WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 KINH CHÚ MÂU LÊ ĐÀ LA NI

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486767
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: KINH CHÚ MÂU LÊ ĐÀ LA NI   17/1/2010, 10:39

MẬT TẠNG VIỆT NAM
SỐ 31






KINH
CHÚ MÂU LÊ ĐÀ LA NI






Mật Tạng Bộ 2 . No. 1007 (
Tr
.
657 - Tr.668 )






Hán dịch : Không có tên người dịch


Việt dịch : Sa Môn Thích Quảng Trí


Sưu Tập Phạn Chú : Huyền Thanh






Nếu muốn thọ trì Mâu Lê Đà La Ni (
Mùle dhàrani: Căn Bản Tổng Trì ) được oai nghiệm, cần
phải giữ gìn ba nghiệp cho thật thanh tịnh. Sau đó, tìm nơi có tháp Xá
Lợi rồi chọn ngày lành tháng tốt từ ngày mồng Một cho đến ngày
Rằm, hoặc dùng ngày mồng Một cũng được, nếu lấy ngày Rằm là tốt nhất . Dùng nước thơm tắm gội, mặc quần áo mới
sạch, tùy sức cúng dường Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang v.v…đốt 49 ngọn
đèn và Thời hoa ( Hoa tùy theo mùa ) cúng dường . Cần ăn Tam Bạch
Thực, mỗi ngày nhiễu quanh Tháp và Mạn đà la, đi một vòng tụng một
biến như vậy mãn 108 biến, đến giờ ngủ nghỉ thì ngủ trước Tháp, khi
gần sáng sẽ thấy Chư Phật, Bồ Tát hiện ra trong mộng, được như vậy
thì tất cả nguyện cầu đều được đầy đủ .




Lại tụng Đà La Ni này mãn ba vạn biến, ngũ nghiệp trọng tội đều
được tiêu trừ, nếu trì Đà La Ni này cầu hiệu nghiệm, không được
khởi tham, sân, si, xa lìa các dục nhiễm; chỉ có chuyên nhất như vậy,
trì tụng thảy đều mau chứng nghiệm. Nếu mỗi ngày tụng 108 biến, hết
thảy việc mong cầu không gì không được, các độc không hại, độc
trùng không dám cắn, không bị nước trôi, không bị lửa đốt, tật bệnh
không sanh, cho dù trong nước có các giặc giã tai họa cũng không hại
được; cho đến mắt, mũi, tai, lưỡi, miệng, răng, các thân phần đều
không tật bệnh, hết thảy các ác không thể hại. Nên biết Đà La Ni
này có oai thần rất lớn, hay trừ hết thảy mọi việc sợ sệt, hay
diệt hết thảy gốc rễ các tội, giữ gìn các thứ công đức, đầy đủ
các hạnh Ba La Mật cho đến hay khiến mau thành Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề. Nếu trên đỉnh núi cao trì tụng, các loại chúng sanh nơi đó,
nhìn thấy Đàn và Chú sư, thảy đều xả bỏ Báo thân, mãi mãi không
còn đọa vào ba đường ác. Nếu trong Thiên Miếu tụng
chú này, tất cả các Thần đều lại phụng trọng. Nếu ở trong ao Rồng tụng chú này, các Rồng đều lại phụng
trọng. Nếu trước Mặt trời tụng chú này, Nhật
Thiên tử lại phụng trọng. Nếu ở trước tượng Kim Cang tụng chú
này, Kim Cang hiện thân ban cho các nguyện .




Nếu chú Xương Bồ 8000 biến mà ăn thấy Yết La Xà,
nói ra điều gì đều không dám trái. Nếu chú Hồ Thúc 8000 biến
đem ngậm trong miệng, hay khiến mọi người thấy đều hoan hỷ, nói gì
bảo gì thảy đều làm theo. Nếu chú Bạch Giới Tử 8000 biến vãi lên
không trung, hay khiến ác phong, ác vũ ( bão, lụt), sấm, sét, các
thứ tai họa đều hết. Nếu chú muối 800 biến mà ăn hay khiến các
ngoại đạo, kẻ ác tâm, ác tâm tiêu trừ đều lại quy y
.




Nếu chú Bạch Giới Tử, mỗi biến mỗi kêu tên Yết La Xà, và thiêu
mãn 800 biến, hay khiến Yết La Xà trong hang động cùng quyến thuộc ra
nghinh đón. Nếu chú An Tức Hương 8000 biến thiêu, xông người bị quỷ
nhập, liền tự nói tên, Chú sư bảo gì đều không dám trái. Nếu muốn
cầu mưa, lấy phân trâu xanh làm một con Rồng có ba đầu, dùng màu đỏ
tô vẽ, làm một Đàn vuông, đài cao, bằng phẳng tùy ý mà làm, dùng
màu xanh mà sơn, để Rồng trên Đàn, bốn góc đàn để bốn bình nước
thơm và bốn thứ hương đốt : một là Huân Lục Hương, hai là Chiên Đàn
Hương, ba là Tô Hợp Hương, bốn là An Tức Hương; lại ngoài Đàn làm
một đàn nhỏ chu vi bốn khuỷu, dùng ngưu phẩn mà xoa đắp lên mặt,
bốn góc để bốn bình nước : một bình hòa Sữa, một bình hòa Lạc, một
bình hòa Cháo sữa, một bình hòa Yên Chi, Trong đàn, đốt tám ngọn
đèn, dùng hoa màu đỏ rải khắp đàn để trang nghiêm, mỗi góc để mỗi
mũi tên, dùng lụa năm màu cột chuôi tên lại, dùng năm màu cột nơi
đầu mũi tên, dùng bảy loại lúa rải trong đàn, dùng năm màu tô vẽ
trang nghiêm nơi đàn, dùng các thứ hoa quả theo mùa dâng cúng trong
đàn. Chú sư ngồi xoay mặt về hướng Đông, chú Bạch Giới Tử 8000 hột,
mỗi chú lia đầu Rồng một cái, như vậy mãn 8000 biến bốn phương mây
kéo lại tuôn mưa xối xả, từ đó về sau các loại Rồng đều phụng
trọng. Nếu mưa quá nhiều, chú Bạch Giới Tử 800 biến ném vào nơi có
Rồng, mưa liền dứt . Khi làm
Pháp, không được nói năng. Nếu khi cầu mưa, gặp gió mạnh, gió
dữ, sấm chớp làm chướng không mưa được, dùng cây Khư Đà La làm một
cái Quyết ( cây cọc nhọn ) đóng bên nơi có Rồng, hết thảy chướng
nạn đều tiêu tan. Nếu cầu mưa bị các chướng nạn, khiến không mưa
được, ở trong đàn vẽ một Tỳ Na Dạ Ca lấy 108 hột Bạch Giới Tử, mỗi
hạt chú một biến ném nơi Tỳ Na Dạ Ca, mãn 108 biến hay khiến các
chướng nạn đều bị cột trói, không thể làm chướng ngại được, liền
đổ mưa xuống. Việc xong, dùng sữa rửa tượng Tỳ na
Dạ Ca rất là hoan hỷ, từ đó về sau hết thảy điều cầu xin đều được
như ý. Người trì chú thân thề và quần áo cần phải rất là thanh tịnh .




Căn bản Đà La Ni Công Đức nói sơ lược
như sau
:




- Na ma tát ra bà đát tha nghiệt đa nẫm ô úm tỳ bố ra yết bệ ma
ni bà lộ bệ đát tha đa đạt ra thiết nễ ma ni ma ni, tô bát ra bệ tỳ
vị lê sa yết ra cam sa lê hổ hồng hổ hồng thập phạ ra thập phạ ra ra
bột đà tỳ lộ kiết đế cự hê da địa sắc sỉ đa yết bệ sa ha .




( NAMAH SARVA TATHÀGATANÀM. OM- VIPULA
GARBHE MANI PRABHE TATHÀGATÀ NIDAR’SANE MANI MANI SUPRABHE

VIMALE SÀGARA GAMBHIRE HÙM HÙM JVALA
JVALA BUDDHÀ VILOKITE GUHYA ADHISTA GARBHE

SVÀHÀ )




Thứ đến nói Mâu Lê Đại Mạn Đà La Công Đức, nếu tụng mãn mười vạn
biến được thấy hết thảy Chư Phật, tụng mãn hai chục vạn biến thấy
tất cả Bồ Tát hành địa, tụng mãn ba chục vạn biến được vào tất cả
Mạn Đà La, trì hết thảy chú đều hiệu nghiệm. Tụng
mãn bốn chục vạn biến được làm Vua trong hàng trì chú. Tụng mãn năm chục vạn biến, được thấy hết thảy cung A Tu
La. Tụng mãn sáu chục vạn biến được thấy tất cả Phục tàng trong
lòng đất. Tụng mãn bảy chục vạn biến được
thấy tất cả việc ba đời. Tụng mãn tám chục
vạn biến người này liền được Bảo Hải Tam muội. Tụng mãn chín chục vạn biến được Chư Phật Chánh hạnh Diệu
giác địa. Tụng mãn trăm vạn biến được hết
thảy Chư Phật thọ ký Bồ Đề. Nếu người phạm Ngũ nghịch Vô
gián các tội, tụng chú này mười vạn biến, các tội như trên đều
được tiêu trừ, được vào bất thối, lại biết được hết thảy tâm niệm
thiện ác của kẻ khác, lại được Nhãn căn thanh tịnh, Nhĩ căn thanh
tịnh, Tỷ căn thanh tịnh, Thiệt căn thanh tịnh, Thân căn thanh tịnh, Ngũ
căn thanh tịnh để tự trang nghiêm. Tụng mãn mười vạn biến được các
công đức như trên đã nói, tiêu diệt hết thảy các tội cho đến trăm
vạn biến, hai mươi vạn biến trong mỗi số tùy theo được vô lượng vô
biên công đức, các công đức bội thăng như trên gấp trăm ngàn lần .




Lại nữa tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo sạch mới, dùng Thạch lựu bỏ
trong đồ bằng đồng giã hòa nước để trước Phật, dâng cúng ba món
Bạch Thực từ mồng Tám cho đến ngày Rằm, tụng chú mãn mười vạn
biến tô Càn đắc ( Thạch lựu) hiện ra ba tướng:
nếu nước hiện, đem bôi nơi trán tùy ý đi đến đâu đều được,
làm Vua trong hàng trì chú. Nếu khói hiện, lấy bôi nơi trán, nhỏ vào
mắt liền thấy nơi chỗ của mười phương Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, tất
cả các Ma không dám dùng mắt ác mà ngó, tất cả các phap yếu đều
được đầy đủ, tất cả công đức thảy đều thành tựu. Lại
nếu hiện tướng lửa, dùng bôi nơi trán liền được Thấp Phạ Ra Ni Tam
muội. Trong 33 cõi Trời được tối thắng, mọi việc đều tự tại .




