v… không muốn mong cầu cõi Phật tịnh độ. Những hữu
tình này thường ở trong biển khổ sanh tử không có kỳ hẹn, đọa trong địa
ngục thọ khổ lâu dài, dẫu được làm người khi ở bào thai chịu các khổ não,
thân bị bức bách liền lại nghĩ rằng: Ta nếu được khởi các ách nạn này, lại
không làm tội để chịu cực khổ, thường tu nghiệp lành, nguyện sanh tịnh độ,
kia được thân người do tánh ngu si, làm các tội nghiệp, trở đọa ác đạo.
Vậy nên các ông phải khéo tu hành chớ có buông lung, đây là lời tóm lược
của ta.



Khi ấy, Cù Thọ A Nan Ðà bạch Phật rằng: Thưa
Thế Tôn! Kinh này lại có tên gì? Làm thế nào thọ trì?



Phật dạy: Kinh này gồm có năm tên:


1.
Là tên Cứu tất cả chúng sanh khổ ách.



2.
Là tên Bồ Tát chơn thật đã hỏi.



3.
Là tên Thần thông Trang Nghiêm Vương.



4.
Là tên Hay thành chư Phật Chánh Giác.



5.
Là tên Tất cả pháp Công Ðức Trang Nghiêm Vương.



Phật nói kinh này rồi, các đại Bồ Tát và chúng
Thanh Văn, thiên, long, dược xoa, a tô la, càn thát bà, người và phi nhân
thảy đều đại vui mừng tín thọ phụng hành.
Về Đầu Trang Go down
 
KINH NHẤT THIẾT CÔNG ÐỨC TRANG NGHIÊM VƯƠNG
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Cung cấp máy móc,phụ tùng ,thiết bị thay thế máy thủy , ca nô...
» [Giới thiệu tác phẩm] Tomie
» Tâm lý kinh doanh
» Thiết bị trên boong
» Thiển cận...

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu! :: >>>Mật Tông-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog