WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Chú Lăng Nghiêm Giảng Giải

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Huệ Thường



Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 22
Số lần cảm ơn : 5
Điểm Cống Hiến : 2798
Tham gia : 06/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Chú Lăng Nghiêm Giảng Giải   8/2/2010, 22:56

Nam Mô Lăng Nghiêm
Hội Thượng Phật Bồ Tát

Giảng giải :
Nam Mô là tiếng Phạn, dịch là "quy mạng", "cung
kính". Tức là đem thân tâm tính mạng của chúng ta đều quy y cho Phật.
Cung kính Phật năm thể sát đất. Chỉ có Phật là
chúng ta tin. Lăng Nghiêm tức là tất cả
sự việc, tức không phải là một thứ việc, mà là bất cứ sự việc gì cũng
đều bao quát trong đó, cứu kính đạt đến mức không thể phá hoại
được. Câu này là quy mạng tất cả chư Phật trong hội Lăng
Nghiêm, tất cả các Bồ Tát. Tụng Chú Lăng Nghiêm thì trước hết phải quy
mạng Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát, đọc ba lần.

Diệu trạm
tổng trì Bất Động Tôn, Thủ Lăng Nghiêm vương thế hi hữu.

Diệu trạm tổng
trì Ðấng Bất Ðộng, Chú Thủ Lăng Nghiêm hiếm có trong đời.

Giảng giải : "Diệu trạm", diệu tức là
không thể nghĩ bàn, không thể tưởng tượng được. Nếu tưởng
tượng được, biết được thì không nói đến diệu. Diệu
là vượt ra ngoài ý dự đoán. Tư tưởng không đạt đến được, cho nên gọi là
‘’ Không thể nghĩ bàn.’’ Trạm là trạm thâm, tức là sâu dày thậm thâm.
Không những là diệu, mà còn diệu sâu dày thậm thâm, không thể nghĩ bàn.


"Tổng
trì" là "tổng tất cả Pháp, trì vô lượng nghĩa". Tổng tất cả Pháp tức là
bao quát hết thảy các Pháp. Trì vô lượng nghĩa, tức là thọ trì nghĩa vô
lượng, đều bao quát ở trong đó. Cho nên ‘’diệu trạm‘’ là hiển mật viên
dung. Tổng trì là tùy duyên phổ ứng, tất cả tận hư không biến
pháp giới, cảnh giới có sự mong cầu, không thể không cảm ứng. Bổn thể
thường trụ tức bất động, bổn thể là tịch nhiên bất động, cảm mà toại
thông. Diệu trạm, Tổng trì và Bất động cả ba đều là diệu trạm, ba mà
một. Cả ba đều là tổng trì, một mà ba. Cả ba đều là bất động, chẳng phải
ba, chẳng phải một, cũng ba cũng một. Phân tích kỹ thì ý nghĩa trong
mỗi một cái đều có ba ý nghĩa.


"Ðấng Bất Ðộng" tức là danh hiệu chỉ cho Phật.
"Hiếm có trong đời" là thế, xuất thế đều tốt hơn hết.
"Chú Thủ Lăng Nghiêm hiếm có trong đời.’’
Câu này là khen ngợi Lăng Nghiêm đại định. Tu hành Lăng Nghiêm
vương đại định này, sẽ sinh ra tất cả các định, tất cả các định đều từ
định này mà sinh ra. Hiếm có trong đời
là nói trên thế gian không dễ gì có, khó gặp khó thấy nhất. Câu kệ này
là do Ngài A Nan bị Chú Phạm Thiên mê hoặc, Phật nói Chú Lăng Nghiêm rồi
phái Bồ Tát Văn Thù dùng ‘’Chú‘’ đi cứu Ngài A Nan đem về. Ngài A Nan
cảm tạ thâm ân của Phật, cho nên nói bài kệ hình dung sự cảm thọ của
Ngài.

Tiêu ngã
ức kiếp điên đảo tưởng. Bất lịch Tăng kỳ hoạch pháp thân.

Tiêu diệt tưởng
điên đảo của con, trong trăm ngàn ức kiếp, không phải trải qua số kiếp A
Tăng Kỳ, mà chứng được pháp thân.