Lại nếu trên đỉnh núi tụng một vạn biến, ở nơi Diêm
Phù trong các thành vua, trong các chủng tộc, được đại tôn trọng.

Nếu vào trong chỗ có Rồng, tụng 8000 ngàn biến, tất cả Rồng đều
cung kính tôn trọng. Nếu chú Bạch Giới Tử 8000 biến ném lên hư không
tức liền có mưa, tất cả các Rồng đều thuận phục .
Nếu ngày ngày tụng chú này, công đức quả báo không thể nghĩ bàn,
không thể nói hết được .




Lại dùng cái bồn sạch đựng đầy nước sạch, tùy nơi chỗ ở có các
thứ hoa quả cây cối, lấy các ngọn non mềm bỏ vào trong bồn, lại
lấy Nhân Sâm, Càn Đà Bà La Phạ, Bạch Giới Tử, Hoa Uất Kim, Chiên
Đàn v.v…như vậy các thứ dược vật đều bỏ vào trong nước, chú một
vạn biến, các bệnh tật trong thế gian lấy nước này mà uống và tắm
rửa, các bệnh thảy đều tiêu trừ cho đến các tội thảy đều tiêu
diệt, còn khiến người khác làm yểm đảo đều tiêu, mọi người đều
cung kính tôn trọng, đều là do sức chú và thuốc, lại khiến người
này có đại oai đức. Nếu bị lác ghẻ các thứ điên
cuồng, uống nước và tắm rửa, các thứ ác nghiệp đều dứt. Nếu
đàn bà không con, uống và tắm rửa nước này sẽ có con. Nếu bị
các việc xấu ác, vô phước làm gì đều không được, uống và tắm rửa
nước này, cầu mong điều gì đều được xứng ý .




Bấy giờ Thế Tôn lại nói công đức của Tâm Đà La Ni :




- Úm- ma ni bạt chiết lặt hổ hồng .




( OM- MANI VAJRE HÙM )



Lại
nói Tùy Tâm Đà La Ni :




- Úm- ma ni đạt lị hổ hồng phấn tra




( OM- MANI DHÀRE

HÙM PHAT )



Lại
nói công đức Ô Bà Ra Đại Mạn Đà La: Nếu tụng mãn một vạn biến Tỳ
Na Dạ Ca, quyến thuộc của Ma, Ác thần, các quỷ đều thuận phục, ôm chân
Chú sư cầu xin tha mạng và nói rằng: "Có bảo điều gì, thảy đều
làm theo” . Nếu tụng mãn hai vạn một ngàn biến, trong
các chư Thiên đều được tôn trọng, các Rồng đều lại cung kính thuận
phục. Tụng mãn ba vạn biến, hết thảy Dạ Xoa, Ác quỷ, Thần
đều thuận phục làm theo. Tụng mãn năm vạn
biến, các việc mong cầu không kể gần xa, tùy theo tâm niệm đều được
xứng ý, ở trong Dục giới, trong A Tu La, trong các loài chúng sanh làm
các việc thảy đều tin thuận. Nếu tụng mãn tám vạn biến, hết thảy
Kim Cang, quyến thuộc bộ tộc đều đến trước mặt nghe theo
lời sai khiến. Nếu tụng mãn chín vạn biến, hết thảy
Bồ Tát hoan hỷ hộ niệm. Tụng mãn mười vạn, trong mộng Chư
Phật hiện thân dạy rằng: “Thiện nam tử ! Có
nguyện điều gì đều được viên mãn, mười phương cõi Phật tùy ý mà
đến, hết thảy các chú và các Pháp, người đều được thành tựu Chúng
ta thọ ký cho người quả vị A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, hết thảy
công đức, hết thảy quả báo, người đều đầy đủ" .




Ô Bà Ra Đại Mạn Đà La công đức lần lượt như sau :




* Chú Tọa :




- Ô úm ma ni quân trà lợi hổ hồng hổ hồng
sa ha




( OM- MANI KUNDALI HÙM HÙM SVÀHÀ
)




* Chú Kiết Đàn :




- Úm- ma ni tỳ xá duệ đà ra đà ra hổ hồng
ô hồng sa ha




(
OM
- MANI
VIJAYE DHÀRA DHÀRA HÙM HÙM SVÀHÀ )




Nếu Kiết đàn, tụng chú này và chú Bạch giới tử bảy biến rải trong

đàn .




* Chú Kiết Giới Mười Phương :




- Ô hồng thập phạ ra chân đa ma ni, lô chất
lặc nể hổ hồng hổ hồng phấn tra




(
OM
- JVALA
CINTAMANI RUCIRÀ’SYANI HÙM HÙM PHAT )
Ï



Nếu Kiết Giới, lấy nước hòa Bạch Giới Tử chú 800 biến rải khắp
mười phương.




* Chú Phược ( Cột trói ) hết thảy Tỳ Na Dạ Ca :




- Ô hồng mạt ni bà ra bà ra bà nể ha ra ha ra hổ
hồng phấn tra sa ha




(
OM
- MANI
PRABHAVATI HARA HARA HÙM HÙM SVÀHÀ )




Nếu muốn xua đuổi các Tỳ Na Dạ Ca chướng nạn, lấy tro hòa nước chú
21 biến tán rải khắp 10 phương, tất cả Tỳ Na Dạ Ca đều bị cột trói,
không thể làm chướng nạn được .




* Chú Kết Hộ Thân :




- Ô úm bạt chiết ra ma ni, để sắc tra để
sắc tra hổ hồng hổ hồng phấn tra.




( OM- VAJRA MANI TISTA TISTA
HÙM HÙM PHAT )



Nếu
muốn hộ thân tụng chú nơi hai tay bảy biến chà lên đầu
.




* Chú Kết Tịnh Y :




- Ô úm ma ni tỳ bố lặc địa lặc địa lặc hổ
hồng phấn tra




( OM- MANI VIPULE DHIRI DHIRI
HÙM PHAT )





* Chú Tẩy Thủ Diện :




- Ô úm tỳ địa do bạt đề yết ra yết ra ma ha ma nể hổ hồng hổ
hồng phấn tra.




(
OM
- VIDYU
VATI HARA HARA MAHÀ MANI HÙM HÙM PHAT



Muốn
rửa mặt và tay, chú nước rửa tay, mặt và rải nơi thân
.




* Chú Tẩy Dục :




- Ô úm tô nễ lệ ma ra thuật để ha ra ha ra bạt bà hàm tất lê hổ
hồng hổ hồng sa ha.




( OM- SUNIRMALA ‘SUDDHE HARA HARA BHARA
MAM ‘SIRE HÙM HÙM SVÀHÀ )



Nếu
khi muốn tắm gội, chú Bạch Giới Tử hòa nước 108 biến mà tắm .




* Chú Y Chú (Mặc y) :




- Ô úm ma ni đa lê hổ hồng hổ hồng phấn tra




(
OM
-
MANI DHÀRE HÙM HÙM PHAT )




* Chú Sách (Dây) :




- Ô úm địa lệ địa lệ tì ma ra gia lệ hổ hồng hổ hồng phấn
tra
( OM- DHIRI DHIRI VIMALA KARI
HÙM HÙM PHAT)




* Chú Hoa :




- Ô úm tát bà đát tha nghiệt đa bộ xá ma nễ hổ hồng hổ hồng phấn
tra




(
OM
- SARVA
TATHÀGATA PÙJA MANI HÙM HÙM PHAT )




* Chú Hòa Hương Nê Đàn ( Hòa bột hương) :




- Ô úm tát bà đát tha nghiệt đa kiên trà mạt nể sa
bạt ma ni hổ hồng hổ hồng




( OM- SARVA TATHÀGATA GANDHA MANI SPHARANA
HÙM HÙM )




* Chú Đốt Hương :




- Ô úm kế phiệt lặc đa mạt nễ a bát ra câu tra tô bạt ra ni tì ca trí hổ hồng hổ hồng




( OM- JVALITA MANI ABHRAKUTA

SPHARANA HÙM HÙM )




* Chú Đốt Đèn :




- Ô úm xá phạ lệ đa ca lê đa bát lê hổ hồng hổ hồng phấn
tra
( OM- JVALITA KRTA

BALE HÙM HÙM PHAT )




* Chú Thí đồ ăn uống cho các Thiên Thần :




- Ô úm bát ra phạt ra a yết ra phạt để sa ra sa
ra hổ hồng hổ hồng




( OM- PRAVARA AGRAVATI SARA
SARA HÙM HÙM )




* Chú Hiến Chư Thiên Cánh Mễ ( Bột gạo) :




- Ô úm ma ha mạt ni bộ lệ dã đà ra đà ra hổ hồng hổ
hồng
(OM- MAHÀ MANI PÙRAYA

DHÀRA DHÀRA HÙM HÙM )




Mỗi ngày lấy Cánh Mễ chú dâng cúng Thiên Thần




* Chú Dâng Hiến Đồ Ăn Uống :




- Ô úm ma ha mạt ni tì mạt ni hổ hồng hổ hồng
bạt ra bạt ra hổ hồng




( OM- MAHÀ MANI VIMANE
HÙM HÙM BHARA BHARA HÙM )




* Chú Đốt Lửa :




- Ô úm thập phiệt lê sa mẫu ra ca na mẫu đà ra
nễ hổ hồng hổ hồng




( OM- JVALE SPHURA GAGANA

PRATÀRANI HÙM HÙM )




* Chú Dây Màu Trắng :




- Ô úm a rô chất lệ ma nễ bát ra bá ra đa hổ hồng





( OM- ARUCIRE MANI PRAVARTTÀYA HÙM )




Chú dây 7 biến giăng làm giới đàn




* Chú Kết Già :




- Ô úm bạt chiết ra bạt nễ ca, ca kê để lệ chỉ lê hổ hồng hổ hồng
phấn tra




(
OM
-
VAJRAPÀNI KANAKAM TELE KARE HÙM HÙM PHAT )




* Chú Xâu Chuỗi :




- Ô úm tô bát ra phiệt để đa tỉ kê ma nể ma nể sa
ha




( OM- SUPRAVARTTITA VEGE MANI MANI
SVÀHÀ )




* Chú Bắt Đầu Cột Tâm :




