WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 PHẬT TÂM KINH PHẨM

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003501
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: PHẬT TÂM KINH PHẨM   17/1/2010, 10:03

MẬT
TẠNG VIỆT NAM
SỐ 19






PHẬT
TÂM KINH PHẨM



(
Cũng
thông với Đà
La Ni Đại Tùy Cầu )






Mật Tạng Bộ 2 . No-
920
( Tr.02 - Tr.08 )








Quyển Thượng







Tam Tạng Bồ
Đề Lưu Chi phụng chiếu dịch Phạn ra Hán



Sa môn Thích
Quảng Trí dịch từ Hán ra Việt văn.








Ta nghe như thế này: Một thời Phật trú tại đỉnh núi Kim Cang nước Cu
Diễm Di, xem khắp mười phương thấy toàn là màu sắc như lửa cháy.
Thấy thế, Đức Phật khẽ thở dài nghĩ thương chúng sanh sai đường lạc
lối, lấy gì cứu thoát; đang suy nghĩ như thế, thời thế giới của Chư
Phật, cảnh giới của Bồ Tát, trên đến Ba mươi ba cõi Trời, dưới đến
tận cùng Kim Cang Tế, cung điện của các Ma thảy đều rung rinh. Đồng
thời, ba đời Chư Phật thảy đều suy nghĩ như vậy, lại các Bồ Tát nơi
tự tâm bất động, các hàng Kim Cang khiến các quyến thuộc làm các
Kim Cang sự nghiệp không thể ngồi yên nơi tòa, bay đi khắp mười
phương. Các hàng Chư Thiên, Tiên, Ma đều sợ sệt không
biết chạy nơi nào. Bấy giờ có mười Bồ Tát Kim Cang Tạng sửa
sang y phục, bạch Phật rằng:“Bạch Thế Tôn !
Đây là điềm gì ? Là Thiện hay là Ác ?”




Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lo suy nghĩ nên không
trả lời. Khi đó, ở trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Kim Cang Mẫn
bảo Bồ tát Kim Cang Tạng rằng:“ Đây là tướng
không tốt. Nay Phật đang nhập Từ bi Tam muội,
nên cần tịnh tâm chờ Phật giải thích"




Bấy giờ, lại có một vị Bồ Tát gọi là Đức Tạng hỏi Bồ tát Kim Cang
Mẫn rằng: “Vì sao gọi là Từ bi Tam muội ? ” .




Bồ Tát Kim Cang Mẫn đáp rằng:“ Lành thay!
Lành thay! Các ông có biết chúng sanh đang bị đắm chìm
trong vô minh hay không? Ta vì tất cả chúng sanh không biết được
Pháp, không biết được tâm, không tự điều phục, bị các Ma sai sử,
lấy gì để cứu hộ, lấy gì để nhiếp phục các độc” .




Liền đó, tức có ba chục ngàn vạn ức Bồ Tát đều là các Bậc Quán
Đảnh Đại Pháp Vương Tử, đầy đủ đại oai đức tự tại, lại bạch Phật
rằng:“ Bạch Thế Tôn! Bọn chúng con có thể làm
được gì không ?”.




Phật trả lời: “ Không được” .




Lại có trăm ngàn hằng hà sa số thế giới Kim Cang Mật Tích, mỗi vị
Mật Tích có bốn Thiên hạ Lực sĩ cũng
bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn ! Còn chúng con có thể làm được chăng ?”.




Phật bảo:“Không được ?” .




Lại các vị Đại Tự Tại Thiên trong tất cả Thế giới hay biến thân
làm Phật, lại bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn!
Sức biến hóa của chúng con có thể nhiếp được chăng?”.




Phật bảo:“ Sức huyễn hoặc của các ông cũng
không thể được”.




Lúc ấy, trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Bảo Đức bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn! Tất cả chư Bồ Tát, Kim Cang, Thiên
Tiên, cũng không ai nhiếp phục. Nay Thế Tôn
lấy gì để cứu chúng sanh ra khỏi các nạn? ”.




Thời Đức Thế Tôn bảo Bồ Tát Bảo Đức rằng: “Chỉ có thần lực của
Như Lai Tâm Trung Tâm là không thể sánh kịp.Vì sao vậy? Vì hay khiến
các Ma sanh lòng từ mẫn, hay khiến các Pháp hiện tiền, Chư Phật
thường không xa lìa, hay khiến Chư Bồ Tát làm quyến thuộc, các Kim
Cang ban cho oai lực, hay khiến Chư Thiên thường luôn ủng hộ, các Đại
Dạ Xoa, La Sát làm người trị Pháp, lại hay khiến tất cả các Đại Ma
Thần sanh lòng hoan hỷ, hay khiến hành giả sức như Phật, tâm như
Phật, trí như Phật, oai như Phật, hay khiến hành giả ra làm việc gì
đều được tùy tâm, hay chặt đứt tất cả chướng nạn. Đế Thích, Phạm
Vương đều theo phò trì, khiến cho đến Bồ Tát trọn không thối chuyển,
tất cả sự nghiệp thế gian đều tự hiểu biết, cho đến tất cả quá
khứ, hiện tại, vị lai, tất cả thế giới có thông không thông, có trí
không trí, hiền hay không hiền thảy đều quy phục".




Bấy giờ, Đại chúng nghe xong thảy đều muốn dược nghe.

Bỗng nhiên, ở nơi đại chúng phát ánh sáng rực rỡ hơn trăm ngàn mặt
trời .




Bồ Tát Bảo Đức lại bạch Phật rằng:“ Bạch Thế
Tôn ! Vì nhân duyên gì mà có ánh sáng này ?”.




Phật bảo: “ Đây là ánh sáng hoan hỷ từ Tâm
Trung Tâm sanh ra, ánh sáng này không có hạn lượng, không thể xưng
tán, ca vịnh, cũng không ấn khả được. Vì sao vậy?

Vì đồng với Chư Phật vô ấn khả, đồng với Như Lai vô sở đắc, và tất
cả các tướng cũng đều vô kiến vậy! Hay gìn giữ các căn không xả
ly, khiến các Ma không sai sử và thường ngăn các đạo Ma chướng ngại
vậy! Do các nhân duyên trên, nên gọi là Tâm Trung Tâm” .




Bấy giờ tất cả Đại chúng đều bạch Phật rằng:“
Chúng con đã từng theo Phật tu hành, chưa từng được nghe ca tụng công
đức đại oai thần lực như vậy. Cúi xin Thế Tôn vì chúng con mà nói
Chương cú tu chứng Giác địa, giúp chúng con được thọ trì Pháp này” .




Khi đó, Đức Như Lai bảo rằng: “ Này các Thiện
Nam Tử ! Nay Ta sẽ nói, muốn tu thành Phật thì có
mười cách nhất định sau đây sẽ thành tựu. Thế
nào là mười?




- Thứ nhất: Trì tâm bình đẳng, nơi Pháp không nghi, nơi Phật sanh
tín, sanh lòng thương xót chúng sanh, không đắm sắc dục.




- Thứ hai: Trì giới không phạm, thường nhiếp tâm không nói
láo, hay giúp cho chúng sanh đoạn trừ ngã mạn.




- Thứ ba: Không làm ác, không được sát hại, không ăn ác thực
(thịt, cá v.v...), thường xét kỹ mình không thấy lỗi của người.




- Thứ tư: Ở nơi các Pháp không sanh phỉ báng, dùng Phật Pháp
ngăn ngừa tội lỗi, ở nơi Chư Tăng xem như cha mẹ.




- Thứ năm: Không quên lời nguyện, đối với giàu nghèo có tâm
bình đẳng, hay tùy thuận người.




- Thứ sáu: Lời Phật nhớ kỹ, tu các Pháp cần cố giữ gìn, có
người cầu xin thì phải dạy bảo, không cần xem xét căn Thượng, Trung,
Hạ.




- Thứ bảy: Trì các ấn khế, không được dơ uế, không kết trái
thời, không vì khen hay lợi lộc mà kết ấn, không lìa bỏ chúng sanh.




- Thứ tám: Nơi tất cả không tham lam, không đoạt lý làm ác, không
dua nịnh , giữ gìn Phật Pháp như giữ thân mạng,
cho đến dẫu đói nghèo cũng không sanh hai lòng.





- Thứ chín
: Thường cứu các
nạn không được thối tâm, trừ kẻ không chí thành, không được khinh
hay phỉ báng Pháp hoặc khiến kẻ khác cũng làm như vậy, thường phải
chân thật nói lời mềm mỏng, hay thích việc lành, lòng đầy Từ bi.




- Thứ mười: Diệt trừ các tà hạnh, lòng tin bền chắc không từ
lao nhọc, trong đại chúng có Thiện trí thức cần
nên lễ bái và thường gần gũi. Nếu nơi suối rừng thanh tịnh, tự có
phát nguyện rộng cũng không được quên lãng, luôn luôn nhớ niệm,
không khởi các tà kiến,.




Như vậy, mười điều khiến người tu trì quyết định được bất thối
chuyển, mau đến Bồ đề, thành Bồ Tát, chứng thân Kim Cang không khó”.




Khi ấy, các vị Bồ Tát nghe Phật dạy xong,
đồng bạch Phật rằng:“Bạch Thế Tôn! Chúng con xin nguyện tu học, cúi
mong Thế Tôn lấy tâm Đại bi nói Thần chú này, đệ tử chúng con muốn
được thọ trì” .



Phật
bảo:“ Các Thiện nam tử ! Lắng nghe ! Lắng

nghe ! Ta sẽ vì các ông mà nói”
.




Thời Đức Như Lai dùng Bồ Đề Tâm khế, khiến cả đại chúng tâm không
vọng động, mà nói chú rằng :




- Úm- bạt ra bạt ra sam bạt ra sam bạt ra ấn địa lặc da vi du đạt nễ
hàm hàm rô rô giá lệ ca rô giá lệ ta phạ ha .





(OM- BHARA BHARA SAMBHARA SAMBHARA INDRIYA VI’SODHANE
HÙM HÙM RURU CALE KURU CALE SVÀHA).Ø




¯ Thứ nhất, kết Ấn Bồ Đề Tâm Khế :



Trước hết, hai tay hai ngón vô danh co lại để nơi lưng hai ngón giữa,
hai ngón cái vịn đầu móng hai ngón út, hai ngón trỏ co lại móc đầu
hai ngón vô danh, chắp tay lại để nơi tim tức thành .




Nếu có người kết Ấn khế này, tức được
tâm Bồ đề, đầy đủ trí của Bồ Tát, đầy đủ các môn Ba La Mật ở nơi
tâm. Tất cả Pháp môn bí mật của Chư Phật và Bồ Tát đều do Ấn này mà
thành. Ở nơi tịnh thất, thọ trì Ấn khế này trải qua bảy ngày, tất
cả Pháp yếu đều hiện tiền, tất cả Ma đạo, chúng sanh, đạo quỷ
thần, đạo ẩn hình dấu thân, trì Ấn khế này tức biết được chỗ ở
của họ, khiến không thể biến hóa ẩn dấu được Các Thiện nam tử,
nếu được Ấn khế này, vừa khởi niệm liền có mười phương Chư Phật
vân tập trên đảnh, khởi niệm tức có mười phương Bồ Tát làm Thị
giả, mười phương các Kim Cang theo sai khiến, mười phương Chư Thiên gần
gũi cúng dường. Tất cả loài Ma và quyến thuộc bỏ chỗ ở, lại giúp
cho Pháp thành tựu, tất cả Tỳ Na Dạ Ca cũng đều lại cúng dường.
Các Thiện nam tử! Nếu muốn hàng phục cácMa oán ngoại đạo, trước
kết Ấn khế chú 21 biến để nơi tim, đứng thẳng xoay bên trái một
vòng; đại địa tức thời rung rinh, tất cả loài Ma liền ẩn trốn xuống
đất không dám xuất hiện, nếu có xuất hiện là do Phật thương xót cho
phép, tâm không dám oán giận. Người trì chú không
được giận dữ, vì như vậy Chư Phật không hoan hỷ, mười phương không
yên. Ấn khế này là đầu Chư Phật, mẹ của các Pháp, vua của
các ấn, mười phương Chư Phật do đây sanh ra, như Chư Phật Thế Tôn
không ai dám vượt qua, cần phải xét kỹ không được lạm dụng, xem việc lớn nhỏ mà dùng. Nếu muốn
trì các Pháp, trước lấyẤn khế này làm đầu. Không có Ấn khế
này, các Pháp như không có chủ; dẫu có thành tựu, thân tâm cũng
không quyết định, chư Thần không vừa ý, khiến làm các Pháp hay bị
chướng nạn, nên thật cẩn thận, không được bất tịnh dùng Ấn.




¯ Thứ hai, Ấn Bồ Đề Tâm Thành Tựu:




Còn gọi là Mười Phương Như Lai Đồng Ấn Đảnh Khế.
Trước, lấy hai tay hai ngón giữa xoa nhau phải đè trái, đầu ngón ló
ra nơi hổ khẩu, hai ngón vô danh co lại đè lưng hai ngón giữa, hai
ngón cái đầu dựa nhau dựa trên lưng hai ngón vô danh, hai ngón trỏ
cũng dựa trên lưng hai ngón vô danh đầu dính nhau; hai ngón út dựa
nhau đứng thẳng, đầu ngón dính nhau, tức thành.