Giảng giải : Con người từ vô lượng kiếp đến nay, có những
vọng tri vọng kiến, tà tri tà kiến, điên đảo mộng tưởng. Tưởng
điên đảo tức là chẳng phải thường cho là thường, chẳng phải đoạn cho là
đoạn, chẳng có cho là có, chẳng không cho là không ; chạy theo cảnh
giới không thật, không thể chuyển được cảnh giới không thật, tức cũng là
người bị cảnh chuyển, mà không thể chuyển được cảnh, tức cũng thường bị
nghiệp phong dắt đi. Sự sai lầm
chỉ là chút chút không nhiều, nhưng chỉ một chút chút này, mà khác biệt
với chân chánh thường trụ chân tâm, tính tịnh minh thể, sai lầm hàng
ngàn dặm. Ðiên đảo tức là không
nên tưởng mà tưởng, không nên tham mà tham, không nên sân mà sân, không
nên mê hồ mà mê hồ. Nói rõ ra là tưởng điên đảo trong tự tánh. Không thể
đại công vô tư, tức là điên đảo. Thứ tưởng
điên đảo này, là nguyên nhân khiến cho chúng ta thọ sinh tử, trong sáu
nẻo luân hồi. Tu thì phải tiêu trừ tưởng điên đảo.
Như Ngài A Nan là người thông minh như thế, mà vẫn có tưởng điên đảo
giống nhau. Sức trí nhớ của Ngài rất phi thường. Phật nói
hết thảy Kinh điển, một khi lọt qua tai thì vĩnh kiếp không quên. Nhưng
khi Ngài thấy nữ Ma Ðăng Già thì Ngài bị giao động, liền theo cô ta vào
trong nhà ngoại đạo. Ðây là tưởng điên
đảo của Ngài. Người nam thì tham, người nữ thì ái, tức là tưởng điên
đảo.Ðây là từ vô lượng kiếp đến nay đều có. Cho
nên nói Thủ Lăng Nghiêm Vương đại định, đại pháp này rất hiếm có
trong thế gian, sẽ tiêu trừ tưởng điên đảo đời đời kiếp kiếp, từ vô
lượng kiếp đến nay.


‘’ Không phải
trải qua số kiếp a tăng kỳ mà chứng được pháp thân.’’ Ðức Phật tu hành
trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp mới thành Phật. Cho nên :

Tam kỳ tu phước huệ,
Bách kiếp chủng tướng hảo.


Nghĩa là :


"Ba A Tăng kỳ tu phước huệ
Trăm kiếp trồng tướng tốt".

Tu phước một trăm đại kiếp, mới đắc được
ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. A tăng kỳ kiếp tức vô
lượng số, ba A tăng kỳ kiếp tức là ba vô lượng số. Số mục này có
bao nhiêu ? Dùng máy điện toán cũng đếm không được. Bây giờ Ngài A Nan
nói : ‘’ Không phải trải qua số kiếp A tăng kỳ, mà chứng được pháp
thân.’’ Tôi đắc được đại định kiên cố của Chú Lăng Nghiêm, không cần
trải qua ba A tăng kỳ kiếp mà có thể đắc được pháp thân, cũng sẽ thành
Phật, chứng được pháp thân tự tại, thần thông biến hóa. Thành
tâm tụng Chú Lăng Nghiêm thì không cần trải qua thời gian lâu dài cũng
sẽ đắc được pháp thân.

Nguyện
kim đắc quả thành Bảo vương, hườn độ như thị Hằng sa chúng, tương thử
thâm tâm phụng trần sát, thị tắc danh vi báo phật ân. Phục thỉnh Thế Tôn
vị chứng minh, ngũ trược ác thế thệ tiên nhập, như nhứt chúng sinh vị
thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê-hoàn.

Nay con nguyện
khi đắc được quả Bảo Vương, trở lại độ chúng sinh nhiều như số cát sông
Hằng, đem thân tâm này phụng sự chúng sinh, khắp các cõi nhiều như số
hạt bụi, đó mới là báo ơn Phật. Lại thỉnh Ðức Thế Tôn chứng minh : Vào
đời ác năm trược, con thề xin vào trước. Nếu còn một chúng sinh chưa
thành Phật, con sẽ không thủ chứng quả vị Nê Hoàn.

Giảng giải : Ngài A Nan ở trước nói : ‘’ Tiêu
diệt tưởng điên đảo của con trong trăm ngàn ức kiếp, không phải trải qua
số kiếp a tăng kỳ mà chứng được pháp thân.’’ Bây giờ lại nói : ‘’ Nay
con nguyện khi đắc được quả Bảo vương.’’ Nay tôi phát nguyện, nguyện
trước khi thành Phật, đắc quả tức là đắc Phật quả, Bảo Vương tức là
Phật.