- Ô úm kê bát ra bà đát tha da đa bá nộ xà bá kê tha ra tha ra hổ
hồng hổ hồng ma nể ca na nể sa ha




( OM- GAH SARVA TATHÀGATA VÀYU JAVA GAH

TARA TARA HÙM HÙM MANI KANANE SVÀHÀ )




* Chú Thỉnh Hết Thảy Như Lai :




- Ô úm tô tì bố ra bát ra phạ lị đồ lô đồ lô hổ hồng hổ hồng (
OM- SUVIPULA PRAVARE
DHURU DHURU HÙM HÙM )




* Chú Giác Ngộ Như Lai :




- Ô úm tát bà đát tha nga đa nẩm bà da xá phệ đát ra đát ra hổ
hồng ma ni ca na ninh sa ha




( OM- SARVA TATHÀGATANÀM VÀYU JAVE TARA TARA
HÙM MANI KANANE SVÀHÀ )




* Chú Thỉnh Bồ Tát :




- Ô úm tát tì bố ra bà đà nể ha ra hổ hồng




( OM- VIPULA VADANE HARA HÙM )




* Chú Thỉnh Chư Thiên và Long :




- Ô úm a tì tam ma da bạt chiết lê đà ra đà ra ô hồng




( OM- ABHISAMAYA VAJRE DHÀRA

DHÀRA HÙM )




* Chú Thỉnh Tứ Thiên Vương :




- Ô úm ma nễ tì ca bá để ô hồng




( OM- MANI VEGAVATI HÙM )




* Chú Kiết Hộ :




- Ô úm du bà ma ni hô rô hô rô hổ hồng




( OM- ‘SUBHA

MANI HULU HULU HÙM )




* Chú Nhập Đàn Trì Tụng :




- Ô úm tát ra bà đát tha nga đa bạt chiết lê nể đà ra đà ra hổ
hồng hổ hồng




( OM- SARVA TATHÀGATA VAJRINI DHÀRA DHÀRA
HÙM HÙM




* Chú Đưa Tiễn :




- Ô úm tì ra tì ra thời duệ da da na bà hê nể
ra hống ra hống hổ hồng




( OM- VÌRA VÌRAJIYE GAGANA VÀHINI

LAHU LAHU HÙM )




* Chú Đưa Chư Thiên :




- Ô úm tát ra bà đa tha da đa khuất ra lê địa để sa
mạt ra tì ca đế xuyết ra xuyết ra hổ hồng sa ha




( OM- SARVA TATHÀGATA KÙLA LODITE SMARA
VIGATE JVALA JVALA HÙM SVÀHÀ )




* Chú đưa tiễn Hiền Thánh xong cầu Hộ Niệm :




- Ô úm mạt ni tô hồng bà nễ tì ca phạ để
lạc xoa đa mãn hổ hồng




( OM- MANI SUMBHANI VEGAVATI RAKSA
TUMAM HÙM )




Mâu Lê Đại Mạn Đà La này ở nơi Lê Đại Mạn Đà La, Ô Bà Ra Đại Mạn
Đà La, công năng của ba chú chỉ nói sơ lược, nếu nói rộng không thể
cùng tận, y ba chú làm Pháp xong ( tức là Căn
bản Tâm và Tùy Tâm chú) tùy ý cầu nguyện trước, cần tụng mãn 800
biến. Trước cần hiểu rõ các Pháp sự đầy đủ, sau đó
làm các Pháp mới hiệu nghiệm. Nếu hay như vậy thọ trì, các
tội nặng trong đường sanh tử thảy đều tiêu trừ, phiền não khô kiệt,
mau được vô thượng Bồ đề không có nghi, tinh tấn tu hành mau chứng
Phật quả, từ đây cho đến khi thành Phật công đức vô cùng, dùng tâm
hoan hỷ để tụng trì liền được địa Bất thối. Ở trong thế gian hay
chuyển hết thảy Pháp luân, Ô Bà Ra Đại Mạn công đức như vậy. Liền
nói chú rằng :




- Ô úm ma ni đà lê hổ hồng phấn tra




( OM- MANI DHÀRE HÙM PHAT )




Lại nữa, khi vào Đàn dùng nước thơm rải khắp khiến thanh tịnh . Chú rằng :




- Ô úm ma ha tì bố ra bát ra để sắc sỉ đa tất đề a tì tiên giá ma
na ca tát ra bà đát tha da đa đa tì lệ kế bạt ra bạt ra tam bạt ra hổ
hồng hổ hồng




( OM- MAHÀ VIPULA PRATISTITA SIDDHE ABHISIMCA MANAKA SARVA TATHÀGATA
ABHISEKAI BHARA BHARA SAMBHARA HÙM HÙM )




Khi vào đạo tràng, lấy một chung nước thơm chú xong sái vẩy hay khiến
các dơ uế đều thanh tịnh trang nghiêm đầy đủ xong mới vào đạo tràng .




* Chú Kết Tòa Liên Hoa :




- Ô úm mâu nễ ma nễ bát ra bà phạt lê cư hê bạt đảm ma ni bà ra tì sa ha




( OM- MUNI MANI
PRAVARE GUHYA PADME MANI PRABHE SVÀHÀ )




Khi bấy
giờ Phạt Chiết Ra Bán Da từ tòa đứng dậy hướng về phía Phật, chắp
tay cung kính bạch Phật rằng: “ Cúi mong Thế Tôn
nói đầy đủ các Pháp sự ”.




Bấy giờ Thế Tôn bảo Kim Cang rằng : “Nếu có người tu hành Pháp này,
thường thường niệm tụng Mâu Lê Mạn Đà La ( Ba Chú : Căn bản, Tâm
và Tùy Tâm ) tinh tấn không gián đoạn, thường thường cúng
dường Kim Cang, cúng dường Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Văn Thù Sư
Lợi, Bồ Tát Di Lặc Bồ Tát, ngày ngày dùng hương nê xoa đất, đốt
các danh hương, các thứ hoa thơm cúng dường 10 phương Chư Phật, Bồ Tát,
ngày ba thời chí tâm lễ bái đối trước 10 phương Chư Phật, Bồ Tát, Kim
Cang, cầu xin sám hối, chí thành cầu xin cho được linh nghiệm .




Lại nữa ông nên lắng nghe, lúc sám nguyện xong cần nên biết .




1- Ấn thứ nhất : Trước ngồi kết già ngay thẳng, dùng tay làm
Mẫu Đà La, cánh tay phải co lại ngón thực áp ngón cái, duỗi ba ngón
kia; tay trái để trên tay phải, để nơi tim nghĩ đến Phật không cho tán
loạn, tưởng Phật dùng sức từ bi hộ niệm, quán như vậy không sai
khác . Tụng chú 21 biến :




- Ô úm tát ra bà đát tha nghiệt đa y lợi đạt ma nể thập phạ ra gia
nể a tỉ sắc đa da hổ hồng




(
OM
- SARVA
TATHÀGATA HRDAYA MANI JVALATE AVISTIYA HÙM )




Kết Ấn này là Ấn Mẫu của 10 phương Chư Phật, được công đức lớn nơi
Vô Thượng Bồ Đề, nếu có người trong hằng hà sa kiếp dùng bảy báu
trang nghiêm cúng dường vô tận, chở được phước báo trăm ngàn vạn
lần không bằng một phần công đức kết ấn và trì chú này. Ông phải
biết, nếu muốn kết ấn cần phải tắm rửa mặc quần áo sạch, lấy Long
não hương, Đàn hương, Uất hương bôi hai tay, sau đó cung kính kết ấn
làm Pháp, hay khiến các ác nghiệp đều tiêu trừ. Nếu
có người bệnh gần chết thấy được ấn này liền được khỏi bệnh, lại
thêm sống lâu. Ấn này oai lực công đức như vậy, do đó có tên
là Phật Tâm Ấn .




2- Ấn thứ nhì : Tay trái co lại giữa lòng bàn tay, co ngón vô
danh và ngón út, ngón cái đè đầu hai ngón trên, để nơi tâm hơi co
các ngón, mắt mở hé hơi nhíu mày, răng cắn môi dưới tự quán thân
mình, nhất tâm niệm Phật, tụng chú 21 biến :




- Ô úm tát ra bà đát tha da đa bát ra tì ra ca ra ma nể hổ hồng (
OM- SARVA
TATHÀGATA PRAVARA UGRA MANI HÙM )




Về Đầu Trang Go down
Admin
Ban Quản Trị
Ban Quản Trị
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 544
Số lần cảm ơn : 74
Điểm Cống Hiến : 2147486767
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: KINH CHÚ MÂU LÊ ĐÀ LA NI   17/1/2010, 10:39


Kết Ấn này không khác gì được Pháp Tạng của 10 phương Chư Phật, được
vào tất cả Mạn Đà La, nhiếp hết thảy quyến thuộc của Chư Phật.
Người này trong trăm ngàn kiếp các tội nặng thảy đều diệt hết,
cũng như kết 10 phương Chư Phật đàn ấn không khác .




Nếu có chướng nạn ở trong10 phương hoặc Ma, Ác long, Tì Đát Dã Đà La
v.v…như bị Chú sư đạp đầu không khác, các loại Ma như bị lửa đốt, các
loài trong 10 phương làm các chướng nạn, Chú sư niệm Phật kết ấn
này, các loài đều bị té nhào cầu xin tha mạng . Ngay khi đó, các
loài thấy ấn nghe chú thảy đều được lợi ích, tiêu trừ tâm ác được
đại phước tụ, do nghĩa như vậy nên gọi là Nhất Thiết Phật Tâm Ấn .




3- Ấn thứ ba :

Co tay phải, ngửa bàn tay để nơi gối, co ngón giữa cùng ngón cái dựa
nhau hơi đâu thân, lại co tay trái chống nơi hông, ngón cái đè thân
ngón giữa và ngón vô danh duỗi ngón trỏ và ngón út, mở mắt lớn
dùng tâm Từ bi Tam muội, không có niệm khác, thân tâm không động .
Tụng chú :




- Ô úm tát ra bà đát tha da đa a tì tam bột đà bạt chiết lê hổ
hồng hổ hồng.




( OM- SARVA TATHÀGATA ABHISAMBUDDHA VAJRE HÙM
HÙM ).





Nếu kết ấn này, 10 phương Chư Phật đều vui vẻ ngợi khen tăng thêm
công đức, hết thảy Chư Phật đều nhiếp hộ, cũng như mẹ hiền săn sóc
con thơ. Hết thảy Thánh Hiền đều nói rằng :



“ Phật tử ! Nay ông tu tập Pháp này là được làm
con của Chư Phật, trăm ngàn na do tha cu chi hằng hà sa Chư Phật đều
hoan hỷ, dùng tâm hoan hỷ nhiếp thọ cho người, do nghĩa trên đây, nên
biết ấn này cùng Chư Phật không khác; do đó tên ấn này được gọi
là Quảng Đại Ma Ni Bí Mật Ấn .