Nếu các Thiện nam tử, Thiện nữ nhân được Ấn khế
này chuyển nghiệp tiêu chướng, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ
đề. Hay trì Ấn khế này, được “Văn trì bất vong”
(nghe nhớ không quên), các Pháp yếu tự nhiên hiểu biết. Từ trước tới giờ dầu chưa tu trì, khởi tâm làm việc gì
đều không sai. Khi trì tụng, có các ngoại đạo
và Ma Ba Tuần lại làm não loạn, khởi tâm liền lui. Có cầu việc gì, lấy Ấn khế chỉ đó tức lại, dù cho các
loại dùng các pháp biến hóa mê hoặc, kết khế khởi tâm liền hiện
nguyên hình. Cần dùng phục tàng trong lòng đất,
bảo châu nơi Long cung, kết khế khởi tâm tức thời đem lại. Các Pháp yếu trong mười phương thế giới, trong tâm mong
muốn, trong niệm chỉ bảo rõ ràng. Cầu việc nhỏ
không quá 3 ngày, việc lớn không quá 7 ngày. Trong
mộng Phật tự ấn đảnh, tự hộ công lực. Nếu muốn thấy Chư
Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Quỷ thần, Tinh linh v.v… kết Ấn khế nơi mắt
chú 108 biến tức thấy, cần phải an nhiên không được sợ sệt khiến
thất tâm . Nếu nơi bổn thổ có các tai họa, kết khế chú 108 biến,
lấy khế chỉ lên trời viết chữ Phật, tai họa tức tiêu trừ. Nếu trì Ấn khế bị các Ma làm não loạn, chỉ nói tiểu tặc
không quá ba lần tức bỏ đi. Tất cả bệnh tật, tai

nạn ở thế gian đều trừ không nghi, kết khế chú mãn một ngày, bệnh
cùi hủi tiêu trừ, trừ không chí tâm. Nếu cần Pháp
yếu nơi Long Tạng, kết khế kêu tên Long Vương, không quá một đêm các
Pháp tự hiện. Khi thấy được rồi phải gắng thọ
trì không được lãng quên. Nếu được, cần
phải giữ bí mật không được truyền cho phi nhân. Cẩn thận! Cẩn thận ! Phải biết việc lớn nhỏ mà
dùng khế này, việc lớn nên dùng, việc nhỏ chớ dùng, dùng sẽ mất
linh nghiệm. Nhớ kỹ, nhớ kỹ !




¯ Thứ ba, Ấn Khế Chánh Thọ Bồ Đề:




Còn gọi là Nhiếp Thọ Chư Mật Môn Khế, hay còn gọi
là Đảnh Luân Khế.




Trước lấy hai ngón vô danh để ló đầu nơi giữa hai
ngón trỏ và ngón giữa. Đầu hai ngón trỏ và hai ngón giữa dựa
nhau, đầu bằng nhau, hai ngón cái vịn tiết trên hai ngón giữa, hai
ngón út đứng thẳng, đầu dựa nhau, chắp tay lại tức thành
.




Các Thiện nam tử, muốn trì tâm pháp của Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang,
tùy theo Ấn này khởi niệm tức được Trí Bất
Động biến khắp mười phương. Là Thánh không phải Thánh, là Ma không
phải Ma, cho đến các Thiên Tiên, Tứ Thánh quả, Đại Quỷ Thần v.v... đồng thời ấn Bổn Tôn tức được khế hợp. Tất cả sự
nghiệp nơi thế gian, phải hay không phải, do Ấn này đồng tâm Phật
không khác.Vì sao vậy? Vì được Tam muội của Chư Phật, các Bí tạng của
Chư Phật, đều do Ấn này nhiếp hết; các Phật Đảnh Luân cũng do đây
mà thành; các Kim Cang cũng do đây mà an trụ; tất cả chúng Thánh
đều lại quy y; tất cả các ác đều hướng thiện và đều tự nhiếp tâm
vậy; tất cả các chướng tự nhiên tiêu trừ; Thiên Ma Ba Tuần tự
nhiên hàng phục; Lõa hình ngoại đạo tự biết xấu hổ; tất cả Long
Tạng tự nhiên khai mở; tất cả các Thần phục tàng tự đem ban cho;
Long Vương bảo châu tự nhiên xuất hiện; Diêm La Thiên Tử, Ngũ đạo
thần quan tự lại sám hối. Tất cả các Pháp không hiện tiền do Ấn
này tự nhiên hiện tiền; tất cả các Pháp môn hoặc thuận hoặc nghịch
của Phật, Bồ Tát tự nhiên hiểu biết; tất cả oai quang của Chư Bồ
Tát không che được thân hành giả vậy; việc nhỏ hay lớn cầu nguyện
đều được. Nếu có kẻ trai lành, người gái tín được Ấn khế này thọ
trì, trước phải tịnh tâm không cho tán loạn, thường ở nơi Định, trước
thọ Tam quy và các Tâm giới, sau kết ấn khế này. Ngay
lúc đó, Địa thần ở mười phương bưng lư hương cúng dường hành giả.
Đế Thích Phạm Vương hiện ra trước mặt, nói rõ các
bổn nguyện giữ gìn. Các Đại Thần Vương ở hai
bên làm chứng minh. Quán Đảnh Luân Vương và các Thần Chấp Kim
Cang ở trước sau, tay cầm phất giữ gìn
hành giả. Các Đức Như Lai ở mười phương phóng bạch
hào quang chiếu thân hành giả. Các Kim Cang
Tạng ở trên hư không mưa các hoa báu an ủy hành giả. Trong hào quang có Hóa Phật cầm ấn Đại Pháp Luân, hành
giả được ấn đảnh rồi, các môn Phật Pháp đều tự hiểu biết.

Nếu muốn kết Ấn khế này, thiêu ba thứ hương, một là Đàn hương, hai
là Huân Lục hương, ba là Trầm hương, mỗi khi thiêu hương, ba đời Chư
Phật đều hiện trước mắt. Muốn triệu Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang,
Thiên Địa Thần kỳ, Nhật nguyệt Tinh tú, Ngũ đạo phù quan, Tư mạng Tư
lục, kết Ấn khế này chú 21 biến, vận tâm khắp mười phương làm ba
lần, tất cả đều đến. Nếu muốn triệu mười phương các Thần Bảo tàng,
Long Tàng, Phục Tàng, kết Ấn chỉ lên trời, liền hiện trước mặt. Nếu
muốn sai khiến Thần quỷ, Kim cang, Thiên Thần, Bồ Tát, cho đến tất
cả các bậc có đạo lực, kết Khế để nơi miệng đọc thầm 7 lần hoặc
21 lần, tức thời hiện tiền tùy ý sai sử. Mỗi ngày không luận đêm
ngày sáng chiều, kết Khế tụng 1000 lần, mười phương Như Lai tức hộ
công lực. Các loại Nội đạo, Ngoại đạo, các loại có Pháp thuật làm
huyễn hoặc, muốn phá khởi tâm tức phá.Tất cả các loại tật bệnh,
dùng tâm Đại bi mà cứu hộ đều được trừ lành. Có các bệnh khổ lại
cầu cứu, không cần đi, chỉ kết Ấn khế miệng bảo:“
Hãy đến bên bệnh nhân” tức có Thánh giả tự biến hóa thân lại mà
trị. Muốn dùng Pháp này cần phải nén hơi thì thầm,
không được bất tịnh dùng Pháp, nếu có bất tịnh các Pháp không
thành. Nếu các ấn Pháp trì lâu không thành, kết Ấn khế này
ngày tụng 1000 lần, không quá 7 ngày tức thành tựu. Không
được tiết lộ, nhớ lấy, nhớ lấy, không được truyền phi khí nhân.
Cần khổ luyện qua 21 ngày, được thành Phật, Bồ Tát .




¯ Thứ tư, Như Lai Mẫu Kheá:




Còn gọi Kim Cang Mẫu, còn gọi Bồ Tát Mẫu, còn gọi Chư Phật Trí Mẫu,
Chư Pháp Mẫu, Chư Ấn Mẫu, Tự Tại Thiên Mẫu, còn gọi Khế Trì Mẫu,
Tổng Trì Mẫu.




Hai tay chắp lại, hai ngón út trong lòng bàn tay, hai ngón trỏ như câu
hai đầu ngón út, hai ngón cái áp lên lóng giữa hai ngón trỏ, hai ngón
vô danh đứng thẳng đầu dựa nhau, hai ngón giữa đặt lên lưng hai ngón
vô danh, đầu bốn ngón bằng nhau, chắp cổ tay lại tức thành.




Ngồi Kiết già phu, tụng Chú nho nhỏ tức linh nghiệm.
Nếu có kẻ trai lành, người gái tín muốn trì Ấn khế này, tâm niệm
mười phương Chư Phật 7 lần, sau đó kết Ấn. Ngày Rằm
kết Ấn tụng vạn biến, mười phương thế giới tất cả tự tại Pháp môn
tức thời hiện tiền, cho đến ba mươi ba cõi trời cần đến, tức đến
không sai khác. Chư Phật trường sanh ta cũng
trường sanh. Chư Phật thành đạo, ta cũng thành
đạo. Chư Phật vô ngại, ta cũng vô ngại.

Chư Phật hóa thân, phóng quang, tịch định, tam muội, thuyết pháp, không
ăn, thì ta cũng hóa thân, phóng quang, tịch định, tam muội, thuyết
pháp, không ăn; cho đến tất cả việc gì Chư Phật làm, ta cũng có thể
làm như vậy.Vì sao thế ? Vì ở
trong tám loại Mẫu và tám tự tại, Chư Phật thường nói tám tự tại.
Ta cũng từ trong đó mà ra không khác. Khế ấn này hay nhiếp lực tự
tại trong tám phương, mỗi mỗi phương giới đều có tám tùy tâm. Tám
loại như sau: Một Tùy tâm biến hóa, hai là Tùy tâm từ bi, ba là Tùy
tâm cứu khổ, bốn là Tùy tâm thuyết pháp, năm là Tùy tâm tự tại
thuận nghịch, sáu là Tùy tâm Nhiếp chư yếu khế tự lai tương trục,
bảy là Tùy tâm mà tất cả độc ác khiến đều hướng thiện cho đến
thành Phật không thốùi chuyển, tám là Tùy tâm mà tất cả quả báo
phước đức ở nơi thế gian cần cho thì cho, cần bỏ thì bỏ cần tu thì tu,
muốn thành tức thành, muốn phá tức phá. Này Thiện
nam tử, như vậy trong các loại Tùy tâm, mỗi loại đều có trăm ngàn
việc tùy tâm không thể nói hết. nếu có
cầu việc gì sáng chiều kết Khế ấn mà cầu đều, nếu không như vậy
Chư Phật tức vọng ngôn. Nếu có kẻ trai lành người gái tín muốn trì
Ấn khế này, cầu Phật vị, cầu Bồ tát vị, cầu Kim Cang vị, Thiên thần
vị, cầu hiện mười phương, cầu sanh Tây phương, cầu sanh hạ phương, cầu
sanh trong mười phương tự tại, cầu trí thế gian biện luận giỏi v.v… chỉ
cần chí tâm suy nghĩ việc đó, ngày tụng
1000 biến, trong bảy ngày tức được một lần ra khỏi, không có trở
lại. Vì sao vậy? Vì đồng thân Phật được Phật
thần thông, vì đồng tâm Phật được Phật từ vậy, vì đồng Phật nhãn
thấy như Phật, vì đồng Phật lực được Phật giữ gìn, vì đồng Phật hành
ở nơi thế gian, vì đồng Phật ấn gần gủi lãnh thọ, vì biến hóa đồng
với Chư Phật, vì được Pháp thân nên chư Ma Ngoại đạo tự hàng phục;
lấy gì hàng phục? Thấy hai thân tức thấy một thân,
thấy hai Phật tức thấy một Phật. Thiện nam tử! nên biết Khế này chỉ Phật với Phật mới có kẻ nhớ
trì, không phải kẻ sơ tâm, không phải Kim Cang. Phật
chỉ cho Khế này, không phải là kẻ hạ căn vậy. Thiện nam tử,
nếu đem Khế này mười phương thế giới các chỗ thông linh, không có gì
không biết, không gì không nhiếp thọ được, không ai không đảnh lễ,
không ai không theo, không ai không ủng hộ.
Mười phương Như Lai thảy đều ấn khả, làm cho trăm ngàn hằng hà sa số
thế giới, đại địa thảy đều tràn ngập, núi Tu Di nát như bụi, chỉ có
Phật thân là không thay đổi. Nên biết Khế này Chư
Phật nắm giữ, nếu có Bồ Tát không từ nơi Phật thọ Khế này mà
biết là điều vô lý, hết cả thế giới Chư Thiên không thể thấy nghe
được. Vì sao vậy? Vì chư Phật cho không
vậy!