"Trở lại độ chúng
sinh nhiều như số cát sông Hằng". Tôi thành Phật không phải vì chính
mình, còn phải trở lại thế giới Ta Bà, giáo hóa chúng sinh nhiều như số
cát sông Hằng. Tất cả chúng sinh tôi đều phải giáo hóa.


‘’ Ðem thâm tâm này
phụng sự chúng sinh, thân khắp các cõi nhiều như số hạt bụi.’’ Tâm tức
trí huệ Bát nhã. ‘’ Phụng sự chúng sinh khắp các cõi nhiều như số hạt
bụi.’’ Biến hóa đến mười phương thế giới để giáo hóa chúng sinh. Tôi
dùng nguyện lực phổ biến khắp mười phương cõi nước, nhiều như số hạt bụi
thế giới, để giáo hóa chúng sinh.


‘’ Ðó mới là báo ân
Phật.’’ Dùng tâm chí thành khẩn thiết mới báo đáp được ân đức của Phật
đối với tôi.


‘’ Lại thỉnh Ðức Thế
Tôn chứng minh.’’ Lại kiền thành thỉnh cầu Thế Tôn chứng minh nguyện lực
này của A Nan.


‘’ Vào đời ác năm
trược con thề xin vào trước.’’ Chúng sinh trong đời ác năm trược rất khó
độ, tôi phải độ trước. Năm trược là : Kiếp trược, kiến trược,
phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược, chúng sinh cang cường khó
điều, khó phục. Tôi phải vào trước thế giới Ta Bà tội ác để độ chúng
sinh.


‘’ Nếu còn một chúng
sinh chưa thành Phật, con sẽ không thủ chứng quả vị Nê Hoàn.’’ Tôi
thủy chung không thể thủ chứng quả A La Hán. Sơ quả Tu Ðà Hoàn, nhị quả
Tư Ðà Hàm, tam quả A Na Hàm, tứ quả A La Hán, cũng không thể thủ quả vị
Niết Bàn của Phật. Nếu còn chúng sinh chưa thành Phật, thì tôi ở tại
đây đợi để giáo hóa họ, khiến cho họ đều thành Phật, rồi sau tôi mới thủ
chứng quả vị Nê Hoàn. Quả vị Nê Hoàn của nhị thừa tức quả vị A La Hán,
Phật thì quả vị Niết Bàn, tức cũng là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ðây là sự phát nguyện của Ngài A Nan, đến giúp Phật hoằng dương, trợ
giúp Phật Thích Ca Mâu Ni để giáo hóa Chúng sinh.

Đại hùng
đại lực đại từ-bi, hi cánh thẩm trừ vi tế hoặc, linh ngã tảo đăng vô
thượng giác, ư thập phương giới tọa đạo tràng.

Ðại hùng đại lực
đại từ bi. Nguyện cầu trừ sạch hết hoặc vi tế, khiến cho con sớm thành
vô thượng giác. Kiến lập đại đạo tràng trong khắp mười phương.

Giảng giải : ‘’ Ðại hùng ‘’, tức là đại anh hùng,
cũng bao quát đại trí, đại huệ, đại hạnh, đại nguyện trong đó.
‘’ Ðại lực’’, càng không thể so sánh thứ sức lực to lớn này. Tức có đại
hùng lực, lại có đại từ bi. Dùng đại hùng đại lực để chủ trì tâm đại từ
bi. Từ là ban cho chúng sinh hết thảy sự vui sướng, bi là
cứu hết thảy khổ của chúng sinh. Thương chúng sinh không thể cùng tận,
tất cả nguyện của chúng sinh đều đầy đủ. Chúng sinh có nguyện cầu gì với
Phật, Phật đều làm cho họ được như ý.


‘’ Nguyện cầu trừ
sạch hết hoặc vi tế’’. Ở trên đã thỉnh Phật ‘’ Tiêu diệt tưởng điên đảo
của con, trong trăm ngàn ức kiếp‘’, là chỉ tiêu trừ kiến hoặc, tư hoặc
bây giờ lại tiêu trừ trần sa hoặc.
Trần sa hoặc là một thứ hoặc vi tế, chỗ mà bạn cảm giác không đến được,
trầm ở dưới đáy tâm của bạn, vọng niệm vi tế, vô minh. Nguyện cầu đại
hùng đại lực của Phật Thế Tôn trừ khử mê hoặc vi tế của tôi.