4- Ấn thứ tư :

Chắp tay lại, co ngón giữa, ngón vô danh, ngón cái nhập vào lòng
bàn tay, duỗi hai ngón út, để nơi tâm hơi cúi đầu cong thân, nhướng
lông mày, mở to mắt một lòng tưởng Phật, khởi lòng từ bi với hết
thảy chúng sanh, niệm niệm nối nhau không cho tán loạn, lại đưa ấn
lên đảnh, khi kết ấn tụng chú :




- Hổ hồng, hổ hồng phấn tra




( HÙM HÙM PHAT )



Khi
muốn xả ấn tụng chú :




- Ô úm tát ra bà đát tha da đa a địa sắc đát ma nể hổ hồng hổ
hồng phấn tra




( OM- SARVA TATHÀGATA ADHISTANA MANI HÙM HÙM
PHAT




Như vậy, kết hộ có đại oai lực do đó có tên Cư Hê Na Ma Mẫu Đà Ra
Đại Ma Ni Chu Biến Trụ Bí Mật Ấn .




5- Ấn thứ năm :
Muốn kết ấn ngồi kết già ngay thẳng, chắp tay buộc tâm tự tưởng
thân mình như Kim Cang không khác. Liền dùng tay Kim Cang tự xoa nơi
đảnh, rồi tự đảnh xuống đến chân nghĩ như thế này: “Nguyện thân này
mau ngồi ở 10 phương cũng như Kim Cang, cũng như thân Phật” . Nguyện xong, chắp tay kết Ấn :
hai ngón cái, hai ngón trỏ đầu dính nhau, hai ngón giữa xoa nhau trong
lòng bàn tay, duỗi thẳng hai ngón vô danh, hai ngón út xoa nhau hơi co
nhập vào lòng bàn tay, dùng ấn chấm đất và hai đầu gối, lại từ
đảnh đi xuống xoa khắp thân, để ấn nơi rún, hai cánh tay như hướng về
trước, cúi đầu tụng chú :




-
Ô
úm tát ra bà đát tha yết đa bát ra bá ra ma ni
rô chỉ lệ hổ hồng hổ hồng phấn tra




( OM- SARVA
TATHÀGATA PRAVARA MANI RUCIRE HÙM HÙM PHAT )





Do kết ấn này, chung quanh chỗ ngồi khắp 10 phương đều là Kim Cang,
người này như được chỗ ngồi của Chư Phật, các loài Ác ma, Ác tâm
không tin Phật, không thể thấy được người này . Do đây mà gọi là
Nhất Thế Chư Phật, Kim cang Sư Tử Tọa Ấn .




6- Ấn thứ sáu :
Ngồi kết già, chắp tay, co hai ngón út khiến lưng dựa nhau, co hai
ngón cái vịn bên tiết thứ nhất của hai ngón út, hai ngón vô danh xoa
nhau co lại áp nơi lưng hai ngón cái, co hai ngón giữa lưng dựa nhau,
bên thân áp hai ngón vô danh, hai ngón trỏ rời nhau . Tụng chú :





- Ô úm tát ra bà đát tha yết đa tì bố ra tam bà tì hổ hồng hổ
hồng




( OM- SARVA TATHÀGATA VIPULA
SAMBHAVE HÙM HÙM )




Khi kết ấn này, 68 ngàn hằng hà sa số Chư Phật
đều thọ ký cho người này mau được chứng nghiệm. Do đó mà ấn có tên
Ma Ha Mẫu Đát Ra A Thế Da Mẫu Đạt Ra Nâm .




7- Ấn thứ bảy :

Chắp hai tay đè nơi tim, tay phải để trên, ngón cái và ngón trỏ
thẳng, lại đưa tay trái năm ngón như hoa sen ngửa bàn tay phải để
trên hoa sen, quán Từ bi, Tụng chú :




- Úm tát ra bà đát tha yết đa tam ma da ma nễ bạt chiết lê hổ
hồng hổ hồng




( OM- SARVA TATHÀGATA SAMAYA MANI VAJRE
HÙM HÙM )




Hết thảy Chư Phật kết ấn này để Chuyển Pháp luân,
kết ấn thời 10 phương 6 thứ chấn động. Do nghĩa này có tên là
Nhất Thiết Chư Phật Chuyển Pháp Luân Ấn .




8- Ấn thứ tám : Trước ngồi kết già, chân phải đè chân trái,
ngón cái chân trái chạm đất, tay phải mở phân nửa để nơi hông
trái, để ngang qua rún, co ngón trỏ nắm ngón cái như vòng tròn, ngửa
lòng bàn tay tụng chú :





- Ô úm bát ra bà đát tha yết đa chiết duệ phạt chiết duệ a chiết
đa phạt chiết lê hổ hồng hổ hồng




( OM- SARVA TATHÀGATA JAYE VIJAYE AJITA VAJRE
HÙM HÙM ).




Khi kết ấn này, 10 phương các ma và kẻ làm chướng nạn đều ẩn mất
không làm hại được, oan gia trái chủ đều phải qui phục, hết thảy
tội nghiệp đều tiêu trừ . Do đó ấn có tên là
A Bà Ra Thất Đa Mẫu Đạt Ra (Ấn Vô Năng Tề Phủ).




9- Ấn thứ chín :
Chắp tay lại, bốn ngón phải nắm lại thành quyền, ngón cái chấm nơi
hông phải, từ từ đưa lên để vào lòng tay trái, tay trái hướng trên
mở ra, duỗi các ngón tay xuống che trên lưng năm ngón tay phải, tụng
chú :




- Ô úm bát ra bà đát tha yết đa đạt ma đà đô ma ha nễ thích ca lê
ha ra ha ra hổ hồng hổ hồng phấn.




( OM- SARVA TATHÀGATA DHARMADHÀTU MAHÀ MANI
‘SIKHARE HARA HARA HÙM HÙM )




Đây gọi là Nhất Thiết Chư Phật Chuyển Luân Thánh Vương Mẫu Đạt Ra,
còn gọi là Thập Phương Chư Phật Mẫu Đạt Ra .




10- Ấn thứ mười :
Chắp tay lại, hai ngón vô danh co lại dựa lưng nhau, co hai ngón cái
vịn hai ngón vô danh tiết thứ nhất . Xoa hai ngón giữa co lại để trên
hai ngón vô danh, ngón út, ngón trỏ đứng thẳng dựa nhau, từ từ đưa
lên cao khỏi đầu, lại từ từ đưa xuống sát đất, co gối phải, chân
trái đạp đất, trợn mắt bậm môi dưới đọc ra tiếng “Hồng” tưởng mình
tướng mạo giận dữ như Kim Cang, tụng chú :




- Ô úm đổ rô đổ rô ma nễ ma nễ ma ha tất đột dữu ma nễ sa ha.




(
OM
-
DHURU DHURU MANI MANI MAHÀ VIDYU MANI

SVÀHÀ )




Khi kết ấn này, tam thiên đại thiên thảy đều chấn động, Chư Thiên
và Ma thảy đều hoảng hốt sợ sệt .




11- Ấn thứ mười một : Ấn Tứ Thiên Vương : Ngửa tay phải để nơi
rún, co ngón cái và ngón trỏ lại co ngón út, tay trái ba ngón nắm
thành quyền, ngón phải để nơi Hổ khẩu, ngón trỏ thẳng trước ngón
cái hướng sau, mở lớn mắt tụng chú :




- Ô úm a rô rô ca ma lị địa xả da xả da hổ hồng




( OM- ARURU KAMALE VATI JAYA
JAYA HÙM )




12-
Ấn
thứ mười hai :
Ấn Thí La Địa Phược
: Chắp tay lại, co hai ngón cái, tám ngón kia như hoa sen, tụng chú :




- Ô úm tì ma ra chỉ lị địa tam ra hổ hồng




( OM- VIMALA AGRI VATI

SAMBHARA HÙM )




13-
Ấn
thứ mười ba :
Ấn Thương Xí Nễ :
Thẳng tay phải để trên bắp tay phải làm phân nửa thế chắp tay, co
ngón cái và hơi co ngón trỏ, ba ngón kia quấn nhau co lại như hình Bạt
Chiết La, lại duỗi tay trái che nơi tì trái làm tướng dễ sợ, mắt
liếc ngang, đầu hơi cúi, tụng chú :





- Ô úm để sắc tra ra nễ tắc tắc ra hổ hồng




( OM- DAMSTRINI VISARA HÙM )




14-
Ấn
thứ mười bốn :
Ấn Xá Địa : Duỗi tay
phải hướng xuống dưới đất, thẳng tay trái để nơi mày, lòng bàn tay
hướng ra ngoài tưởng mặt Xá Địa, tụng chú ( Sứ giả ) :




- Ô úm a ca nễ đát để lị văn giả yết địa a tát nễ hổ hồng




( OM- AGNI DHARE MAM CYÀTTA
HÀSINI HÙM )




15-
Ấn
thứ mười lăm :
Trong Đàn thỉnh hết
thảy Chư Thiên, hết thảy thời cúng dường ấn : Đứng ngay thẳng hai tay
móc nhau như dây xích, hai cổ tay ngang nhau, chân trái như đương bước
tới, chân phải đạp đất, chú rằng :




- Ô úm tam mạn đà a ca ra ma lị bố ra nễ
tra ca tra ca hổ hồng phấn tra





( OM- SAMANTA AKALA PARIPÙRANI DHAKA DHAKA HÙM PHAT )




16-
Ấn
thứ mười sáu :
Ấn Ưu Bát La, Bổ
Sắc Bà : Tay phải năm ngón như hoa sen
đưa lên trên đến tai trái, tay trái cũng như hoa sen để nơi tim, tụng
chú :




- Ô úm tát ra tát ra tì tát ra hổ hồng hổ hồng




( OM- SARA SARA VISARA HÙM
HÙM )




Ấn này ở trong Đàn vẽ các hoa sen đều dùng ấn này
mà ấn, các bình cũng vậy.




Lúc bấy giờ Bồ Tát Kim Cang bạch Phật rằng : “Nếu muốn trì Mâu Lê
Mạn Đà La, lại muốn trì Lê Mạn Đà La, lại trì Ô Bà Ra Mạn Đà La, ba
ấn pháp như thế nào, cúi xin Thế Tôn nói cho” .