Thiện nam tử! Nên biết Khế này có vô lượng lực.
Nếu hay chí thành, trì qua ba ngày, đại địa chấn động như Phật ra đời,
ánh sáng mặt trời mặt trăng tự nhiên lu mờ.Vì
sao vậy? Vì do oai lực của Khế. Thiện nam tử! Kết Khế ấn này của Ta,
mọi việc làm Ta chỉ là phụ thuộc; đồng như tâm Ta, Ta cũng chỉ phụ
thuộc; đầy đủ Đại từ bi, Ta cũng chỉ là phụ; trưởng dưỡng Pháp
tánh, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay độ chúng sinh cho đến Bồ đề, Ta cũng
chỉ phụ thuộc; y theo kinh giáo nhớ nghĩ nơi tâm, Ta cũng chỉ phụ
thuộc; hay vì chúng sanh làm việc quyết dịnh, Ta cũng chỉ phụ thuộc;
hay khiến chúng sanh tu hành giới hạnh, đối với chúng sanh làm các
chế ước (điều kiện giao hẹn) khiến không dám sai, Ta cũng chỉ là phụ
thuộc. Thiện nam tử! Nên biết Khế này, trì tụng trăm
lần đưa lên đến đầu tức hay phóng quang, vì Khế này là tâm Như Lai.
Kết Khế, trì trăm biến tự được tâm Phật. Nên biết Khế này là mắt
Như Lai, trì Khế trăm biến đưa để nơi mắt trái tức thấy như Phật, đưa
để nơi mắt phải tức thấy như Bồ Tát, đưa để giữa chân mày tức
thấy như thần thông Kim Cang bất hoại. Thiện nam tử! Nên biết Ấn này
là thần thông biến hóa của Như Lai, kết Khế trì trăm lần để đùi
bên trái tức đồng vô biên thân Như Lai, ở trong thân quán thấy
chúng sanh đầy đủ tự tại. Đưa Ấn nơi đùi phải, tức
chuyển đại địa vào trong thân. Thiện nam tử! Nên biết Ấn này
là Như Lai thần túc vô ngại, kết Ấn khế trì trăm lần trên dưới tám
hướng, tức thời xuất hiện đều không quá bảy bước, nên biết Khế
này đồng Như Lai ngữ. Trì Khế trăm lần để nơi miệng khi nói Pháp
yếu, đồng như Phật nói, tất cả đều hợp khế kinh, nên biết Khế
này là Như Lai đảnh luân.Trì Khế trăm lần hay vì ác nghiệp
chúng sanh làm đại phước điền, làm thiện nghiệp chúng sanh chứng quả
Thọ ký. Nên biết Khế này, giả sử Chư Phật đồng thời ra đời, thần
lực cũng như Chư Phật, vì thế Khế này không thể nghĩ bàn. Nếu tu trì cần phải trân trọng, không được truyền cho phi
khí nhân. Vì sao vậy? Vì Ta
tự bảo hộ. Nếu truyền cho phi khí nhân tức đồng phỉ báng Ta,
nếu phỉ báng thì làm sao mà được xuất ly; nếu không xuất ly, làm sao
thấy và nghe được danh hiệu mười phương Chư Phật, làm thế nào thấy
được Pháp thân Chư Phật, vĩnh kiếp không được Chư Phật hộ niệm; một
khi đọa vào Địa ngục, mười hằng hà sa kiếp mới được ra khỏi, khi ra
khỏi Địa ngục phải qua trăm ngàn kiếp làm thân đui mù. Cho nên, phải
biết Ấn khế này cần trân trọng tu trì không dùng bừa bãi.Thọ pháp
Sám hối, trừ nạn cứu khổ, nhiếp chướng, độ người, hàng ma, chế độc
mới dùng, việc nhỏ dùng Pháp này không thành tựu, tức thất nghiệm.

Nếy thường y như trên mà làm, tức tự thành nghiệm.
Giả sử Ta có nói rộng hết nghĩa lý bao trùm khắp đại địa cũng không
thể nào hết được .




¯ Thứ năm, Ấn khế Như Lai Thiện Tập Đà La Ni:



Còn gọi là Nhiếp
Nhất Thiết Bồ Tát Khế, hay còn gọi là Nhiếp Nhất Thiết Kim Cang
Tạng Khế, Pháp Thân Khế, Tập Nhất Thiết Đà La Ni Thần Tạng Khế,
Tập Nhất Thiết Oai Lực Tự Tại Khế.



Chắp hai tay lại, hai
ngón giữa phải đè trái xoa nhau trong lòng bàn tay, hai ngón cái trái
đè phải vịn ngón giữa như cái vòng, hai ngón vô danh, hai ngón út
đứng thẳng đầu dựa nhau, hai ngón trỏ vịn hai ngón vô danh vặn tiết
trên tức thành.




Nếu có kẻ trai lành, người gái tín muốn trì Khế này, nơi sớm chiều
chí tâm xưng niệm Chư Phật trong ba đời, mặt ngó mười phương nói Pháp
Tam Quy, súc miệng rửa tay cho sạch sẽ, sau đó kết Ấn, bế tâm tịnh
tọa, trong tâm tự biết lời của Chư Phật trong mười phương, một lòng
nhớ nghĩ chứng Chư Phật tâm, lời lẽ Chư Phật từ đó mà ra, biến khắp
thế giới chỗ có các Đà La Ni Pháp môn, hết thảy Đà La Ni
thần, trăm vạn ức Kim Cang Tạng Vương, trăm vạn ức thế giới Bồ Tát
Ma Ha Tát và Chư Phật Đà La Ni, Long Tạng, Nhật Tạng, Nguyệt Tạng, Địa
Tạng, A Tu La Tạng, Phục Tạng, Bảo Tạng, Chư Phật bí mật cho đến tất
cả Tạng Từ bi của Chư Phật đều tự khai mở trước mắt, biến khắp
mười phương thế giới chỗ có các Tạng Đà La Ni tự nhiên hiểu biết; hiểu
biết xong thời tất cả các Pháp Đà La Ni lấy dụng không ngại. Thiện
nam tử! Nếu muốn thọ trì Pháp này cần đốt Đàn Hương, Huân Lục Hương,
Trầm Hương v.v… y phục sạch sẽ, xong phát thệ rằng: “
Con nay thọ trì Pháp ấn này là vì tất cả chúng sanh". Phát
lời thệ xong tức kết Ấn trì đến 108 biến, tất cả Chư Phật hóa làm
trăm bách ức Thần cầm các khí trượng cùng các quyến thuộc vi nhiễu
người trì chú; trăm ức Thần quân, trăm ức Quỷ quân, cùng chư Thiên
tiên thảy đều tự tập hỏi rằng:“ Có cần sai
sử điều gì, ta sẽ làm cho không dám trái”, chỗ cần làm đều được. Nếu chỗ cần các thất bảo, các Pháp ẩn hình và dùng Pháp
giáo hóa tứ thiên hạ có đại oai lực, các vị trên đều tự nhiên
thuận phục. Nếu không thuận, dùng Khế chỉ đó, tức trên Khế
hóa ra binh chúng cầm lửa biến khắp mười phương thế giới, các binh
chúng thân cao lớn vi nhiễu, Vua Chuyển Luân Vương dùng Ấn này thống
trị thiên hạ. Muốn được Pháp tạng, trì Ấn để nơi tim

tức có Trì Đà La Ni Vương vì nói Pháp yếu tự nhiên hiểu rõ. Muốn hàng phục ác thú, dùng Khế chỉ đó, tức thời trên
Ấn có năm con sư tử xuất hiện, ác thú tự nhiên quy phục. Xưa Như Lai ở Ma Ha Đà La quốc, dùng Ấn này hàng phục voi
điên Hộ Tài. Nếu muốn dời đổi núi non, kết Ấn khế chú 1000
biến, dùng Ấn chỉ núi ba lần chỉ đất ba lần, tức thời Địa Tạng và
Kim Cang Tế từ dưới núi vọt lên, đem núi dời qua phương khác mà tất
cả chúng sanh không hay biết, Như Lai phóng quang động địa là dùng Ấn
khế này. Nếu có tai họa, tật bệnh lưu hành, mưa gió sấm sét, mưa đá
v.v… muốn dứt, kết Ấn chú 7 lần, luân chuyển ba vòng, các tai họa
đều diệt . Nếu trì các chú lâu ngày không linh
nghiệm, nên kết Ấn này để nơi đảnh đầu, tức được tối thắng thành
tựu không nghi. Các Thiện nam tử, Như Lai
thần lực do đây mà có, Như Lai Khế ấn Pháp do đây mà ra, quá khứ
Chư Phật Pháp Tạng cũng do đây mà tập, Chư Phật nhiếp phục Bồ Tát,
Kim Cang thần lực, Chư Thiên tiên, tất cả ngoại đạo để làm phục sự
đều dùng Ấn khế nầy. Nếu tất cả các Pháp của chúng sanh không
hiểu được, kết Ấn chỉ nơi tâm kẻ kia tức hiểu rõ Chư Phật, Bồ Tát,
Kim Cang làm các việc thần thông, người không biết được đều dùng ấn
khế này. Chứng đắc Đà La Ni, làm chấn động Tam Thiên thế giới không
do Ấn khế này mà được là điều vô lý. Các Khế ấn
trì tụng phần nhiều bị khuyết phạm, đắc Khế ấn này không lo khuyết
phạm, không sợ mất Pháp, tất cả các Thánh trên từ Chư Phật dưới
đến các loại ẩn hình biến hóa đều lại cúng dường. Nếu trì Ấn này, thần lực cũng bằng Chư Phật, nếu người tu
Vô Thượng Bồ Đề dùng đó tức có oai lực. Không được truyền
cho kẻ tiểu tâm tham lam, có truyền cũng vô dụng lại khởi lòng phỉ
báng. Thiện nam tử, nên biết Ấn này là thân Chư Phật hay nhiếp các
Pháp tự thông rõ vậy, nên biết Khế này là thân Như Lai hay nhiếp
các Thánh lại ủng hộ, nên biết Khế này là Như Lai tâm nhiếp các
Pháp tạng tại nơi ý, nên biết Khế này là Như Lai thân hay nhiếp Bồ
Tát Kim Cang giúp đỡ thế gian, nên biết khế này là Như Lai thân hay
nhiếp tất cả đại thần lo việc thế gian Với Ấn khế này ta chỉ là
phụ thuộc, Khế ấn này tẩy rửa tay của chúng sanh hạ tiện vì các chúng
sanh là do Bồ Tát dạy dỗ đắc thọ ký Bồ Đề, Ta chỉ là phụ thuộc.
Lành thay ! Lành thay !

Thiện nam tử, đừng nói Chư Phật cũng do thân tâm dục, đừng khinh Ấn
này, cần nên hộ trì. Vì sao vậy? Vì Chư Phật không làm hạnh dâm dục. Chư
Phật Bồ Tát không có dâm dục, nên biết Khế này đồng với Chư Phật.
Nếu trì Ấn khế này, từng tạo nhân đọa vào địa ngục
liền khiến chúng sanh nhớ niệm tức được sanh Thiên, không có một ai
phải chịu tội khổ. Như Lai Thích Ca thị hiện bệnh
vào địa ngục cứu chúng sanh, thường dùng Khế ấn này vì không có Khế
ấn nào bằng. Nếu Ta nói kiếp kiếp không ngừng
nghỉ cũng không thể nói hết được. Nên nhớ lấy
! Nhớ lấy !




¯ Thứ sáu, Ấn khế Như Lai Ngữ:




Còn gọi là Sắc Lịnh Chư Thần Khế, Sắc Lịnh Ma Vương Ngoại Đạo Khế,
Văn Trì Bất Vong Khế, Tuyên Thuyết Chư Mật Môn Khế, Đồng Nhất Thiết
Chúng Sanh Ngôn Âm Khế, Nhất Thiết Nghịch Thuận Nhi Thuyết Vô Năng
Giá Khế .




Chắp hai tay lại nơi ngón vô danh, hai ngón út xoa nhau trong lòng bàn
tay, dùng hai ngón cái, trái đè phải vịn nơi móng hai ngón vô danh và
hai ngón út, hai ngón giữa đứng thẳng, hai ngón trỏ đứng thẳng hơi
cách 2 phân .




Nếu kẻ trai lành, người gái tín được Ấn khế này hoặc thấy hoặc
nghe, tất cả tội chướng nơi thân đều được tiêu trừ, các Pháp yếu
hoặc không phải Pháp yếu nói ra đều thành sự thực, lời nói ra sắc
triệu các việc khắp mười phương thảy đều nghe biết, trong tâm có cần
Pháp gì miệng chỉ cần nói ra: "Ta cần Pháp này,

cần lực này, cần báu này, cần thuốc này, cần món ăn
này". Tất cả các việc cần chỉ tịnh tâm kết Ấn tụng chú 1080
biến, chỗ cần các thứ tức thời chư Thần tự đem đến dâng; cho đến ba
mươi ba cõi Trời nghe lời nói cũng như Chư Phật nói đều lại cúng
dường. Các loại Dạ Xoa, La Sát, Quỷ thần ở mười phuong nếu có tâm
độc hại, nghe lời nói tâm độc tức trừ, tự lại cầu xin phát nguyện
rộng lớn:“ Chúng con xin nghe theo lời Phật không dám làm ác”. Hạ phương thế giới các Kim Cang tạng nghe lời nói, đem tòa
Kim Cang dâng lên để người trì tụng ngồi lên trên đó. Duy Ma Cật lấy Kim Cang tọa ở Đông Phương dùng Ấn khế này,
Như Lai Đa Bảo cũng dùng sức của Ấn khế này mà từ dưới đất vọt
lên, nói gì đều được không có sai chạy. Vì sao
vậy? Vì lời nói của Chư Phật biến khắp mười phương, nay lời
nói đây cũng đồng với Chư Phật không khác, dùng lời nói quyết định
như Chư Phật vậy. Các Pháp nói ra đều không sai lầm, nhớ nghĩ không
mất cũng như Chư Phật, nói ra điều gì chúng sanh nghe được đều hiểu
rõ ràng, nói đúng nói sai các chúng sanh nghe thảy đều tin theo như
nghe nói Pháp, dạy bảo việc gì chúng sanh nghe theo không có quên,
dầu có nói bậy chúng sanh cũng nghe như Chánh Pháp mà hộ trì. Nếu
có chúng sanh nào bị thất tâm thất niệm muốn chết, Chân ngôn của Ta
giúp được lại bổn tâm, khiến được chánh định, chỗ tu các pháp yếu
khiến các chúng sanh ưa nghe, lời lẽ nói ra không có vượt bực. Thiện
nam tử! Nếu trì Pháp này mãn 100 ngày, tất cả ngôn
âm thảy đều hiểu biết, nếu hay chí tâm mà không hiểu được thì Chư
Phật tức vọng ngôn. Nếu Ta nói lực của Ấn khế này không thể
so sánh, không thể nói hết cho đến tất cả quá khứ, hiện tại, vị
lai, các Thánh cũng không thể biết được sức của Ấn khế này, trì
tụng tự biết lấy. Tất cả việc đều từ trong tâm Khế
này mà sanh, không được dùng bừa bãi. Nhớ kỹ, nhớ kỹ! Chúng sanh sơ tâm không được cho thấy Ấn khế này, việc
nhỏ cấm dùng, nếu dùng khiến mất nghiệm".




Khi Đức Thế Tôn nói Pháp này xong, tất cả Bồ Tát,
Kim Cang Tạng Vương cùng các quyến thuộc đều muốn thọ trì Pháp này.
Tất cả thiên địa, đại trắc nhật, nguyệt, tinh tú đều
mất ánh sáng, tất cả Thần linh tự nhiên tiêu mất. Phật thấy
như vậy liền khẽ mỉm cười, dùng Ngữ khế chỉ mười phương giới Thiên
địa đại minh, thời các Bồ Tát tự hiện thân hình, mỗi khi cất bước,
trời đất rung rinh không đứng vững được, dùng hết thần lực cũng
không dừng được .




Bấy giờ, Như Lai liền lại nơi tòa ngồi, hỏi cùng Đại chúng: “ Để Ta
dùng Khế ấn nầy xem sao”, tức duỗi tay trái bốn ngón đưa về phía trước,
ngón cái để nơi lòng bàn tay, tay phải cũng như tay trái để nơi vế
phải, tức thời đại chúng và đại địa trở lại bình thường .




"Lành thay ! Các ông nên biết, thần lực
của Chư Phật là không thể nghĩ bàn, tâm các Bồ Tát được an ổn,
được các Pháp, có chỗ gia trì, nếu không như vậy, dầu có tu hành
cũng chẳng được gì".



Bấy giờ, Bồ tát Bảo
Đức bạch Phật rằng: “ Bạch Thế Tôn ! Khế ấn này gia trì như thế nào? Sao
Ngài không nói ra, nếu không nói ra thì cũng như có bệnh mà không
có cách cứu chữa".




Bấy giờ, Phật bảo Bồ Tát Đức Tạng rằng: “Định ấn này của Ta, tất
cả Chư Phật do đây được Định. Từ xưa đến nay, chỉ có Chư Phật mới có
Khế ấn này, còn tất cả Chư Bồ Tát Kim Cang không có, nếu có tức
đồng với Chư Phật. Sức Định lực này không có lời nào nói hết được,
vì không nói hết được nên các Pháp cũng không thể nào nói cho hết
được, không ai nói được, không ai hiểu được, chỉ Ta mới hiểu được
thôi, chỉ có quá khứ Chư Phật là hiểu được; nếu có Bồ Tát mà hiểu
được tức đồng với Chư Phật không phải là Bồ Tát ”

.




Lúc Như Lai nói lời này xong, phương dưới có một vị Bồ Tát tên là
Vô Ngại Thông từ dưới đất vọt lên trước Đức Phật buồn rầu ngồi
yên, bảo tọa cũng không có, ngồi mà thở dài không xưng tán Phật
khiến đại chúng rất là kinh quái, đều đồng hỏi Phật. Phật đáp rằng:
“Để Ta sẽ hỏi”, liền bảo Bồ Tát Vô Ngại Thông: “Ông nay sao lại
thở dài? “ .




Thời Bồ tát Vô Ngại Thông vui vẻ, tòa báu xuất hiện oai quang rực
rỡ chiếu khắp Đại chúng, từ tòa bước xuống sửa y áo đến trước
Phật bạch rằng: “Con ở nơi phương dưới, nghe Phật nói Tâm Trung Tâm
và các Ấn khế vui vẻ thọ trì được thần thông này, nay lại nơi đây.
Lành thay ! Đức Thế Tôn, xin chứng biết cho con ” .




Phật bảo: “ Ta sở chứng cho ông nên cứu giúp
chúng sanh, chỗ thấy biết đều ban cho họ. Ta sẽ đem Phật tâm ban cho,
nếu được Phật tâm ban cho tức là Mạn Đà La” .




Bồ Tát Vô Ngại Thông bạch rằng: “Thế Tôn! Người chưa thành Phật,
người không quyết định, người nhiều ràng buộc, người không Từ bi,
các hàng như trên có vào được không ?” .




Phật bảo: “ Vô Ngại ! Nay Ta nói Pháp chỉ vì
hàng hạ liệt, các hàng như trên muốn vào được Mạn Đà La, trong ngày
làm Đàn có ba viện , không cần đồ cúng, chỉ cần hương thơm; 3 cây
kích, nếu không có kích dùng 3 cây đao thay thế; 3 chén nước thơm; 3
mặt kiếng; chu vi Đàn 8 thước . Viện thứ nhất màu
trắng, viện thứ hai mà đỏ, viện thứ ba màu xanh y như 5 phương pháp.

Viện thứ nhất cầu Phật, viện thứ hai cầu Bồ Tát,
viện thứ ba cầu Kim Cang. Ngoài ra các Thiên tiên quỷ thần,
các Pháp ở nơi ngoài Đàn mà cầu, cử tâm đắc thành, không cần
nhiều ngày đã có hiệu nghiệm; không được truyền ấn; có công hiệu
nên cố gắng, cần phải tinh tấn các Pháp tự nhiên chứng được ".




Bấy giờ Đại chúng bạch với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Pháp khế này
do đâu được trì, được hoán đảnh, được gia hộ, hay các thần thông
biến khắp mười phương, khiến tất cả đều quy phục, hay khiến các Pháp
tự nhiên hiện tiền, chỉ có người ở nơi Phật tu trì Pháp này mà
được, các người như trên Phật tự chứng biết, nay chúng con cũng muốn
thỉnh làm nơi quy y ".




Phật bảo: “ Các ông hãy chờ trong chốc lát sẽ
thấy.” .




Tức thời Đức Phật ở nơi tự tâm kết trì Ngữ Khế, bảo khắp mười
phương Phật Tâm Trung Tâm rằng: “ Các ông mau
lại, Đại chúng muốn được thấy” .




Bấy giờ, Bồ Tát Đa La dẫn Bồ Tát Tam Khế và các quyến thuộc trước
sau vi nhiễu, từ phương Đông biến thân làm Phật
mà lại, tất cả Đại chúng thành tướng Bồ Tát hiện ra trước Phật. Bồ Tát Kiên Ý từ phương Nam đẫn các Bồ Tát Thành tựu
khế hóa thân làm Phật, mỗi mỗi các quyến thuộc đều tự biến thân
làm Bồ Tát. Phật Tâm Vương Sư Tử Hống Vương từ phương Tây lại
dẫn các Bồ Tát chánh thọ Khế tứ nước kia mà lại, nơi đường gặp
các loại chúng sanh thị tâm phi tâm đều dùng Ấn chỉ đó, tức đều
chuyển tâm hướng Phật, những người chưa nghe đều được thọ ký Bồ
Tát. Như Lai Tối Thắng có một Đồng tử 14 tuổi trì Mẫu khế ấn từ phương
Bắc mà đến, đi qua các nước có các quân của đại Dạ Xoa La Sát,
quân quỷ của Đại Hắc, các loại quân phun lửa đại hắc phong và rắn
lớn, tất cả các loại như vậy dùng Phật Mẫu Khế chỉ đó, đều phát
lòng từ đưa dẫn Đồng tử đến chỗ Phật, các loại ác thú đều được
Phật tâm thọ ký Bồ Tát. Phật Sư Tử Âm từ phương dưới mà đến trì
Bồ Tát tập Đà La Ni khế, có trăm vạn ức Thần Đà La Ni làm quyến
thuộc bay trên hư không lại làm chứng. Phương trên,
Như Lai Hương Tích có một Đồng tử có mùi thơm khắp thế giới trì Phật
ngữ khế mà đến. Các chúng ở hạ phương, vì Như Lai Hương Tích,
Như Lai Phổ Quang đều đến Diêm Phù Đề, đồng đem hoa cúng dường đến
trước Phật, tất cả đều là đồng tử .




Bấy giờ, Như Lai bảo Đại chúng rằng: “ Như vậy,
các vị đã đến từ nãy giờ có đáng làm Thầy các ông không? Các vị
này đều thừa Phật lực, có đại thần thông không bao lâu sẽ đuợc
thành tựu” .




Đại chúng không một ai lên tiếng. Phật bảo : “Lắng nghe! Ta sẽ gọi một người khác” ; liền gọi rằng: “Nầy đồng tử Quang Minh! Hãy đến đây !”.




Bấy giờ, đồng tử đang ở tại núi Tuyết Sơn, nghe Phật
gọi tức thời liền tới nơi Đại chúng. Đại chúng nói rằng:
“Phật gọi ông tới, vậy còn quyến thuộc ở đâu ?”
.




Đồng tử đáp rằng: “ Tất cả các ông đều là
quyến thuộc của ta”.





Đại chúng hỏi rằng: “Chúng ta cùng ông không từng biết nhau, tại sao
bảo chúng ta là quyến thuộc?” .




Bấy giờ Đồng tử mật trì Ấn khế chỉ nơi đại chúng, ngoại trừ Hóa
thân của Phật, còn tất cả chúng Bồ Tát thảy đều đảnh lễ Đồng tử,
khiến Đại chúng đều không hiểu tại sao. Tứ chúng lễ xong thưa rằng : “Nay chúng tôi xin thỉnh Ngài làm Thầy” .




Đồng tử đáp rằng: “Như Lai Ngữ khế chân thật không hư dối, các ông
nên thọ trì sẽ được như Ta không khác” .





Thời tất cả Đại chúng đồng lời bạch cùng Phật rằng: “Đồng tử này
tu pháp Khế lâu chưa, mà nay có đủ thần lực nhiếp Đại chúng ở đây?” .




Phật bảo: “Các ông lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà nói nhân duyên
này: Khi xưa, lúc Ta ở núi Linh Thứu tu hành, thường có nhiều loại
ác thú muốn ăn thịt. Khi đó, ở trong Định, Ta nhớ lại Thầy Ta là Như
Lai Không Vương có nói một câu chú, chỉ tụng một biến, tất cả các
loại trùng thú độc ác đều được Phật tâm không có làm hại. Ta lại
niệm tiếp, thời tất cả các loại ác trên đều được giới Bồ Tát,
thảy đều ăn rau cỏ. Sau đó có một Đồng tử đến lo
lắng cung cấp thừa sự cho Ta một đêm, và trộm được chú này. Sáng ra, Đồng tử từ giã Ta mà đi, sau 7 ngày được đại
thần lực. Sau đó, gặp Ta lại muốn dùng thần
thông nhiếp phục Ta, hai ba lần không được. Các
ông nên biết, trộm Pháp mà còn có được thầøn thông như vậy, huống
là được công khai thọ học“.




Đại chúng nghe Phật nói, thảy đều mong muốn được như
Đồng tử có đại oai thần lực tự tại. Phật bảo: “ Qua 7 ngày sau, các ông sẽ được, trừ kẻ không có
lòng tin”




Bấy giờ, có một kẻ ngoại đạo ẩn hình vào trong Đại
chúng, Phật biết mà không nói ra. Kẻ kia muốn dùng Ấn khế
này để hàng phục các vị Bồ Tát, vì khởi tâm ác nên lúc đang kết
Khế, thân tâm bị thiêu đốt, các Pháp đều mất hết. Nên
biết Pháp này không được vọng truyền, tất cả sự nghiệp đều tùy ý,
chỉ trừ có lòng ác, lòng ganh tỵ tức không thành, bằng không quyết
chứng không sai''.




“Lành thay! Bạch Thế Tôn! Xin
nguyện ấn khả, nguyện cho chúng con, mau được thân Phật, sớm chứng
quả Phật!”




Khi đó, Như Lai vì muốn ấn khả cho tất cả Đại chúng, liền dùng chánh
thọ Bồ Tát Khế 3 lần, chỉ khắp mười phương, tức có gió đen thổi đến
làm tất cả các vị Bồ Tát đều lăn nhào xuống đất. Khi
các vị xuất hiện, tức có mây đỏ xuất hiện, mưa các thứ hương thơm
Chiên Đàn, lại tuôn nước thơm tắm khắp Đại chúng. Đại chúng được tắm xong, đều được thần thông tự tại,
được tự tại rồi tức tu Pháp này, trải qua 7 ngày đều chứng thân
Phật. Do oai lực của Khế này, Phật sắp nhập Niết Bàn, các
Hóa Phật dâng cúng dường. Đại chúng được nghe lực
của Khế này, tất cả đều cùng nhau tán thán công đức của Phật.




Lành thay Đấng Cứu Độ Đầy
đủ đại thần thông





Biến hiện mười phương cõi Đủ các Oai đức lớn




Thân Phật tức thân phàm Đức
lực đều bằng nhau




Pháp thân rất vi
diệu

Cần nên phải quyết định




Nguyện chứng quả vị này Cho đến khắp
vị lai




Lời lẽ của phàm
phu
Đồng Phật âm không khác




Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi và các Bậc Pháp Vương dùng thần lực
báo khắp mười phương, tán thán Đức Phật .



Lành thay Đấng
Sư tử
Từ quang chiếu thế gian



Pháp thân rất
vi
diệu
Hiện những việc ít có



Cần tu lâu
không
đắc
Phóng quang được Bồ Đề



Đồng thân như
Chư Phật Do sức của Thầy Ta



Nên biết con
đường
tu
Không qua chữ Từ bi



Nguyện cho
người đời sau Cũng như Ta không khác





Tức thời Như Lai lại nói kệ rằng :



Trong tất cả
các
thân
Không gì hơn thân Phật



Trong các Pháp
vi
diệu Không
gì hơn Phật tâm



Chúng sanh
được Tâm này Chúng sanh tức là Phật



Thần lực của
đức
Phật
Bồ Tát không thể hiểu



Trải qua hằng sa
kiếp
Ta chỉ phụ thuộc thôi



Nếu người hay
thọ
trì
Thân đồng như chư Phật



Nếu có lòng
chí
thành
Trong mộng được Bồ Đề



Ta nói nhân
trong mộng Các
người hãy lắng nghe



Nếu cầu thấy
Pháp thời Tất
hóa ra lầu các



Chư Phật nơi hư
không
Đều tụ tại nơi đầu



Hoặc thấy qua
sông lớn Tự hóa
ra thuyền bè



Hoặc thấy lên
núi
cao
Rất lẹ làng nhanh nhẹn



Hoặc thấy tạo
chùa tháp Nương hư
không mà đi



Hoặc thấy các
Pháp hội Đại
chúng nghe mình nói



Hoặc thấy
loài voi
dữ
Duỗi tay tức quy phục



Hoặc thấy các
kinh điển Mình tự cầm
lên xem



Hoặc thấy các
lầu
các
Mình yên ở trong đó



Hoặc thấy
sông biển lớn Đi
vào đó không chìm



Tất cả tướng
mộng trên
Nhân thành tựu đến gần



Cần tu niệm
như
vậy

Y thọ lời Ta dạy



Nếu không làm
theo
đây Cách Bồ Đề rất xa



Nên trong Khế
ấn
này
Cần thận trọng giữ gìn




Bấy giờ Đại chúng nghe Phật nói Pháp xong, thảy đều vui vẻ làm theo
và đồng lễ Phật mà lui ra .
Về Đầu Trang Go down
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003501
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: PHẬT TÂM KINH PHẨM   17/1/2010, 10:04

PHẬT TÂM TRUNG TÂM ẤN




Mật Tạng Bộ 2 .