Phật dạy : “Hãy lắng nghe ! Ta sẽ vì ông mà
nói Mâu Lê Mạn Đà La Mẫu Đạt Ra như sau đây: Trước dùng hai tay
chắùp lại để nơi tâm, co hai ngón cái, lại co hai ngón trỏ khiến
móng đụng nhau, hai ngón út thẳng dựa nhau, hai ngón giữa, hai ngón
vô danh xoa nhau trong lòng bàn tay, ấn này như vậy (
Ấn Căn Bản) . Ông hãy y đây mà làm .




Lại nữa, Lê Mạn Đà La Mẫu Đạt Ra ( Tâm Ấn ) :
Tay phải ngón cái, ngón vô danh đầu vịn
nhau, các ngón kia duỗi thẳng để nơi tâm. Tay
trái, ngón cái vịn ngón út, các ngón kia co lại để trên đầu gối trái . Ấn này như vậy .




Lại nữa, Ô Bà Ra Mạn đà la Mẫu Đạt Ra ( Tùy
Tân Ấn ) : Tay phải, ngón cái vịn ngón
vô danh, ngửa bàn tay để ngang nơi tim, ba ngón kia duỗi ra. Tay trái giữa để nơi gối trái, co ngón trỏ tiết
thứ nhất . Các ngón trên như vậy theo đây mà làm .




Lại nữa ông nên biết, những người trì Ấn Pháp này, hết thảy sự
nghiệp trong thế gian đều thành biện, các tội nặng thảy đều trừ
sạch, chở được công đức phước lợi trừ Phật ra không ai có thể biết
được; nếu sau này có người tùy nơi chỗ ở kết ba Ấn này, nên biết
chỗ đó có Phật toàn thân xá lợi. Người trì Pháp này 10 phương Chư
Thiên, Hộ Thế Tứ Thiên Vương luôn luôn cung kính cúng dường người
này cũng như cúng dường các tháp Xá lợi Phật không khác .




Lại nữa, Ta lại nói Pháp Hỏa Thiêu cúng dường.
Ở trong hết thảy các Pháp muốn cầu hiệu nghiệm vì muốn lợi lạc
chúng sinh, trước cần chú các đồ ăn uống hỏa thiêu cúng dường, giữ
gìn thân, khẩu, ý thật thanh tịnh . Chú rằng :




- Ô úm sa ha bạt tra bố lộ bộ bá hổ hồng hổ hồng phấn tra sa ha .




(
OM
- SAHÀ
PATHA BHÙRU BHUVÀH HÙM PHAT SVÀHA)
Ø



Dùng chú này chú Ô Ma ( Mè đen ), Bạch giới tử ( Hạt cải trắng ),
Ngưu Tô (bơ ) 8000 biến thiêu lên cúng dường, hết thảy Chú Pháp đều
thành nghiệm hay trừ tự thân, tha thân hết thảy chướng nạn, ác
mộng, tai họa đều trừ diệt. Lại lấy Ngưu tô, An tức hương, Bạch giới
tử chú 8000 biến mỗi biến mỗi thiêu, hết thảy Da Lặc Ha, Quỷ Thần
v.v…đều bị bẻ làm hai, các bệnh đều trừ diệt. Lại
thiêu Ngưu tô và Bạch giới tử hay hàng phục các Ma và Khẩn Na La.
Lại chú Ngưu tô và Bạch giới tử thiêu các giặc không thấy được.
Lại lấy cây Đề Bà Đạt Ca ( Tùng ) bôi Ngưu tô kêu tên Yết Ra Xà,
mỗi biến mỗi thiêu, Yết Ra Xà liền đến trước mặt cầu gì đều được .




Lại trên đỉnh núi cao hòa Nhơn Hồ vàBạch Giới Tử, Ngưu Tô mỗi chú
mỗi thiêu, liền thấy các cung A Tu La, ở trong các trì chú tiên nhơn
được làm vua. Lại lấy Bạch giới tử, Chi côïng Na Da Kê Tát mỗi chú
mỗi thiêu hết thảy Na Dà ( Nàga: Loài Rồng)
đều thuận phục. Lại lấy các đồ ăn cúng dường Phật
mà thiêu hoặc vì mình vì người đều xưng tên, mỗi chú mỗi thiêu hay
khiến ngũ cốc đầy đủ. Lại chú muối mà thiêu hay khiến hết
thảy Dạ Xoa, Quỷ Thần ác cúi đầu dưới chân cầu xin tha mạng, quy
thuận, sai gì đều nghe theo . Lại lấy Cánh Mễ, Ngưu Tô chú mà thiêu,
hay khiến kho tàng đầy đủ, hết thảy tài vật tự nhiên tăng trưởng .




Lại xây mặt hướng Đông, chú Hồ Thúc mà thiêu, hay khiến chư Thiên
hoan hỷ, cầu xin điều gì đều được, hết thảy chư Thiên đều vui vẻ nhìn
người này. Lại đối trước Thất Lị Đề Phạ
( ‘SRÌ DEVA: Công Đức Thiên ) lấy Hắc Hồ Ma, Bạch Giới Tử chú mà
thiêu, cầu gì đều được . Lại lấy A Da Mộc 8000 cái, mỗi cái dài một
thước chú mà thiêu, hết thảy Chư Phật, Bồ Tát đều thương xót nghĩ
nhớ đến người đó, các tội nghiệp thảy đều tiêu trừ, hết thảy chú
pháp đều thành nghiệm, xa lìa bệnh khổ, các thứ khổ não nơi thế gian
đều tiêu diệt, không còn thọ thân bào thai .
Tụng trì chú này có oai thần lực như vậy, thường được sanh về cõi
Tịnh độ của Chư Phật, Liên hoa hóa sanh, cùng với Chư Phật thọ các
điều vui sướng, thiêu cây này hết thảy ác mộng, biến quái, oan gia
đều tiêu tan, yêu quái hại người đều tiêu diệt, chư ma, ách nạn
cũng thảy diệt trừ .





Ta nay lại nói Pháp vẽ tượng: Lấy lụa sạch mới tùy ý lớn
nhỏ, họa sư không ăn ngũ tân, rượu, thịt, dâm dục v.v…các loại màu
phải đựng trong đồ sạch, mới không dùng keo da mà dùng keo có mùi
thơm. Chính giữa, vẽ Phật ngồi toà Sư tử có các Anh Lạc trang nghiêm,
trên đầu nơi hư không vẽ tràng phan bảo cái, Phật tướng đang nói
Pháp. Bên phải, vẽ tượng Kim Cang 12 tay, thân màu nhục sắc hồng
trắng, trong mỗi tay đều cầm các món khí trượng, có bốn mặt : mặt chính tướng từ bi, mặt bên trái tướng
đáng sợ, mặt bên phải tướng giận dữ lòi nanh, mặt thứ tư nhăn mày
giận dữ tóc dựng đứng, đều có tràng hoa đeo cổ, đứng trên hoa sen
một chân co lên, một chân thòng xuống. Bên trái Phật vẽ Ma ni Bạt
chiết la Bồ Tát Kim cang có 4 mặt 16 tay, bên trái tay thứ nhất cầm
châu Như ý như đang dâng hiến Phật, tay thứ nhì cầm hoa sen, tay thứ ba
duỗi năm ngón, hai tay chắp lại, một tay cầm Tích trượng, một tay cầm
bánh xe, một tay cầm hoa sen búp, một tay cầm xâu chuỗi, một tay cầm
Quyến sách, một tay cầm A Ca Ra Để ( dao ), một tay cầm búa hai đầu,
một tay bưng núi Tu Di, một tay cầm Túy Dã Bà, một tay cầm Bối Kinh;
trước một mặt tướng Từ Bi, bên phải mặt Ma Ha Ca La Thiên, mặt bên
trái nửa người nửa Sư tử, mặt thứ tư nhăn mày, trợi mắt, lòi răng
( nhe nanh ) tướng hung dữ, mặt màu xanh đen rất đáng sợ, một chân co
một chân duỗi đứng trên tòa sen. Trước tòa, vẽ Thương Chỉ Ni quỳ hai
gối có 8 tay, trong tay cầm hoa cúng dường Phật; bên phải tòa Kim Cang
vẽ Ma Ha Đề Bà, Thi La Đề Bà, Ma Ha Đề Bà hai tay bưng bát đầy các
bảo vật dâng lên Phật; sau Ma Ha Đề Bà vẽ Địa Thiên, mặt mỉm cười
có hai tay, dùng Anh lạc trang nghiêm, trong tay cầm các món khí
trượng; sau lưng Thương Chỉ Ni vẽ Bố Sắc Bà Đát Địa mặc áo trắng tay
cầm hoa đang ngắm nhìn Phật; dưới tòa Phật, vẽ hoa sen bảy báu, trong
hoa có nhụy bằng vàng, tua màu Phệ Lưu Ly đủ trăm cánh; dưới hoa vẽ
Tứ Thiên Vương, dùng vàng làm Anh Lạc trang nghiêm nơi thân, thân mặc
giáp; dưới tua hoa vẽ ao nước bốn bên có hàng rào bao bọc trang
nghiêm các thứ; trên bờ ao vẽ nhiều Tiên nhơn mặc áo trắng thảy
đều chắp tay nhìn Phật, cầm các hương khí, xâu chuỗi, các loại dâng
lên cúng Phật; trên Bảo cái, vẽ Ma Ha Đề Bà các quyến thuộc, Phạm
thiên và quyến thuộc, Na La Diên và quyến thuộc, chư Thiên đều cầm
các hoa kỳ lạ rải xuống cúng dường .




Lại nữa người trì chú thân, khẩu, ý, áo quần cần phải thanh tịnh,
chỉ ăn ba món Bạch thực, từ ngày Tám đến ngày Rằm trì chú trước
tượng mãn 10 vạn biến, tượng liền rung động, trên thân Chú sư có
lửa phát ra liền được Thiên Nhãn, lại được Bá Đà Ma Lị Xà Lị Đa Ra
Tam Muội, làm Chuyển Luân Vương trong hàng Trì Minh, thấy được 10 phưong
ba đời Chư Phật. Trì chú này hay khiến các đường ác, các khổ thảy
đều tiêu trừ, xa lìa ba độc, chỗ cầu các công đức mau được thành
tựu không bị chướng ngại, được Phật hoan hỷ nhhiếp thọ, hết thảy Bồ
tát đều ngợi khen, 10 phương các Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A
Tu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, Nhơn, Phi Nhơn thảy đều cung kính cúng
dường, ở trong hết thảy các loài chúng sanh đều được tự tại, trong
hết thảy sự nghiệp đều được trên hết. Nếu hay y như Pháp mà tu hành
tức được các thứ công đức như trên. Hoặc tụng chú này, hoặc kết
ấn này, hoặc thấy hoặc nghe mà phát tâm tin trọng vui vẻ sanh lòng
cung kính cần nên kính ngưỡng, những người này như thân Phật không
khác, và đời đời thường sanh các cõi Phật, không còn thọ thân bào
thai, Liên hoa hóa sanh cho đến khi thành Phật thường không xa lìa Chư
Phật, Bồ Tát .




Lại nữa, nếu thiêu Huân lục hương cúng dường Chư Phật, lại thiêu
Bắc lị hương, Chiên đàn hương, Trầm thủy hương, Đa da la hương, Cư Rô
Sắc Ca hương để cúng dường Chư Phật. Lại dùng bùn tô đắp đàn Pháp,
dùng Uất kim hương, Long não hương, Kê hương, Bạch đàn hương, Tử đàn
hương, các thứ bột hương để nghiêm sức .




Lại nữa Pháp Kết giới
:
Ông nên lắng nghe ! Trước cần tắm
gội, cúng dường Phật, cúng dường xong ở nơi đạo tràng có Hộ giới
Địa Thần cũng cần nên cúng dường. Lại nữa muốn Kết giới, trước cần thực bạch Tam Bảo : Nay con vì
việc … nên kết giới . Bắt đầu từ đó làm các việc, các Pháp trong
tâm đều niệm Phật . Lại dùng Tắc Phổ Bộ Sa
để da ấn, mà ấn này chạm nơi đất di chuyển, chạm nơi thần và để ấn
nơi thần ở ngoài giới an trì, lấy các món ăn uống mỗi thứ một ít
cúng thí cho Thần, ngày ngày đều như vậy .




Lại nữa, các Tiểu Chú nếu muốn dùng, trước cần
tụng đủ 800 biến sau đó mới có thể dùng. Y
Pháp như vậy mà làm quyết định hiệu nghiệm. Lại kết giới 10
phương, cùng quỳ trước Phật nói rõ ràng sám hối hết thảy ác niệm,
ba nghiệp không lành, các tội căn bản, tịnh ba nghiệp xong liền phát
nguyện rộng lớn: “ Nguyện con … nay ở trước
Phật phụng trì chú này, dầu không có kết quả cũng không thối chí ”.
Phát nguyện xong, tùy theo sức mà tụng biến số, ngồi ngay ngắn trước
Phật, thân tâm không động, ngày ngày chia thời trì tụng, sáng sớm,
trưa, tối v.v… cần phải cố gắng tinh tấn tụng trì .




Lại nữa, đầu tiên nơi chỗ ở kết giới tác pháp xong
rồi, sau đó cần đi chỗ khác làm Pháp. Nếu như
chỗ ở làm Pháp xong, không đi nơi khác làm Pháp, kết cuộc không
thành tựu được. Mỗi khi trì tụng đủ biến số đều phải bạch Phật : “ Nguyện con sau đây mau thành các nguyện”.

Nguyện xong, làm lễ mà lui . Sau đó lại vào
Đàn lần lượt làm y từ đầu, nếu không như vậy không được trì tụng
và luôn luôn phải giữ đúng biến số, cho đến lễ Phật, cúng dường,
cầu nguyện đều nên quán trong tâm, ngồi tòa cỏ ( nệm ) mặt mày yừ
bi, không lớn không nhỏ, không mau không chạâm, đều đều trì tụng,
trong tâm chánh niệm, chỉ nhớ nghĩ nơi Phật, dùng ý Bất động quán
Phật rõ ràng, tưởng tâm Phật từ bi như cha lành thương xót con đỏ,
tay cầm chuỗi lần hạt để nhớ số, nếu chưa đủ số không được thôi
nghĩ, mỗi khi tụng chú trong tâm đều nhớ Phật, câu chú phải rõ ràng
đầy đủ, điều hòa âm thanh đọc tụng .




Lại nữa, nếu làm Pháp hỏa thiêu cúng dường, đều
phải bạch Phật, vật cúng thiêu phải bằng nhau, nếu không hỏa thiêu
cúng dường, không được tụng chú. Lại nữa, nếu
khởi tâm tham dục tụng chú cầu hiệu nghiệm, đời sau thành hạt giống
La Sát Dạ Xoa. Nếu trong tâm không trí hue,ä
tụng chú cầu hiệu nghiệm, đời sau thành hạt giống Quỷ Thần. Nếu có
lòng từ bi thương xót, trong tâm niệm Phật, tụng chú cầu hiệu
nghiệm, đời sau thành Như Lai Chủng Trí, mọi việc làm đều không chướng
ngại, hết thảy đều thành tựu như trên đã nói .




Lại nữa, thân thể mỏi mệt, hôn mê, hết thảy không đầy đủ, an ổn,
tư tưởng lộn xộn không nên tụng chú, mau chí tâm nhìn Phật, chuyên
chú chân thành quán để tâm ý được thanh tịnh sau đó mới được tụng
chú . Khi đi đại tiểu xong, chú một vốc nước 21 biến tưởng như mặt
trăng chiếu khắp rồi lấy nước rải trên đầu, toàn thân và quần áo,
các thứ dơ uế đều thanh tịnh .




Lại nữa, có việc phải đứng dậy, biến số không đầy đủ, khi mặt
trời lặn chí tâm nhìn Phật tụng 108 biến, làm Pháp như vậy tức đủ
biến số, nếu làm việc chưa xong, trong ngày đó ba lần tụng Chú công
quả đầy đủ .




Lại nữa, nếu việc cầu nguyện chưa thành nghiệm,
không nên nằm ngồi. Khi mặt trời sắp mọc, đứng thẳng chắp tay
hướng về Đông, nhất tâm niệm Phật, tụng chú 108 biến, các chướng
nơi Đàn đều tiêu tan . Nếu khởi dục, tâm tưởng lưu xuất nước sạch
tắm rửa, rồi tâm tụng chú 108 biến, được thanh tịnh như cũ .





Lại nữa cần phải biết Mộc Pháp : Cây như thế nào mau khiến các Pháp mau thành
hiệu nghiệm tốt lành, cây như thế nào hay khiến các Pháp không được
hiệu nghiệm. Pháp Hỏa lô ( Lò Lửa ) như thế
nào ? Tướng hỏa Pháp như thế nào ? Nếu không
hiểu biết các Pháp không thành tựu được: Cây Dâm Bà Thọ, cây Ca
Lan Phong, cây Khư Đà La, cây Câu Đề Chi. Thiện nam tử, Thiện nữ nhơn
nên biết dùng cây Ất Ca, Tỳ Hê Lê Lặc, A Di Thi Lê Sư Mộc, La Đinh,
A Di La, Trấn Đầu Ca, Đốc Ca, Thước Ca Mễ, và các loại cây khác đều
là những cây có gai đều dùng được, hay phá oan gia, đoạn các loại
giặc, những loại cây có sữa đều dùng được hay khiến thương yêu gần
gũi. Lần lượt nên biết cây Tất Lập Bá, Bá Ra Sư, là những cây
không có gai cần an ẩn dùng đó hay khiến mọi người sanh lòng vui vẻ.
Cây Chú Lộ Đa, Mâu Tử Khư, Cư Lân Ca Đam Bà, A Du Ca, Xá Lị Bán Na,
Bà Ca Sa, các loại cây này dùng để cầu các
Pháp hiệu nghiệm, hay khiến các việc cầu nguyện đều thành tựu tốt
đẹp. Lại nữa nên biết các loại cây như vậy không nên dùng nếu cây
đã bị thiêu đốt, bị chặt, bị gãy, có u có cục, trùng ăn v.v… Các cây như vậy không có tướng tốt đẹp không nên dùng.
Nếu là Pháp vô danh ( pháp nhỏ, xấu ) thì mới
dùng. Các loại cây có bốn tướng trạng cần nên biết : thứ nhất là
Thượng Pháp, thứ nhì là Trung Pháp, thứ ba là Hạ Pháp, thứ tư là
Trục Pháp, tùy theo bốn Pháp dài ngắn khác nhau. Thượng Pháp dài 21
chỉ, Trung Pháp dài 10 chỉ, Trục Pháp đài 8 chỉ, Hạ Pháp dài 4 chỉ .




Lại nên biết Thượng Pháp là những Pháp chưa từng hiểu biết; Trung
Pháp là cầu trì chú mãn các nguyện lớn, cầu nhơn cầu tài, cầu các
Pháp hiệu nghiệm; Hạ Pháp là khiến mọi người kính trọng, gần gũi,
thương mến; Trục Pháp là xua đuổi oan gia v.v... Lại nữa, Thượng Pháp
dùng Chi (phấn, sáp, mỡ ) mà bôi; Trung Pháp dùng sữa, lạc mà bôi;
Hạ Pháp dùng các loại chất ngọt mà bôi ; Trục Pháp dùng máu,
thuốc độc mà bôi .




Lại nữa nên biết Pháp làm lò lửa: Đào đất sâu một khuỷu, bỏ các
loại dơ uế, dùng năm thứ tịnh của con bò mà sái vẩy. Tô đắp đất
sạch, muốn cầu nguyện lớn dùng thượng lô, sâu một khuỷu vuông vức
đắp bốn bờ thành, kết thủ ấn niệm Phật, tụng chú cầu thỉnh Ngũ
Thần an trong lư, an lư thần xong hỏa thiêu cúng dường
. Nếu cầu hiệu nghiệm cho mình, làm lư bực
trung, lư đào sâu 21 chỉ làm ba trùng, thỉnh Thần như trên. Muốn cầu thương yêu làm lư bực hạ, lượng cao bốn chỉ có ba
góc rộng 12 chỉ làm ba trùng như trên. Muốn cầu Trục Pháp, lư
sâu 9 chỉ một trùng .




Lại nữa nên biết, muốn thiêu đồ ăn uống cúng dường, mặt xây về
Đông, tâm tưởng Phật, chú thiêu cúng dường . Nếu cầu các việc tối thượng, hàng phục oan gia, giải
thoát các nạn, mặt xây về hướng Đông Bắc, chú thiêu cúng dường.
Nếu cầu các nguyện, cầu phước, mặt xây về hướng
Đông Nam
thiêu mà cúng dường. Nếu cầu các Pháp xua đuổi, mặt xây về
hướng Nam
chú thiêu cúng dường . Nếu cầu
thương mến, mặt xây hướng Tây chú thiêu mà cúng dường. Nếu cầu các nguyện lớn, mặt xây về hướng Tây Nam, thiêu mà
cúng dường. Nếu hòa giải kiện tụng, trừ bệnh
tật, mặt xây về hướng Tây Bắc chú thiêu mà cúng dường. Nếu
cầu yểm phục, mặt xây về hướng Bắc chú thiêu mà cúng dường .