No- 920b (
Tr.08 - Tr.15 )





Quyển Hạ




Phẩm Trung





Tam
Tạng Bồ Đề Lưu Chi phụng chiếu dịch Phạn ra Hán.



Sa Môn Thích Quảng Trí dịch Hán ra Việt văn.






Lúc bấy giờ, A Nan đang ngồi trong Đại chúng, bỗng
nhiên buồn rầu bức rứt, tất cả kinh Phật tự nhiên quên hết.
Tất cả chư Đại Kim Cang, chư Đại Bồ Tát, Linh thần trong thế giới cho
đến các Thần, Tiên, Rồng, trăm ngàn vạn ức thế giới Tứ Thiên
Vương, Phạm Thiên Đế Thích đều bị mờ mịt, tinh quang mất hết. Chỉ có
Chư Phật mới biết rõ nhân duyên tại sao có sự việc này, các Ngài
đều an nhiên nơi tòa ngồi, phóng ra hào quang tự hiểu nhau .




Khi đó, Đức Tỳ Lô Giá Na ở nơi thân tỏa ra trăm
ngàn ánh sáng hào quang rực rỡ muôn màu, ánh quang chiếu cho đến
tất cả chúng sanh dầu có tội không tội, khiến được an ổn hết cả
sợ sệt. Lại từ nơi trong hào quang nói ra trăm ngàn âm thanh vi
diệu bảo cùng Chư Phật rằng: “Này các vị ! Oai
quang này khó biết được, khó lường được, chỉ có các vị Sức như Ta,
tâm Từ, tâm Bi như Ta, Giải như Ta, Trí như Ta, Biện như Ta, cho đến tất
cả trong thế giới những người hiểu biết hết mọi việc cũng chưa biết
được hết ánh sáng này, do vì đầy đủ nhân duyên mà được tất cả tri
kiến” .




Bấy giờ, A Nan ở trong chỗ mờ mịt có được chút ít suy nghĩ đứng dậy
hỏi Đức Tỳ Lô Giá Na rằng: “Bạch Thế Tôn !
Vậy ánh quang này chỉ có Chư Phật mới biết được sao ?”
.




Phật bảo: “Thiện nam tử ! Chỉ có Chư Phật là
biết được, vì các Bồ tát chưa thấy được như Phật.” .




Tức thời, A Nan lễ lạy chân Phật năm vóc sát đất, mắt nhìn xuống,
dùng kệ hỏi Phật :




Bồ Tát trong thế gian
Hiện thân được làm
Phật




Nơi các cõi thế
giới
Thường hóa vô lượng thân




Thế giới có Bồ
Tát
Hay biết như Phật biết




Thế giới có Bồ Tát
Hay mở trói chúng sanh




Thế giới có Bồ
Tát
Hay vào các cõi Phật




Thế giới có Bồ
Tát
Đầy đủ các phương tiện




Thế giới có Bồ
Tát
Hay vào trong các khổ




Thế giới có Bồ
Tát
Nhiếp chúng vào thân đó



Như
vậy các Bồ
Tát
Đều là Bậc Quán đảnh



Cũng
như là Phật
vậy
Ứng hiện vào cảnh giới



Thần
thông, Ba La Mật
Đều không thể nghĩ bàn



Hay
ở trong các
nạn

Tự tại không sợ sệt




Con xem thấy các
Ngài Đều như
Phật không khác




Nếu thọ trì đầy
đủ
Cũng đồng như đức Phật



Tụng
trì Phật Pháp Tạng

Tất cả đều rõ biết




Tức là Pháp Vân
đảnh
Trọn đầy đủ các địa



Tại
sao các vị
này
Lại không rõ nhân duyên



Các
Ngài còn như
vậy
Huống là các chúng con?".




Khi đó, trong hào quang Đức Tỳ Lô Giá Na phát ra tiếng lớn bảo A Nan
rằng: “Lành thay Phật tử! Các Bồ Tát vì có từ bi mà không đổi nên
không biết được, chỉ vì nhẫn nhục mà không biến nên không biết
được, vì thần thông không biến nên không biết được; chỉ có thị hiện,
thị hiện không biến nên không biết được; chỉ có vô ngại, vô ngại
không biến nên không biết được. Như vậy, tất cả các
“bất biến” không biến, các Bồ Tát đều có. Nếu
như người mà biết biến, tức đều có thể hiểu biết Phật tánh, tức
biết được Ta. Tất cả mọi việc, biết được Phật
tánh là hiểu biết tất cả, nếu không làm sao biết được Như Lai Vô
lượng xứ “.




A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Như
vậy các Bồ Tát còn không hiểu được, các hàng chúng sanh làm sao có
thể biết được việc này?” .




Phật bảo: “Như ông gần gũi Ta- Phật Thích Ca Mâu Ni, nay hỏi được lời
này khiến chúng sanh tự nhiên biết rõ, lấy đó mà phụng trì, tất cả
chúng sanh tự nhiên được hiểu những lời Ta nói”




A Nan liền hỏi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
rằng: “Bạch Thế Tôn! Việc này là thế nào? Con
đã từng thân cận cúng dường Phật trải qua nhiều kiếp. Xin vì con mà
giải thị hiện các Pháp yếu, con muốn tu hành để tẩy sạch tâm chúng
sanh.” .





Bấy giờ, Đức Như Lai bảo A Nan rằng: “Ta nay sẽ thị hiện các thần
lực, các ông cần phải bình tĩnh không được sợ sệt.”
.




A Nan vâng lời Phật dạy, liền bảo đại
chúng rằng: “Đại chúng nên biết! Đại chúng nên biết!”. Nói lớn ba lần như vậy. Khi
đó, A Nan không tự biết rằng thân mình ở trên hư không, Đại chúng
ngước nhìn A Nan, tin là A Nan có được Vô Ngại Thông, cũng như âm
thanh vang tới khắp nơi, cho đến Trời A Ca Ni Tra, tất cả thế giới đều
nghe biết.





A Nan bạch Phật rằng: “
Bạch Thế Tôn! Con đã thông báo xong, xin Ngài thị hiện.”




Bấy giờ, Như Lai nhập Từ Mẫn Định, chỉ niệm Tâm Trung Tâm chú, niệm
xong dùng ngón út tay phải chỉ về hướng Nam, bấm ngón chân cái xuống
đất tức thời thế giới phi thế giới, tất cả Địa ngục đều vọt lên hư
không, thế giới bên trên mưa hoa sen báu phá nát Địa ngục, không còn
một ai phải chịu khổ, các uế ác đều tiêu trừ, được Pháp nhãn thấy
các Như Lai, sau lại thị hiện các thế giới, các Đại Dạ Xoa, vua La
Sát, Phạm Thiên Đế Thích, Tứ Thiên Vương, các loài Ngạ Quỷ, A Tu La,
Vượng thảy đều đắc thần thông, tức là được Từ Mẫn thiện thông,
thương xót chúng sanh đồng như Phật vậy. Lại có Đại thần thông ở
trong hư không mưa vi diệu mưa, khiến các loài
khởi niệm mong cầu đều được đầy đủ, tật bịnh nặng nhẹ nghe được sức
này đều tiêu trừ. Kẻ đói được no đủ, kẻ nóng nảy
được mát mẻ, lại có thần thông chỉ trong chốc lát, tất cả chúng
sanh thảy đều luận thuyết Phật tâm địa. Lại có Đại thần thông
khiến các chúng sanh ở trong thai mẹ hay nhớ biết được quá khứ, tâm
địa biết được chỗ sanh ra, biết được mọi việc đã qua, lại có thần
thông khiến mười thế giới, tất cả tai họa ác độc vĩnh viễn tiêu
diệt. Lại có thần thông phóng ra ánh sáng chiếu khắp thế giới trong
mười phương, trong mỗi thế giới đó, Chư Phật Bồ Tát cho đến Thanh
Văn, bốn quả Sa Môn đều được sáng rõ không có ngăn ngại, một lúc
liền thấy mọi việc khắp tam giới, diệt hết mọi khổ, sống lâu như
Phật. Lại có thần thông, ánh sáng hiện ra năm màu, trong mỗi
màu sắc có trăm ngàn vạn ức na do tha hằng hà sa hóa Phật, đều đem
quyến thuộc, các chúng đại Bồ Tát từ không mà đến, các quyến
thuộc kia đều hay luận thuyết các Pháp yếu của Phật Tâm Trung Tâm,
đều tự hiểu rõ. Lại có Thần thông, ánh sáng chiếu mười phương cõi
nước, làm cho đại địa rung động 36 lần, mặt trời, mặt trăng, sao …
thảy đều rơi rớt, chiếu khắp tám phương, tất cả ma và ma dân đều bỏ
nghiệp ma, mất hết thần lực, được Phật thông, được Phật thông rồi
nhớ lại việc làm, tức cầu xin sám hối, cầu được xuất gia, không
một ai có tâm thay đổi. Phật bảo: “Này Thiện nam tử! Ánh sáng của Thần thông này chiếu khắp thế giới, có đại
oai đức, đủ tam minh lục thông và bát giải thoát, y pháp mà tu hành,
chỉ trong thân này đắc được Phật quả. Vì sao
vậy? Vì Chư Phật tâm đồng thời chứng. Vì chư Như Lai đồng ấn khả. Ta, Tỳ Lô Giá Na là Phật
Mẫu thường ở nơi đây giữ gìn, có nguyện cầu tự ấn khả, tự mãn
nguyện, tự gần gũi, tự vì tất cả làm Thầy quán đảnh. Có người cầu
học, tự lại làm chứng, biết được Phật tâm khiến Chư Thiên đều lại
cúng dường, khiến các Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương Mật Tích vì đoạn tai
biến thường che chở vậy. Lại khiến thiên hạ thường lại vi nhiễu, cho
đến trong thế giới tất cả các kẻ hóa hình, biến hình, dấu tích, ẩn
tàng thường lại ủng hộ; Phạm Thiên Đế Thích, các Thiên chúng thường
lại phục tùng, Bạt Đà Quỷ tử mẫu, ác quỷ thần, các loại phi hành
thảy đều thuận phục. Cần y như Pháp, y theo Phật tâm để đắc Phật
tâm, cần được chứng nghiệm không dùng Pháp khác, tức hay thành tựu
Pháp này.”.




Bấy giờ A Nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy tâm Pháp này Phật
tự giữ, dùng đại thần thông tức được như vậy, cho đến Chư Bồ Tát
Kim Cang chưa đạt Phật hạnh, chưa tới chỗ Phật tức cần phải học, bền
vững nhất định không lui sụt tức đắc Bồ Đề, còn như các hạ căn
muốn cầu làm sao đến được? Phật lực oai đức rộng lớn khó lường, lao
tâm khổ nhọc, nhẫn chịu gian khổ mới thành, nay làm sao có thể khiến
cho chúng sanh tu học Pháp này, làm sao được như Pháp, làm sao chứng
nghiệm, làm sao thấy hiểu? Sự lo lắng của chúng sanh là như vậy, lấy
Pháp nào hiểu được Chánh Tà, lấy Pháp gì khiến cho Ma Vương, các đại
ác vương biến quái tự điều phục, lại lấy Pháp nào mau chứng Phật
tâm? Con nghe trong Khế kinh nói cần lâu khổ nhọc, đầy đủ các độ
mới mong chứng được. Con nay không hiểu, mong Phật vì con mà nói tất
cả Pháp yếu, chứng nghiệm thành Phật, cho thế
gian cùng biết.”




Phật khen A Nan: “Lành thay! Lành thay! Nay ông muốn
biết, hãy lắng nghe kỹ, nay Ta sẽ nói. A Nan!
Phật Tâm này ở thế gian ai là người hiểu được, ai
biết được, ai là người thực hành mà không nghi, ai có thể cho đến
khi chết sống mà biết được hết? Chỉ có Phật
với Phật mới có thể biết được việc này. A Nan!
Tâm chú này cần phải có lòng từ bi, ngày đọc 1000 biến, mãn 100
ngày, Phật lực tự thành, các việc làm đều thành, sức lực của Bồ
Tát Thập Địa còn không có thể hơn được. Lại có một Pháp muốn biết
chứng nghiệm, tụng 10 vạn biến xong ngậm một miệng nước trì 100 biến,
làm việc gì phun nước đó tức thì các khổ tiêu diệt, nếu trừ được
tức là có hiệu nghiệm. Trì cho đến 100 vạn biến, núi
cũng phải đổ, các tội đều trừ. Nếu trong thế gian có các tai
ách, các việc không lành, mỗi sáng sớm phun một miệng nước mãn 3
ngày tức diệt, hay hộ Đại Thiên thế giới, Địa và hư không. Nếu muốn
biết tà, chánh, dùng một cái kiếng bằng đồng không cần lớn nhỏ
chú vạn biến đem theo mình, mọi việc chánh tà
đều biết.




Nếu muốn biết tâm niệm của kẻ khác, tâm Phật, tâm Bồ Tát, tâm Kim
Cang, tâm Chư Thiên, tâm của bốn quả Thánh nhân, tâm Long Vương bốn
biển, tâm vua Trời, tâm của Mặt trời, Mặt trăng, sao, Dạ Xoa, La
Sát, tâm tất cả các loại quỷ thần, cho đến tâm của tất cả các
loại ẩn hình ấu tích và tâm của tất cả chúng sanh trong thế gian này
cùng chỗ suy nghĩ của họ, như trong Kinh Pháp Hoa nói, công đức trang
nghiêm của sáu căn thảy đều chứng được. Cho nên, Phật tử, phàm phu,
Bồ Tát, Kim Cang … cần nên tu Pháp này, ngoài ra không có Pháp
khác.”.