Lại nữa, nên biết Thìa Pháp ( cái muỗng xúc đồ ăn ) cán dài một
khuỷu, mặt lõm xuống như một ngón cái, nếu làm các Pháp tốt dùng
thìa bằng đồng, bạc, vàng ; nếu làm các Pháp ác dùng thìa bằng các
thứ đồng trộn lại .




Lại nữa, nên biết hỏa thiêu, tốt xấu có 10 tướng : Thứ nhất màu
như mặt trời mới mọc, thứ hai nhiều màu đẹp đẽ, thứ ba màu như thủy
tinh, thứ tư tướng như sữa bò, thứ năm tướng như vàng ròng, thứ sáu
tướng như màu lửa không có khói, thứ bảy tướng như cờ xí có tiếng
reo, thứ tám là cháy hết không còn dư sót, thứ chín là củi nhiều ít
đều cháy hết, thứ mười là trước khi hỏa thiêu đất lò ấm. Lại nữa,
nên biết nếu đốt lửa không cháy, hoặc củi không cháy nóng, hoặc
có khói nổi lên các trong đó không nên làm Pháp, nên biết kẻ ấy
sắp chết . Lại nữa, nên biết nếu hỏa khí
lạnh, hoặc có mùi hôi thối, hoặc than bắn vung vãi, khói lửa quấn
tròn hoặc lửa không bốc lên đều là các tướng ác, nên biết làm
Pháp không có hiệu nghiệm. Lại nữa, nếu trong lửa bay ra mùi hôi
thối, hoặc các mùi xấu uế, hoặc lửa màu trắng, hoặc đen, hoặc lửa
khói rút xuống đất nên biết người này có các chướng nạn . Lại
nữa, nên biết khi đốt lửa có màu đỏ lần lần có màu vàng, trong lò
lửa cháy rực rỡ từ từ đổi màu, trước màu sữa bò lần lần thành
màu vàng, hoặc như búi tóc, như dây xích, lầu các, nên biết làm
Pháp cầu các nguyện đều thành tựu .




Lại nữa, nên biết thế nào là thứ nhất : Nếu màu lửa tốt phát ra
hương thơm, không có tiếng hoặc lửa hình sấm chớp, hoặc trên lửa có
lửa như màu đỏ như vòng lửa, đầu lửa xòe ra như cái lọng, các tướng
như vậy là đệ nhất, nên biết cầu nguyện không sai. Như vậy, các
tướng hoặc hiện hoặc không hiện, hoặc hiện ra mà không như ở trên,
nên biết là bất tường ( xấu ác )




Lại nữa thế nào là thứ nhì : Nếu thấy lửa
bốc lên hai ngọn song song không ngừng, đấy là tướng thành nghiệm
các Pháp, được Chư Thiên chứng biết . Lại nữa, nếu cầu Phật Pháp
làm sao biết được hiệu nghiệm hay không ? Thiện
nam tử ! Nếu lửa bốc lên như hình cây, hình hoa,
hoặc màu lửa bốc lên như màu vàng ròng, hoặc sau đó màu như hoa sen
đỏ, hoặc như màu hoa Thạch lựu, nên biết sở nguyện tức được như ý,
các tướng đó được tối thượng hiệu nghiệm. Lại nữa, nên biết thế
nào là tướng không hiệu nghiệm, hoặc củi và lửa có màu đen, như
các thứ củi tạo nên thành lửa đen hoặc không sáng sủa, lửa khô
khốc, hoặc có hơi lạnh, hoặc ra khói các tướng như vậy nên biết là
không hiệu nghiệm. Lại nữa, ở trong lửa phát ra tiếng như trâu rống,
tiếng tù và, tiếng sấm sét, tiếng ca hát, vui đùa nên biết bấy giờ cầu gì đều được. Lại nữa, nên biết
ở trong lửa có tiếng như núi lở, đá lăn, tiếng dao mác chạm nhau,
nên biết đó là các tướng mình sắp phải chết, cầu đều không được,
ác tướng làm não loạn .




Lại nữa, Chú sư muốn thiêu cúng dường, trước dùng Ngưu Thỉ ( nước tiểu bò ) hòa nước để sái vẩy hoặc tắm gội
sau mới làm Pháp . Lại nữa nên biết Chú sư muốn thiêu cúng dường
cầu mãn các nguyện, cần đốt Ngưu Tô, bơ, Lạc, hoặc Sữa, hoặc trái
cây hoặc Hồ ma, hoặc đồ ăn, hoặc hoa, hoặc lá hoặc đồ ăn như trên
đã nói các loại tùy việc cầu nguyện, dùng ba loại thìa múc mà
thiêu đo . Lại nữa, ba chú trên cầu nguyện đều dùng chú đó chú đồ
ăn uống mà thiêu, nếu y theo đây cúng dường tất cả Trời, Rồng, Càn
Thát Bà, các Thần thảy đều vui vẻ , khiến Chú sư mau được Tất Địa,
các Thiên Thần thường luôn ủng hộ, không cho các Ma làm chướng nạn .




Lại nữa, Ta vì người nói tướng của củi đốt, các việc tốt xấu nhìn
củi là biết, củi có tướng ác làm Pháp không thành, cần phải nên
biết củi như thế nào mới được thành nghiệm, củi thế nào không được
thành nghiệm, như là cây củi bị khô héo ở trên cây trước, không có
vỏ, ngắn, cong, sần sùi, quá dài, vặn vẹo, các thứ củi như vậy làm
Pháp không thành, phá hại sự hiệu nghiệm. Nên biết
dùng cây khô khiến người tổn thọ; cây tróc vỏ khiến bị bệnh, cây
ngắn Pháp khó thành, mất hiệu nghiệm. Dùng cây cong queo khiến
mọi người ghét bỏ, dùng cây nhỏ xấu xí, bị lột vỏ khiến mất tướng
tốt, tiêu phước đức; cây cao quá phá điều cầu nguyện, cong quá hay
gặp việc xấu, trong các Pháp bị nhiễu chướng nạn. Do đó, các loại
cây như trên đều không nên dùng, muốn mau thành tựu phải loại bỏ
chúng đi. Ta nay lại vì người nói rõ nhánh của các cây, nhánh của
cây phải thẳng không có nhánh ngang; các nhánh cây này hay yểm phục
ác nhơn hoan hỷ, cây ở trung tâm chỉ có một nhánh, vì cầu khố tàng,
tài bảo các Pháp khoái lạc đều nên dùng. Cây dưới
gốc có nhánh ngang dùng làm Pháp Trục. Lại nữa, nên biết
muốn yểm phục oan gia khiến hòa giải, cây dài 12 chỉ hai đầu chặt
nhọn, muốn cầu các việc an lạc cây dài 8 chỉ hai đầàu tề bằng. Muốn
làm Pháp Trục, cây dài 4 chỉ tề hai đầu, như không tên dùng cây
không có vỏ dài 4 chỉ chặt như móng lừa; muốn người tin thuận, dùng
cây ngay thẳng, không vỏ, dài 5 chỉ; muốn khiến xa lìa quay lưng lại
nhau dùng cây không có vỏ, chặt dài 6 chỉ, dùng dầu Bạch Giới Tử
mà bôi. Muốn làm Pháp Trục ( xua đuổi ) dùng
cây không vỏ chặt dài 7 chỉ, dùng rượu Bồ đào mà bôi. Vì cầu giải
thoát, một lòng cầu thoát ly sanh tử, cây dài 11 chỉ chặt bằng đầu;
vì cầu các việc an lạc, dùng cây có vỏ thẳng thắn ; vì cầu yểm
phục khiến vui vẻ, không được dùng cây không có vỏ, cong queo và
chặt nhặt như móng lừa. Lại nữa, ông nên biết, vì muốn cầu các sự
an lạc mà làm Pháp, dùng Ngưu Tô và các chất ngọt mà bôi; vì không
tên mà dùng phấn, sáp mà bôi; vì cầu nguyện tất cả được như ý, chỉ
dùng Ngưu Tô mà bôi .




Lại nữ,a cần nên biết các cây không có khúc
tiết, lóng, đốt, vì Bà La Môn mà dùng. Lại cây nơi
giữa sanh ra không có nhánh vì vua mà dùng. Lại
cây ở trên sinh ra đốt lóng vì Thiên Thần, Quỷ Thần, người mà dùng.
Lại nhánh cây gần gốc có đốt, vì các thợ mà làm; cây có sữa,
nhánh mọc nơi gốc vì vua, Bà La Môn mà dùng; cây có gai màu xanh đen
vì các thợ nghề nghiệp mà dùng. Lại cần nên biết, trong bốn loại
cây, chỉ cây có sữa vì cầu phước khiến hết thảy thấy đều vui vẻ mà
dùng .




Lại nữa nên biết, cỏ dùng để làm chỗ ngồi nằm cần
cắt nơi hướng Đông Nam.

Thế nào là cỏ có ác tướng, là có màu vàng, khô
tạp nhạp, bể, nứt, gãy hai ngọn giao nhau, có cục, các loại đều không
nên dùng. Thế nào là cỏ tốt, là cỏ có màu đỏ, mềm, thẳng
láng, mướt đều nên dùng, cắt cho bằng sát đất, bỏ gốc, mọc chỗ
đất sạch mới nên dùng . Lại
nữa, cầu mọi người vui vẻ, cầu các thứ phước, cần tìm các thứ cỏ
tốt. Lấy cỏ nửa sống nửa chết vì việc vô danh mà dùng .




Lại nữa, dầu được hiệu nghiệm hay chưa hiệu nghiệm,
muốn kết Đàn trước cần chọn đất, sau đó mới làm Đàn. Đàn mở
4 cửa, dùng đất 5 màu giã nhỏ dùng đồ bằng sứ mới, các thứ đều
dùng Đàn Hương, Kê Hương mà bôi, đem trấn trong Đàn. Lại dùng đồ
bằng sứ mới sạch hai cái, một cái đựng đầy bột Đàn Hương, một cái
đựng đầy hoa Uất Kim, lại dùng 5 màu ở trên vẽ Đàn; trung tâm Đàn
vuông hai khuỷu lấy Bạch Đàn Hương mà tô, rải Uất Kim ở trên, ngoài
Đàn 4 phía cách 14 khuỷu trên đất dùng đất sạch hòa phân trâu mà
tô, nơi trung tâm Đàn dùng 7 màu vẽ hoa sen bảy báu trang nghiêm,
trên hoa vẽ bánh xe ngàn căm chung quanh có lửa cháy, tua hoa màu Phệ
lưu ly, ở trên thờ Phật, bên trái Phật vẽ Kim Cang tay phải cầm
chày, tay trái cầm búa, bên phải Phật vẽ Bồ Tát Ma Ni Bạt Chiết Lê
dùng các vòng xuyến trang nghiêm, một tay cầm châu Như ý, một tay
cầm Xâu chuỗi; bốn góc vẽ bốn Thiên Vương, thân mặc giáp, có khí
giới và Anh Lạc trang nghiêm hoặc làm tướng đáng sợ . Khi chưa làm
Đàn, trước cần đào đất bỏ các đất xấu một khuỷu, ở trung tâm Đàn
treo Tràng phan, Bảo cái để trang nghiêm, dùng 5 màu vẽ Đàn bốn phía,
ngoài Đàn bốn góc làm bốn lò lửa, dùng củi tốt như Pháp mà đốt,
bốn phía lò treo dây 5 màu, phan, phướng v.v… chừa một cửa phía Nam để
ra vào, ngoài Đàn phía Đông treo cờ xí, dùng 5 thứ hương hòa nước
đựng đầy trong bình bằng vàng để các hoa thơm an nơi góc Đàn, nếu
không có bình bằng vàng, dùng bình ngói vẽ vàng cũng được; lại dùng
bình bằng bạc bốn cái đựng đầy sữa an để bốn góc; ở trong Đàn phía
ngoài cửa vẽ Ma Ha Đề Bà và Tỳ Ma Đề Bà cùng một chỗ, dùng các
Anh Lạc trang nghiêm, bên trái cửa chính giữa vẽ Thương Xí Ni, trung
tâm cửa thứ ba vẽ Bạt Chiết La Xá Địa có 8 tay, mỗi tay đều cầm các
món khí trượng, dùng các Anh Lạc trang nghiêm nơi thân, hai tay giơ
khỏi đầu trương bức lụa màu xanh. Ngoài ra, bốn bên Đàn dùng các
màu sắc tốt đẹp, các thứ ăn uống cúng dường, lại dùng bốn bình
dựng đầy nước thơm và các thứ hoa, bốn bên chỗ thờ Thần thắp 32
ngọn đèn, giữa Đàn trên hoa sen để một bình bằng vàng đựng đầy nước
thơm, bỏ các loại trái, lúa, hoa để cúng dường Chư Phật. Trước Phật,
thiêu Tô Hợp Hương, còn các loại khác thiêu cúng dường tùy theo vị. Giữa Đàn, trước Phật để lư hương bằng bạc;
trước Bạt Chiết La Bà Ni thiêu An Tức Hương; trước Ma Ni Bạt Chiết
Lợi thiêu Tô Hợp Hương; trước Tứ Thiên Vương thiêu Huân Lục Hương,
thiêu Tắc Xá Tắc Hương, Đột Ca Hương; trước Ma Ha Đề Bà thiêu Bạch
Đàn Hương; trước Thương Chỉ Ni thiêu An Tức Hương ;

trước Sứ giả thiêu thi La Chỉ Hương. Cửa giữa Đàn, an để các thứ
cúng dường, cửa Đông vẽ A Lị Địa và sáu chị em, bên phải phía Tây vẽ
Ma Ha Đề Bà và Bố Sắc Bà Tát Địa, phía Bắc vẽ Tỳ Ma Đề Bà, bốn
bên Đàn dùng chỉ 5 màu cột treo 30 mũi tên, bốn góc để phướng lụa 5
màu, dùng các thứ hoa tán rải trong Đàn, các thứ trái cây an để
cúng dường, dùng 7 thứ bánh và các đồ ăn uống ngon ngọt cúng
dường, lại dùng 32 cái chậu đựng đầy nước hương thơm, bỏ các thứ hoa
an để trong Đàn, lại dùng 32 bình Quân trì đựng đầy nước, lại dùng 32
lò hương, 108 ngọn đèn, 108 tràng hoa để các loại nước, như Huân Lục
Hương, Tắc Bắc Lị Hương, Chiên Đàn, Trầm Thủy Hương, Kiện Đa La Dà
Hương, Du Chi Hương, Long Não Hương, Kê Tề Hương, Uất Kim, Tử Đàn v.v…
dùng các thứ hương hòa nước tắm gội Chư Thiên, các Chư Thiên thiêu
đốt các thứ hương tùy theo mỗi vị, dùng sữa, lạc, đường phèn, trái
cây hòa nước, nước sữa 8 chén, các thứ kia cũng mỗi thứ 8 chén,
lại để 8 chén cháo sữa, lại dùng Cánh Mễ, đậu Hồ Ma, Ngưu Tô hòa
nấu để trong 8 chén cháo sữa, 8 chén cơm Cánh Mễ, lại dùng 8 chén
đựng đầy Cánh Mễ rang hòa nước Thạch lựu, lại dùng 32 chén: 4 chén
đựng dầu Hồ Ma, 4 chén đựng bơ tốt, 4 chén đựng trái cây, đường phèn,
4 chén đựng đầy nước thạch mật, 4 chén đựng Hồ Ma, 4 chén đựng trái
cây, 4 chén đựng 7 loại lúa, 4 chén đựng mật, bánh, các thứ ăn
uống, lại dùng nước Bồ Đào hòa bún làm bánh, lại dùng nước Bồ
Đào hòa bột đậu phộng làm bánh, và dùng nước Bồ Đào hòa mè làm
bánh, lại giã Bồ Đào làm bánh, giã trái cây hòa đường phèn làm
bánh và làm bánh đường phèn, lại nấu Bồ Đào thành bánh, lại làm
đồ mật bánh, tùy theo các món có được đều dâng cúng; hai bên cửa
ra vào để hai bình Quân Trì đầy nước hương, dùng chú rằng :




- Úm ma ha tì bố ra bát sư để sắc trí đa tất để tì tiên giả ma na
ca, tát bà đát tha da đa tì sát kê bà ra bà ra sam bà ra hổ hồng hổ
hồng




( OM- MAHÀ VIPULA PRATISTA SIDDHE ABHISIMCA MANAKA SARVA
TATHÀGATA ABHISEKAI BHARA BHARA SAMBHARA HÙM HÙM )




Lại nên biết các vật trên đều dùng chú này chú vào nước sái vẩy,
cho đến đồ y phục, than, củi v.v…đều chú trước rồi mới đem vào trong
Đàn. Nếu thỉnh Phật, Thần, Tứ ThiênVương an nơi tòa hết thảy đều
dùng Thân ấn, Bổn chú mà thỉnh an vị, thỉnh xong không được dẫm đạp
lên chỗ các tòa. Tâm Đàn làm xong lại làm Đàn ngoài, thỉnh toạ
ngồi xong nơi chỗ ngồi kết hộ tự thân, nếu cho kẻ khác vào Đàn
trước bảo họ tắm rửa mặc quần áo mới và kiết tịnh cho họï, dẫn
lại bên lò thứ tự mà ngồi. Lại nữa, nên biết nếu chí tâm y Pháp đầy
đủ một lần vào Đàn, 10 phương Chư Phật đều thọ thanh tịnh ký cho quá
khứ, hiện tại các tội nặng đều tiêu diệt; nếu bị yểm đảo, trùng
độc đều tiêu trừ, hết thảy chướng nạn đều tiêu diệt; nếu bị bệnh
nặng, một phen vào Đàn bệnh đều tiêu tan; bị Quỷ Thần nhập, một phen
vào Đàn liền khỏi. Muốn cúng dường 10 phương Chư Phật, Bồ Tát, hoặc
muốn thành giống Phật, giống Bồ Đề chắc chắn không thối chuyển,
nên y giáo vào Đàn Pháp này; muốn cúng dường Ma Ha Đề Bà, Đại Tự
Tại Thiên, Na La Diên Thiên, Phạm Thiên, Đế Thích 32 cõi Trời, y như
Đàn này một lần cúng dường, tức như cúng dường đầy đủ Chư Thiên,
hết thảy Chư Thiên thảy đều vui vẻ. Nếu cúng dường Đàn này một lần
như cúng dường Ma Ha Ca La Đề Bà cùng 5 đệ tử, Ha Lị Đế 7 chị em, bốn
Thiên Vương, Ma Đát La Đạt các Thiên như đã cúng dường đầy đủ hết
cả .




Lại nữa nên biết khi làm Đàn xong, muốn thỉnh Chư Phật cầu các
nguyện hoặc Bồ Tát cầu các nguyện, hoặc Chư Thiên cầu các nguyện
đều được thành tựu tất cả quả báo như trên đã nói. Nếu bị ách nạn thân mạng không yên, cầu các tài bảo
không được, hết thảy các vệc xấu ác, nhập vào Đàn này xong mọi
việc đều được như ý. Nếu trong nước, tai nạn bệnh tật nổi
lên, Ác Quỷ Thần lưu hành độc khí, hoặc bị nước khác làm não loạn,
vào Đàn này rồi hết thảy oán tặc đều bị hàng phục; do phước lực
này đều không thể hại, hoặc cầu danh quan, hoặc cầu giàu có vào
Đàn này, hết thảy đều đầy đủ; nếu chí thành vào Đàn này, thân đời
này không bị các bệnh, các Ác Quỷ Thần không sai khiến được, thường
được hết thảy xưng tán, nói ra điều gì mọi người tin phục nghe theo,
ở đâu cũng được phước lợi; khi bỏ thân này, sanh ra chỗ nào cũng
sanh nơi cõi Phật, sanh nơi hoa sen, hết thảy hạnh Phật thảy đều đầy
đủ, không lâu sẽ được Đạo Vô Thượng Bồ Đề .









KINH
MÂU LÊ MẠN ĐÀ LA CHÚ
Về Đầu Trang Go down
 
KINH CHÚ MÂU LÊ ĐÀ LA NI
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Tâm lý kinh doanh
» Bài bình luận của thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh
» Cá Hổ - Piranha 2010 DVDrip 'kinh hết cả dị...'
» 8 món ăn kinh dị nhất Trung Quốc
» Hướng dẫn nghiệp vụ hàng hải (Capt. Tiếu Văn Kinh)

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu! :: >>>Mật Tông-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Have a free blog with Sosblogs