A Nan lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như muốn tu Pháp này, Đàn Pháp phải như thế nào? Cây thuốc phải như thế nào? Hương
hoa, màu sắc cúng dường như thế nào, làm sao biết được? Xin
Phật dạy cho!”.




Phật bảo A Nan: “ Ông nên biết, hỏi như vậy là
đúng thời, nhưng là điên đảo mà hỏi, nếu không sao lại hỏi như vậy.
Tâm Phật là tùy sắc mà sanh, không còn các chấp như chấp Tà,
tướng, tự ngã v.v... chỉ do tâm Pháp mà được
chân thật tế. A Nan! không
có một Pháp duyên nào mà đến chỗ Như Lai được, như tâm không có
cảnh nào khác, chỉ có Chân như.





A Nan! Nếu tất cả các
sự pháp làm được Phật, thì đâu cần phóng đại quang minh nơi thân
tâm. Nếu thân tâm còn có mắc một Pháp thì
không thể được gì. Vì sao vậy? Xưa Ta ở nơi địa vị phàm phu tại núi Ni Khư La, thấy các
chúng Tiên làm các pháp thuật, Ta lúc đó mới được chú này. Các chúng Tiên không biết cho Ta là kẻ ác, mới dùng tất
cả các ác chú để hàng phục Ta, nhưng tất cả thần lực chỉ tổ lao
nhọc mà không làm gì được. Bấy giờ, Ta mới bảo các Tiên
rằng: " Nên biết Thần lực của các ông
dầu cho hết đại kiếp này cũng không làm hại được Ta, chuyện đó
không bao giờ có được." Các Tiên đều lại hỏi Ta rằng: " Người được Tha tâm trí sao? Làm
sao biết được là chúng ta hại Người? ".




Ta đáp rằng: "Các ông cho Ta là ác nhân nên lấy cỏ bện làm
hình người ở nơi góc giếng kia dùng đao mà chặt, thì Ta sẽ chết,
không thể nói được các việc làm của các ông".




Khi Ta nói rõ như vậy, các Tiên thảy đều tiều tụy, lại đảnh lễ Ta
và hỏi rằng: ‘Thánh giả làm sao biết được?’.
Ta bảo các Tiên rằng: ‘"Vì các ông là vọng, Ta là chân; các
ông là tà, Ta là chánh; các ông thấy có, ta thấy không ; các ông
là nhành lá, Ta là gốc rễ; các ông là hư, Ta là thật; các ông dua
nịnh, Ta là chân tín; các ông từ nơi Ta mà sanh ra, làm sao con lại hại
cha mẹ được, cành lá làm sao hại được gốc rễ, như hư vọng làm sao
hại được chân thật, lửa đom đóm làm sao sánh được mặt trời, nắm
đất làm sao lấp được biển, độc dược làm sao tiêu được nước cam lồ,
La Sát làm sao hại được Phật thân, con kiến làm sao lay được núi Tu
Di" .




Bấy giờ, các Tiên nghe Ta nói vậy rất tức giận,
dùng tất cả Pháp thuật bao vây Ta để đấu lực. Khi đó, trong
phút chốc Ta thầm niệm trong tâm, thổi một hơi lên trời tụng chú 7
biến, mây đen bao phủ cả hư không, mặt trời mặt trăng mất hết ánh
sáng, tinh tú biến mất ; ta lại thổi nơi đất, tức thời đất lung lay
không vững. Trải qua 7 ngày, Ta lại dùng tâm triệu thỉnh mười phương
Phật, tức thời mười phương lại trên đỉnh Ta, thời thân Ta khiến tất
cả đều đồng một thể, chỉ có Ta và Chư Phật hiểu thấu được. Sau đó, Ta dùng mắt xem khắp mười phương. Các Tiên lúc đó hết kế, sợ sệt đảnh lễ cầu qui y nơi Ta,
sám hối các tội, cầu xin cứu hộ khiến được an ổn. Ta liền
dùng Phật tâm mà quán khiến hết sợ sệt, lại trao cho Pháp Phật Tâm
Trung Tâm khiến được thần thông. A Nan ! Tất cả tâm pháp cùng mười phương
các ác, Tâm pháp là chủ. Nếu người cầu pháp sự và phi pháp
sự tức là Pháp thế gian và xuất thế gian, không y nơi Tâm pháp mà
được thần thông là điều không có được.”.




Bấy giờ, A Nan lại hỏi Phật rằng: “Như trên có nói Định ấn, vậy Ấn
ấy ra sao? Cúi xin Ngài vì con mà nói Pháp ấn!”.




Phật bảo A Nan: “Lành thay ! Hãy lắng nghe!
Trước hết, ngồi kết già phu đọc Tâm chú 7 biến chú nơi tay, sau mớí
kết Định ấn.Tay trái ngửa để nơi rốn, tay phải ngửa đặt lên lòng tay
trái, mười ngón ngay ngắn, ngón giữa bên phải nắm ngón cái vằn
trên tức thành. Nếu tụng chú 108 biến 3 lần cử thân, thì trên đất,
hư không cho đến Ba mươi ba cõi trời sanh lòng lành, tất cả các Đại
ác vương hay hại hoặc làm chướng ngại người thảy đều niệm
Phật, không lòng phỉ báng. Tất cả chúng sanh được
tâm Phật, Bồ Tát nên không còn thối chuyển, nhớ được túc mạng.
Như Lai thường dùng Ấn này chiêu người không có duyên, thường dùng
Ấn này khiến cho đại địa 36 lần lung lay. Ấn
này công lực không thể nói hết, tu tập tự biết lấy.”.




Khi đó, A Nan bạch Phật rằng: “Như Lai sở trì như vậy, còn người chưa
được tâm Phật, làm sao trì được? Con thấy các loại thuốc hoặc thơm
hoặc thúi, các thứ nước hoặc dơ hoặc sạch, mặt trời mặt trăng hoặc
sáng hoặc tối, các người tu hoặc phàm hoặc Thánh, hoặc Phật hoặc
Ma, hoặc tưởng hoặc tượng, hoặc có hoặc không, hoặc an hoặc nguy,
hoặc đúng hoặc sai, các việc như vậy có đến trăm ngàn loại v.v... là do định kiến điên đảo huyễn hóa bất nhất. Vì sao
Như Lai nói phàm phu đồng Phật trì, nếu được Phật trì nhất nhất đều
là việc Phật, nếu không được Phật trì nhất nhất đều là Ma nghiệp.
Tại sao Như Lai nói các phàm phu đồng một Phật tâm?”.




Phật bảo A Nan: “Lành thay! Lành thay! Như phàm phu nếu hay trì giới,
thì tâm này đồng tâm Ta, lực tức bằng Ta, nếu không được vậy Ta vào
sanh tử trong sáu nẻo luân hồi, những chỗ nói ra dạy để người thảy
đều là hư vọng dối gạt chúng sanh sao? Vậy, Ta tức
là Ma không phải là Như Lai. A Nan!
Nay ông nghi ngờ, nghe Ta nói đây. Nếu có chúng
sanh hay trì Pháp này tức là tâm Như Lai. Tâm Như Lai ẩn chứa
trong người này, nên biết người này là Như Lai nhãn, tất cả huyết
mạch cùng đồng với Phật; nên biết người này là Như Lai đảnh, trên
đảnh Như Lai đặt để người này; nên biết người này là tâm Như Lai,
tâm tạng Như Lai phụ thuộc người này; nên biết người này là Như Lai
y, các Phật trong quá khứ hộ giúp người này cứu độ thế gian; nên
biết người này là Như Lai thọ, tức là Phật vĩnh kiếp không hoại;
nên biết người này là Phật Kim Cang Sơn, giả sử thế giới trăm ngàn
vạn ức tai biến đồng thời xuất hiện, đại địa ngửa nghiêng, tất cả
núi non, sông biển, núi Mục Chân Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại
Thiết Vi cùng mười núi báu một thời sụp đổ, long tạng vọt lên,
trời đất tiêu mất, trăng sao rơi rụng, chúng sanh tận diệt, người
này không bị tiêu hoại, không bị các ác sai khiến vì được Chư Phật
gia hộ giữ gìn, ở nơi áo Phật được che dấu, được an thân dưới lọng
của Bồ Tát, được tất cả các Kim Cang vâng lời Phật ủng hộ vậy,
tất cả thảy đều cung kính. Nếu thường thọ trì nên
biết người này đắc được Phật thân không sai. Này A Nan! Đừng
sanh lòng nghi, vì nếu có chúng sanh trì Pháp này không được thành
Phật, Ta tức thối vị đọa vào A Tỳ Địa ngục không có ngày ra khỏi,
thân thể ra máu khắp cả đại địa, mặt trời mặt trăng không hiện,
tinh tú biến mất ”.




A Nan
nghe Phật dạy xong, thân tâm không biết nương đâu. Như Lai thấy
A Nan hối hận, mới nói kệ trừ nghi rằng:




Cảnh giới của Chư
Phật Hàng
tiểu căn không hiểu



Lời
Chư Phật xưa nay

Bồ Tát còn không thấu



Thần
thông của Chư Phật Cảnh
giới có cùng không



Chư
Như Lai từ
trước
Đồng ở một tâm này



Tâm
này là Không
tâm Phật
tức là Tâm này



Nếu
người theo tâm này
Không cần lìa thế gian



Tâm
Phật đời Quá
khứ
Hiện tại cùng Vị lai



Cùng
các vị Bồ
Tát
Thân của chúng Chư Thiên



Hạng
phàm phu hạ
tiện Nếu
hay trì được tâm



Mau chứng Vô sanh nhẫn
Như không ở thế gian.



Chúng
Bồ Tát Thanh Văn Cùng Tứ quả Sa
Môn



Cho
đến Chư Phật
vậy

Đều do Tâm đây
sanh.



Trì
giới được đầy
đủ
Tín thí được quả báo



Thường
nghĩ không xao lãng Khắp nơi mọi chỗ sanh



Vui
vẻ được kính ngưỡng
Khi nói lời dạy dỗ



Đều
do biết Tâm
Phật
Niệm niệm được quả báo



Tất
cả do đây
sanh
Hết thảy Chư Như Lai



Nói
không thể nào hết
Thần lực của Đức Phật



Lại
có vô lượng
phương Khắp
tất các phương



Lại
có vô lượng
Phật
Tất cả thần túc Phật



Đều
sanh từ Tâm
Phật
Tất cả trong Tâm Phật



Đều
nhập vào trong Tâm Như
vậy Tâm Trung Tâm



Phật
bảo không thể
nói

Hết thảy không cùng tận



Sanh
ra là như
vậy
Thế gian Có hoặc Không



Xuất
thế Không xuất
thế Các phương
tiện thiện xảo



Cùng
lời lẽ nói ra
Bí mật
Đà La Ni



Định
Tự tại Tha
tâm
Trí Quá khứ Hiện tại



Thành
quả vị Vị
lai
Đều do từ đây ra.



Ma
vương hay Chuyển Luân Trời Phạm Thiên, Tự Tại



Những
vị có thần
lực

Đều do Phật Tâm chuyển




Tà thuật cùng chánh
ấn
Thấy nghe đều biết rõ



Lực
Thánh tâm như
vậy
Thông khắp mọi cảnh giới



Cũng
từ đây sanh
ra
Như Lai ấn đạo chúng



Hàng
ma, độ phi
nhân
Các Thần biến tự tại



Đi
vào các cảnh
giới
Trừ các khổ chúng sanh



Chấn
động các thế
giới
Theo duyên mà nhập, độ



Thương
xót cả mười phương Đều do từ đây ra.



Tất
cả loài chúng
sanh
Làm mọi việc phước thiện



Được
thành tựu hay không Trí Tha
tâm tự tại



Biết
được sanh nơi
đâu
Tất cảtrong mười phương



Khắp
tất cả chúng
sanh

Nghe lời đều tin Phật



Tướng
lưỡi dài rộng
này
Cũng là do đây sanh.



Mười
phương các cõi nưóc Khắp
tất cả các nơi



Cho
đến trăm ngàn
cõi
Mỗi mỗi trong các nơi



Đều
có vạn thế
giới
Vô lượng các chúng sanh



Nghe
Phật nói đều
tin
Tướng lưỡi dài rộng này



Cũng
đều do đây
sanh.
Trời Quang Âm Biến tịnh



Cùng
các thế giới
khác

Có hình hoặc không hình



Thảy
đều có Phật tánh
Hữu lưu và vô lưu



Trong
hư không các
loài
Tùy hình mà thay đổi



Nghe
theo đều tin
Phật,

Loại Xiển đề, Bất tín



Nhờ
Pháp không thoái
lùi Đầy đủ các
nhân duyên



Các
loại này chúng
sanh
Thừa quang mà xuất ly



Cũng
do từ đây
sanh.
Loài phàm phu hạ tiện



Nếu
trì chú Phật
Tâm
Thảy đều đồng như Phật



Đủ
sáu Ba La
Mật
Đắc được đại thần thông



Biến
chiếu các cõi
Phật
Đầy đủ sáu thần thông



Lời
nói đồng như
Phật

Khi dở bước hạ chân



Đều
là đại thần
biến
Nói đúng hay nói sai



Đều
giống nhau không khác Phật hay không
phải Phật



Chỗ
nói Trí Như
Lai
Phàm phu các việc Thánh



Phát
niệm đến Bồ
đề
Tất cả các quả vị



Đều
là do Phật tâm ".




Phật bảo A Nan:" Trừ Nghi Kệ này như hoa hư không, dùng thần lực
của Phật khiến tại hư không có lọng của Bồ Tát, ở dưới lọng có
trăm ức hằng hà sa thế giới bất khả thuyết thế giới vô lượng các
Hóa Phật, lại có vô lượng bất khả thuyết vô lượng các Pháp thân
Phật, lại có vô lượng bất khả thuyết vô lượng Báo thân Phật, tất
cả quyến thuộc đều là các Bồ Tát đứng đầu hoằng truyền đạo Pháp,
lại có vô lượng bất khả thuyết các Bồ Tát, mỗi mỗi Bồ Tát có vô
lượng quyến thuộc đều là thầy dạy đạo trong nhân gian, đều là Tam
địa, Tứ địa, Bát địa vây quanh. Như vậy Chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn,
Duyên Giác, bốn quả Thánh, tất cả chư Thiên Tiên vô lượng thế giới,Tứ Thiên Vương, Phạm Vương, Đế Thích, A Tu La, các Dạ
Xoa, La Sát, Quỉ thần, các vị có đại oai đức đại thần thông, đại hộ
niệm, đại từ bi, đại tự tại v.v… đoanh vây nơi lọng, giữ tâm bất
thối, thọ Phật Tâm Pháp. Lại có bất khả thuyết các Địa thần cầm
các hoa sen ngàn cánh đem dâng chân người trì chú, phóng ánh quang
minh nơi thân có màu vàng kim, tất cả chúng sanh thấy quang minh này
đều dứt Hữu lậu nhập vào Phật định, thấy tất cả trong Đại thiên
thế giới các nhân duyên, các sự nghiệp do đâu mà ra, thảy đều hiểu
biết tường tận".




Bấy giờ, A Nan dùng kệ khen Phật:




Lành thay Thầy ta Thích Ca Văn!




Một lời trùm cả Đại thiên giới




Duy chỉ một lời cứu độ khắp




Tất cả chúng sanh không hay biết




Lành thay Như Lai tự tại quang!




Là tốt hay xấu đều chiếu khắp




Từ tâm tuôn chảy nước Cam lồ




Tẩy rửa được sạch không hay biết




Lành
thay Vô úy tự tại tâm!




Thường đem vô úy ban cho khắp




Cọp, Voi, Rồng độc đều điều phục




Tự nhiên sanh bi mà không biết




Lành thay Vô Úy Thần Thông vương!




Nói ra Đại thiên đều rung động




Tất cả thảy đều lại qui phục





Qui phục nhưng mà vẫn không hay




Lành thay Vô lượng từ bi tâm!




Thường đem từ bi cứu các loài




Tất cả thảy đều nghe Phật Pháp




Lành thay Vô Lượng Thiện Tạng vương!




Hay dùng Tài pháp cho chúng sanh




Ai được thọ trì thảy thành tựu




Thế mà kẻ kia vẫn không hay





Lành thay Vô Lượng Bảo Tàng Vương!




Hay dùng bảo tàng che thế giới




Làm cho chúng sanh ra khỏi khổ




Tuy được thoát khổ mà không hay




Lành thay Vô lượng Đại Pháp thọ!




Bóng mát che khắp tam thiên giới




Làm cho tất cả đều mát mẻ




Được lìa nóng bức mà không hay




Lành thay Vô lượng
đại phát cảnh!




Chiếu soi phá mọi chốn tối tăm




Khiến từ nơi tâm phát trí huệ




Thế nhưng kẻ kia vẫn không hay




Lành thay Như Lai chỉ một lời!




Ai nghe cũng đều được một vị




Nhưng lại thấm nhuần khắp chúng sanh




Cho nên gọi là Đại từ bi




Chúng con hạ tiện trí phàm phu




Muốn dùng tất cả lời xưng tán




Đầy đủ lòng thành xin dâng lên




Xin nguyện Thế Tôn thương xót nhận.




Sau khi, A Nan khen Phật xong, lại bạch rằng: “Con nay xưng tán Như Lai,
Thần đức của Thế Tôn con không nghĩ suy được, thần lực như vậy, tự
tại như vậy đều quyết định, con chưa từng nghe thấy, vì sao hôm nay, Như Lai lại nói ra? Từ lâu Ngài đã biết chúng sanh
căn tánh thấp hèn, khó có thể học được, nhưng sao trước đây Ngài
không nói?”.




Phật bảo A Nan: “Tâm Trung Tâm của Ta đây thường ở trước Ta. Khi Ta chưa ra đời, Tâm này đã có. Khi
Ta chưa thọ sanh, Tâm này đã thọ sanh.Ta chưa được định tâm, Tâm này
đã được Định. Như vậy, Định, Huệ, Lực là trụ xứ của Phật, là
chỗ Phật ở, là chỗ Phật làm, chỗ Phật suy nghĩ, chỗ Phật hiểu
biết, chỗ Phật làm Đạo, chỗ Phật quyết định. A Nan!
Tất cả Bồ Tát, Kim Cang, Chư Thiên, phàm phu, các loại quỷ thần, Dạ
Xoa, La Sát, Tinh tú, các loại huyễn thuật Ma vương, tất cả các loài
như vậy nếu làm theo Tâm Ta tức được thần thông; nếu không làm theo
Tâm Pháp này mà ham muốn đắc thần thông là không bao giờ được.”.




A Nan lại bạch Phật rằng: “Tâm của Như
Lai, Bồ Tát Thập địa còn không thể biết, nếu có kẻ biết được thì
đã là Phật; nay chúng sanh đều là hạ tiện, tâm không hiểu rõ các
Nhân duyên tướng loại”.




Phật bảo A Nan: “Nay Ta sẽ đem các tướng loại Nhân duyên Tâm Trung
Tâm vì người mà nói, không lìa chúng sanh. Tâm này
có 12 loại và như thế nào là Phật Tâm Trung Tâm.




* Một là
, tự tâm ở trong
Khổ thấy chúng sanh khổ muốn cứu vớt, có Tâm quyết định thương xót
chúng sanh, tự thân có Khổ mà không lìa Khổ hoặc tự thân không
thấy chúng sanh khổ, nơi các Pháp không đắc được. Hay
thấy chúng sanh khổ, cứu vớt họ khiến cho mau được xa lìa khổ là Tâm
Phật thứ nhất.




* Hai là,
xem các Khổ trước mặt mà không thối
chuyển,Tâm không thay đổi bất định, tự thân có Khổ cũng như vào Tam
muội, nếu có các loại phiền não nhiễu hại tưởng như ở Định Tứ
Thiền, tất cả oan gia đều tưởng như cha mẹ. Muốn cứu các Khổ, phải
tưởng các kẻ khổ kia như con cháu trông cầu cha
mẹ, tức là Phật Tâm thứ hai.




* Ba là
, tưởng Tâm mình như
Tâm người, Tâm người như Tâm mình, cho đến tất cả thân phần, mong
muốn của mình cũng như của người, của người cũng như của mình; tất
cả các Tà tâm, Chánh tướng, các Pháp bảo cũng như thân mạng, tam
quang cũng như mắt mình, cho đến thuốc thang, đồ ăn uống, bệnh khổ …
thảy đều tưởng như trên, đây là Tâm thứ ba.




* Bốn là,
chỗ Phật niệm
tưởng là Phật, Ta thường ở nơi đó không xa lìa như vua Trời Tỳ Sa Môn
chắp tay lễ tháp Xá Lợi, như mười Kim Cang Tạng cùng giữ một châu
Kim Cang, như mười thế giới Thần Bạt Chiết La cùng giữ một chày Bạt
Chiết La, như mười thế giới xem một ánh sáng mặt trời, cũng như mười
thế giới chúng sanh cùng một thế giới, tức là Phật Tâm thứ tư.




* Năm la
ø, tất cả lời nói
của Phật thuyết Pháp, ấn khế, thần thông, các thứ thần lực lớn
nhỏ, cho đến tư tưởng hoặc nhỏ hơn như suy nghĩ, luôn luôn không hề
ngủ nghỉ, thân phải như Pháp trọng Đại Thiên thế giới, kẻ tin hay
không tin đều không thể làm hại dù trong giấc ngủ, là Phật Tâm thứ
năm. Nếu được như vậy tức được Ngũ nhãn Thanh Tịnh,
thấy rõ các thế giới.




* Sáu laø dùng Lục Độ để nhiếp Tâm, nhập Từ Mẫu Định nhiếp
Tỳ Na dạ Ca làm sáu loại Thiện Trí Thức:




- Thứ nhất : Loại Tỳ Na Dạ Ca tên là Vô Hỉ, loại này thường
khiến Tâm vui giận không định, ham làm các Pháp sát hại, nên dùng
Sằn Đề Ba La Mật khiến vào Từø Mẫu Định, làm Trì Nhẫn Vương




- Thứ hai : Tỳ Na Dạ Ca tên là Huyễn Hoặc, loại này tới thời
Tâm phiền không định, không quyết định các Pháp và chúng sanh, khi bị
như vậy dùng Thiền Ba La Mật nhập vào Bất Động Trí




- Thứ ba :
Tỳ Na Dạ Ca tên là Vọng Thuyết, loại này lại thời khiến hay vui vẻ,
ham thích tâng bốc, sanh lòng quyết định những việc kỳ lạ, hay tin
tưởng vào lời nói ngông cuồng, chỗ thanh tịnh lại hay sanh Tâm tham
dục,Tâm đắm nhiễm khiến cho điên đảo, tức dùng Thi Ba La Mật nhiếp
làm Thiện Xảo Phương Tiện.




- Thứ tư :

Tỳ Na Dạ Ca tên là Chấp Phược, loại này tới thờng khiến hành giả
kính lễ Ma Vương, Tỳ Na Dạ Ca thường cùng hành giả và tất cả Ma Vương
làm bạn bè, hiện oai thân to lớn khiến cho quy y, nhiếp cho Tâm tin
chắc; biết vậy tức dùng Tỳ Lê Gia Ba La Mật mà nhiếp làm Đại Lực
Phương Tiện Vương




- Thứ năm :
Tỳ Na Dạ Ca tên là Khổ Ý, thường khiến người sanh tâm hy vọng, tu
hành chỉ lo cầu tài vật, trước dùng tài tâm sau đó ban cho tiền bạc
cùng với vua Ngạ Quỷ ở nơi đồng trống, người này tâm thường không
biết đủ, vì không biết đủ nên tất cả thần lực bị mất, tức dùng
Đàn Ba La Mật nhiếp hiệu là Đại thí Chủ Vương, từ khi nhiếp phục,
tâm tham tức trừ.




- Thứ sáu : Tỳ Na Dạ Ca tên là Tác Vi, loại này dến thì chỉ
nói việc phi pháp, không có Chánh trí, vọng sanh các Pháp tướng,
không lợi cầu lợi, ham làm các lý luận kỳ lạ, muốn trở thành Đạo
sư. Ở trong Chánh Pháp, sanh tâm chê bai, nên dùng
Bát Nhã Ba La Mật mà nhiếp phục làm Trí Huệ Tạng Vương. Lại
có Tỳ Na Dạ Ca tên là Đoạn Tu, loại này thường làm tất cả tâm
niệm đều tận, lại sanh các bệnh ham ưa ngủ nghỉ, phát động ngoại ma
làm nội chướng, khiến người sợ sệt, khởi nhiều vọng kiến, suy nghĩ
nhiều Pháp lạ kỳ. Các thứ như vậy, đều dùng Vô Úy mà nhiếp phục,
chỉ dùng Đại Bi nguyện làm quyến thuộc, kẻ đó tức tự thần phục,
thần phục rồi không nên trách mắng, dùng làm Tâm thứ sáu.




* Bảy
laø, ở nơi Thất
Bồ Đề phần, cần tu học có các công đức thường ban thí hết, để
nhiếp khắp tất cả Khổ chúng sanh, thân luôn thọ trì khiến tất cả
chúng sanh nghe hiểu biết, để xa lìa ma cảnh.




* Tám
laø, ở trong Bát
Thánh Đạo cần phải tinh tấn tu, thường sanh Thập tín, giữ hạnh Thập
Thiện, không nói lỗi người khác, hoặc khen mình chê người, làm ơn không
mong báo đáp, thường hay Bố thí, giữ gìn Pháp không mệt mỏi, y theo
giáo Pháp không mất bổn tâm.




* Chín là,
không nghi Pháp,
không ngã mạn, không tăng thượng, không chấp trước, không lừa dối,
thường hành chân thật, tất cả các nguyện gì khi tu thảy đều nhớ
biết, luôn luôn hộ trì Phật và Tăng bảo, lễ các tôn tượng không
được khinh mạn, tất cả đều y như Pháp.




* Mười
laø, đầy đủ
Thập Tín: một là tin Phật thường ở nơi đời có đại diệu dụng
thần thông; hai là tin Pháp sâu mầu có sức đại phương tiện,
có quyết định lực; ba là tin Phật thương xót tất cả chúng sanh
hay nói các Pháp yếu để trừ diệt khổ; ( Bốn ? Trong Kinh không có
ghi ); năm là tin Phật ở nơi đời ngũ trược, thường hiện từ
quang; sáu là tin Phật trong Lục tặc như cha mẹ; bảy là

tin Phật nơi Thất khiếu thường nói Phật âm; tám là tin Phật
nơi 62 kiến không có thương ghét; chín là tin Phật nơi đời ngũ
trược thường độ chúng sanh, nói tâm vô ngại không có bờ bến; mười
tin Phật, Bồ Tát và các Kim Cang thường hiện thần lực để hóa
độ chúng sanh thảy đều thành Phật .




* Mười một
laø ở nơi
các Pháp, các lời nói luận nghĩa, biện bác không được khen chê,
phải thận trọng, không bỏ giàu nghèo sang hèn, luôn tưởng nghĩ

Bồ Tát như trước mặt, tất cả sợ sệt từ từ mà hết, nhờ Chư Phật
Bồ Tát tự nhiên tiêu diệt.




* Mười hai
laø, xem xét
tự thân nếu có chút kiêu mạn thời phải biết lấy, nếu có oán ghét
thường tự bỏ, thân nhiều mạn thì phải điều phục, nếu nhiều tham
cũng như cầm lửa, nếu nhiều dục thì tưởng như thịt thúi, nếu nhiều
cấu uế thường tưởng bạo ngục. Nếu thường xem xét như vậy, tức là
Pháp quyết định Phật Tâm Trung Tâm, do Phật tâm khiến vô ngại”.




Bấy giờ, A Nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy,
Phật Tâm Trung Tâm tức là cảnh giới của Phật sao? Cảnh giới chúng sanh sao? Nếu như
cảnh giới chúng sanh đồng với 12 Tâm, thì đây không phải chổ tâm
chúng sanh. Nếu chúng sanh làm được như trên, thì không có gì
phải nghi, nhưng làm sao chúng sanh có thể làm được như vậy?”.




Phật bảo A Nan: “Cứ thọ trì đi, mười phương sẽ làm
chứng, ông không thể biết được. Các ông muốn hiểu Phật Tâm Trung
Tâm sao?”.




A Nan liền bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như vậy Pháp khế nói không có sai. Nay con xin hỏi,
Phật có đồng ý không?”.




Phật bảo: “Ông muốn gì, cứ tùy ý mà hỏi!” .




A Nan thưa với Phật rằng: “Nếu như có
chúng sanh muốn cầu thoát Khổ, muốn cầu hàng Ma, muốn cầu nhiếp trì,
có Pháp nào khác hay là chỉ có Tâm Trung Tâm thôi? Nếu dùng Tâm
Trung Tâm thì cách thức ra sao?”.




Phật bảo: “Ông muốn biết, hãy lắng nghe đây! Nay Ta vì người nói Tùy
Tâm Đà La Ni, tức nói Chú rằng:



- Úm ma ni đạt rị hồng phấn tra






(
OM - MANI DHÀRE HÙM

PHAT )Ï




Nếu người thọ trì không cần chọn ngày giờ, tháng, năm, sao, không
cần trai giới, chỉ ở trước Như Lai hoặc trước Tượng, trong Tịnh thất
hoặc trước Tháp Xá lợi, tùy ý dùng các loại hương hoa cúng dường.
Ngày Rằm, tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo mới, tùy theo
sức mà sắm các món cúng dường, vì Hộ Pháp cần ăn ba món bạch
thực. Làm một Đàn vuông lớn nhỏ tùy ý, treo đèn phan, tụng Tâm
Trung Tâm chú và Tùy Tâm Chú mỗi thứ 1080 biến, ngay nơi chân tượng
nằm ngủ sáng chiều; Như Lai liền vì hiện thân, các vị Thánh Kim Cang
cũng đều hiện thân, mười phương Bồ Tát Chư Thiên đều lại vi nhiễu,
tất cả các nguyện đều được đầy đủ. Nếu trong thân tự biết có xúc
phạm hoặc là có trọng tội, tụng đến vạn biến tức được thân quang
minh thanh tịnh của Phật, cho đến tất cả các Pháp nếu tụng trăm vạn
biến không gì là không biết, không có Pháp trì khác. Nếu có các
tượng hay làm người sợ sệt, chỉ dùng ngón giữa tay phải co vào trong
lòng bàn tay, lấy ngón cái đè móng ngón giữa, đọc thầm Tùy Tâm
Chú không quá 100 biến tự nhiên hàng phục, độc hại hỏa tai dùng hơi
thổi tức trừ, lại hay trừ diệt các việc khó trừ khó diệt. Nếu có
tất cả các việc chướng ngại, lấy hai tay chắp lại, hai ngón trỏ hai
ngón vô danh câu nhau bên trong, các ngón kia dựa nhau trong lòng bàn
tay đâu mặt, hướng bốn phương mỗi phương tụng 108 biến, tội cấu tiêu
trừ chướng nạn đều diệt. Nếu có Tỳ Na Dạ Ca muốn điều phục tức
điều phục, nếu không chịu phục dùng ngón chân phải bấm xuống đất
tụng chú 108 biến, Tỳ Na Dạ Ca bảy lỗ ra máu liền hàng phục. Mười
phương thế giới các vị Thông linh và các Tiên trì chú, bốn bộ Vệ Đà
và tám Tạng ở nơi Long Cung có các Pháp bí mật, các loại hữu tình
tùy tâm kêu gọi thảy đều thuần phục, trừ làm Ác Pháp là không
được. Nếu muốn cầu các hương Trời để cúng dường,
ngửa mặt lên trời tụng 108 biến, hương tức xuống. Muốn đến
cảnh giới của Phật Bồ Tát ở quốc độ trong mười phương, dùng ngón
giữa chỉ lên trời kêu Ma Hê Thủ La cùng đi theo,
các cõi Trời không dám vào; khi lâm chung, mười phương Chư Phật đến
trụ trên đầu dẫn đến các thế giới của Chư Phật. Muốn cầu thân này
không diệt, tức cảnh giới của Phật, tụng cho đến 10 ức biến, liền
được sống lâu cùng trời đất. Trừ không chí tâm, nếu
chí tâm mà không được, Ta tức vọng ngôn, tất cả Kinh giáo đều là ma
nói không phải Phật nói.



Lại
có Pháp muốn cầu tiền tài, lấy đồng tiền đồng để nơi tiết giữa
chú thầm 108 biến lấy chỉ vào nơi tim người kia,
người đó liền cho, tùy miệng mình xin. Nếu muốn kêu gọi quan, chúa,
phi hậu v.v... lấy một cụm hương thơm tốt, viết
tên kẻ kia đem để nơi ngón trỏ, chú 1080 biến, kẻ kia tức lại. Nếu cần các thứ lúa gạo … lấy ba thứ để nơi ngón giữa, y
Pháp trên tức được tùy ý. Nếu muốn mọi người hoan hỷ, co
ngón giữa để vào miệng chú 108 biến lấy ngón đó chỉ, người kia tức vui vẻ thuận phục. Lại có một Pháp muốn
kêu các Rồng lấy nước giếng, chú 1000 biến đem rảy nơi nước có
Rồng, Rồng kia tức lại cung kính. Lại có Pháp, nếu Trời không mưa,
lấy Long não và nước giếng một hộc, chú 1000 biến giữa trưa rồi để
ra ngoài nắng, tức có Rồng trắng từ trong nước vọt ra, trời liền
mưa; nếu mưa nhiều, dùng đất màu vàng hoặc đỏ, trên giấy vẽ một con
rồng, chú 1080 đem quăng xuống giếng, tức có Rồng đỏ vọt lên, trời
liền tạnh.




Lại có Pháp dùng bơ 1 cân, chú 1000 biến tùy theo
hướng gió mà đốt, các loại lúa má ruộng đất được tốt tươi. Lại có
Pháp, nếu trong thế gian có các bệnh tật, lấy giấy đỏ vẽ hình sao
Chổi chú 1080 biến, bệnh tức trừ, sao này có 6 sao nhỏ hợp thành.
Lại có Pháp, nếu trong nước có nạn đao binh nổi lên, bốn phương
không yên, lấy một cây đao chú 1000 biến, tùy hướng có giặc mà chỉ
tức có thần binh hiện, các nạn ngoại xâm đều được tiêu trừ. Lại
có Pháp, nếu muốn tập các thứ nghề nghiệp, văn chương, công xảo,
nội kinh, ngoại điển, các thứ huyễn thuật, cảnh giới chỗ làm của
Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, thì mỗi sáng chiều chú 1000 biến, qua 100
ngày không gì là không biết. Nếu muốn được báu của Hải Long Vương,
Chư Phật, Long Tạng thọ ký, cần thiêu năm loại hương: Đàn Hương, Trầm
Hương, Huân Lục Hương, Long Não, Tất Lực Ca … Vào ban đêm thanh tịnh,
tụng chú mặt ngó bốn phương, mỗi phương 1080 biến, bấy giờ Long Vương
chủ bốn phương đem các vật báu tự đến cho.




Lại có Pháp, cần các báu nơi đất để dùng làm các việc Công đức,
chỉ nói rằng: ‘Ta cần báu này để làm các việc Công đức", sau
đó lấy chân đạp xuống đất, chú 1080 biến tức thời mười phương Địa
thần cầm các báu đem dâng cho, tùy ý sử dụng; nếu vì danh lợi hoặc
dùng các việc ác thì không được. Lại có Pháp, nếu có người ghét
nhau, dùng năm thứ hoa, chú 108 biến rồi viết chữ Phật vào mỗi
loại, tức tự hòa thuận thương yêu. Lại có Pháp, nếu người trước đã
trì các chú mà không có hiệu nghiệm, nên lấy áo của người đó chú
1000 biến đem đi để nơi tòa Phật qua 7 ngày, xong lấy mặc vào, sau đó
tất cả các Pháp yếu đều được hiệu nghiệm, chư Bồ Tát và Kim Cang
Tạng tự nhiên thần phục, sai sử mau chóng, mọi việc đều được.




Lại có Pháp, nếu có tật bịnh kiếp nạn nổi lên, lấy 7 loại độc
dược là: Ô Đầu, Phụ Tử, Lang Độc, Bã Đậu, Hổ Phách, Quang Minh Sa
Long Não, Hương Nhục, Đậu Khấu chú 1080 biến, dùng nước ngâm, lấy
nước đó rảy lên thân người bệnh, không bệnh gì không lành. Nếu
chân tay co quắp, chú đao 1000 biến mà chỉ đó, tức cử động được,
trọn đời không bị lại nữa.”.




Phật bảo A Nan: “Nếu Ta nói các Pháp yếu ra, thì cùng kiếp cũng
không hết được. Nếu có cầu nguyện điều gì y như trên
thảy đều thành tựu, tất cả mọi việc làm không luận lớn nhỏ đều
được thành tựu không có được nghi ngờ, nếu hay trì tụng sẽ được bất
thoái chuyển cho đến thành Phật. Nếu hay mỗi ngày làm Pháp
này, trì tâm này thì thường ở nơi thế gian làm Đại Thọ Vương, che
khắp chúng sanh khiến lìa các Khổ, khiến đều được Phật tâm, cũng như
đều được bất thoái đều do oai lực của người trì tụng.”




Khi Như Lai nói chú pháp và các công năng xong, tất cả Bồ Tát, Kim
Cang, Thiên Tiên hào quang nơi thân thảy đều ẩn mất, chỉ có Phật
quang chiếu khắp cõi Diêm Phù Đề, tức thời ở trên hư không Chư
Thiên đều bị xoay tròn, tất cả Ma Cung đều đổ nhào, phút chốc tiêu
tan không còn gì cả, đến cả đại địa sáu lần chấn động. Mười phương
thế giới các Bồ Tát đều cầm tràng hoa đến cúng dường Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, ở trong các hoa phát ra âm thanh đều nói sự việc của
Phật Tâm, ở trong Phật Tâm lại ứng hiện bàn các chỗ cần dùng
không thể nghĩ, chỗ các hoa hương bất khả thuyết âm thanh đều nói
các Thần lực bất khả thuyết, các Bồ Tát dùng lực Phật Tâm Trung
Tâm biến hiện thần lực bất khả thuyết. Chư Bồ Tát ở mười phương thấy
quang minh Phật chiếu khắp cả Diêm Phù Đề, từ trong tâm các vị dùng
kệ khen Phật:




Lành thay ánh sáng
này! Là sức Phật
Trung Tâm




Ma Vương vừa xem thấy
Thân vô hình tiêu tan.



Lành
thay ánh sáng nầy! Sức vô
ngại của Phật



Khiền Ma Vương tự
diệt Mười phương Bồ
Tát lại.





Lành thay đây ánh
sáng! Là lực Phật
Tùy Tâm



Sức
lực Chư Bồ
Tát
Chí đến loại phàm phu




cấp, Bà lầu na
Các
thần Quỉ tử mẫu



Các
Trời, chúng Dạ Xoa

Thảy đều lại cúng dường.




Tất cả chúng Kim
Cang Cùng
với Tự Tại Thiên



Phạm Vương cõi Hương Tích Thảy
đều lại quy y.



Tất
cả các tinh tú
Thần
Phong Hỏa Lôi Điển



Tứ
Thiên, các Long Tạng Đem hoa
lại cúng dường.



Trên
dưới khắp bốn phương Hư không và đáy biển



Tuôn
chảy khắp mười phương Như Lai Tâm Trung Tâm



Trọn
kiếp nói không
tận Giả sử trăm
ngàn biển



Cũng
không bằng một hào Giả sử trăm thế
giới



Không
bằng một mảy lông Đầy đủ tất cả trí



Cũng
không bằng Tâm Phật Chúng con tu nguyện lớn



Trải
qua vô số
kiếp
Nơi các Đức Như Lai



Chưa
ngộ Tâm Trung Tâm Như Lai Tâm Trung
Tâm



Chỉ
có Phật là
hiểu
Bồ Tát khó biết đặng



Chẳng
bằng một ánh quang Hóa hiện cả mười phương




bởi Tâm Trung Tâm
Cho đến các hữu đảnh



Thảy
đều tùy tâm
sanh
Chư Phật nói tùy tâm



Nương
theo tùy tâm
học Nguyện
xin tu học xong



Xin
được Phật thọ

Nếu được tùy tâm thành



Tức thời thành Chánh Giác".



Bấy giờ Đại chúng nghe Phật nói xong, thảy đều chắp tay trì Phật Tâm Trung Tâm. Khi đó, Đức Như Lai duỗi
cánh tay sắc vàng ấn đảnh thọ ký cho. Các Bồ Tát và Đại chúng được Phật thọ ký xong, hoan hỷ
phụng hành.







Ngày
10/05/1996
Về Đầu Trang Go down
 
PHẬT TÂM KINH PHẨM
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Tâm lý kinh doanh
» Bài bình luận của thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh
» Cá Hổ - Piranha 2010 DVDrip 'kinh hết cả dị...'
» 8 món ăn kinh dị nhất Trung Quốc
» Hướng dẫn nghiệp vụ hàng hải (Capt. Tiếu Văn Kinh)

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu! :: >>>Mật Tông-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Sosblogs.com