‘’ Khiến cho con sớm
thành vô thượng giác.’’ Khiến cho con sớm thành Phật đạo.
‘’ Kiến lập đại đạo tràng trong khắp mười phương.’’ Kiến lập đạo tràng
lớn trong mười phương thế giới, để hoằng dương Phật Pháp. Có
người nói Ngài A Nan phát nguyện này rất mâu thuẫn. Ở trước nói : ‘’ Nếu
còn một chúng sinh chưa thành Phật, con sẽ không thủ chứng quả vị Nê
Hoàn.’’ Bây giờ lại hy vọng sớm thành Phật đạo, ngồi đạo tràng trong
mười phương thế giới. Nguyện này không phải là mâu thuẫn chăng ? Không
phải. Ở trước Ngài nói : ‘’ Con sẽ không thủ chứng quả vị Nê Hoàn ‘’. Là
độ hết chúng sinh mới thủ chứng quả Nê Hoàn, nếu chưa độ hết thì không
thủ chứng chánh giác ! Bây giờ thỉnh Phật gia bị cho Ngài. Khiến cho thô
hoặc, tế hoặc của Ngài dứt sạch, chúng sinh cũng độ hết, khiến cho
nguyện lực của Ngài mau chóng được thành tựu.


‘’ Khiến ‘’ là sử
khiến cho Ngài sớm chứng được vô thượng giác, sớm thành Phật đạo, tức
cũng thỉnh Phật giúp Ngài, Ngài phải độ hết chúng sinh. Nói : ‘’ Nếu còn một chúng sinh chưa thành Phật ‘’, là chỉ chúng sinh có duyên với Ngài, Ngài đều phải độ
hết. Nếu chúng sinh không có pháp duyên với Ngài, thì đợi người khác độ,
không phải tôi là luật sư biện hộ cho Ngài A Nan, chắc chắn là như thế.
Nếu hết thảy tất cả chúng sinh trên thế giới đợi Ngài A Nan đi độ, thì
các Bồ Tát khác làm gì ? Ðợi hương khói chăng ? Không có lý này. Phật, Bồ Tát cũng phân công hợp tác, mỗi vị tận hết khả
năng, tùy duyên độ sanh. Giống như chúng ta ở
đây có nhiều người khách đến, mọi người phân công hợp tác, bên đây lo
phòng xá, bên kia lo quét dọn, đằng kia thì cắt cỏ. Ðây đều là ai lo
việc nấy, là vì thành tựu đạo tràng, là ý nghĩa này. Cho nên bạn đừng
cho rằng Ngài A Nan phát nguyện này mâu thuẫn, bạn phê bình như thế cũng
làm cho Ngài A Nan một thân tội quá. Ngài A Nan muốn độ bạn nhưng mà
bạn lại phê bình Ngài, nói Ngài mâu thuẫn. Ngài A
Nan mâu thuẫn là việc của Ngài, chính bạn không mâu thuẫn thì được rồi.
Các vị nghĩ xem, "đừng dùng tâm
phàm phu để dò Thánh trí, dùng tâm tiểu nhân để đo bụng quân tử",
chỉ loạn thêm, phê bình là không thể được.

Thuấn nhã
đa tánh khả tiêu vong, thước-ca-ra tâm vô động chuyển.

Tính hư không có
thể tiêu vong, tâm hư không chẳng bao giờ lay động.

Giảng giải : ‘’Thuấn nhã đa‘’ là gì ? ‘’Thước ca la ‘’
lại là gì ?
‘’Thuấn nhã đa tính khả tiêu vong.’’ Là nói tính hư không cũng
có thể không còn. Bạn nói hư không có thể không còn chăng ? Không thể.
Vì nó là không, còn tiêu cái gì ? Nó vốn là không có gì, có gì để tiêu ?
Nhưng Ngài A Nan lại nói nó có thể tiêu vong. Ðây chỉ là từ giả thiết.
Hư không không thể tiêu vong cũng có thể tiêu vong.

Nam mô thường trụ thập phương
Phật.
Nam mô thường trụ thập phương Pháp.
Nam mô thường trụ thập phương Tăng.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát.

Giảng giải : ‘’Nam mô thường trụ thập phương Phật, Nam mô
thường trụ thập phương Pháp, Nam mô thường trụ thập phương Tăng.’’ Ðây
là quy y Tam Bảo. Chúng ta quy y mười phương chư Phật. Lại quy y pháp
của Phật nói. Lại quy y mười phương ba đời hiền Thánh Tăng. Hiền Thánh
Tăng là đại Bồ Tát, đại A La Hán đều bao quát trong đó.


‘’ Nam mô Thích Ca
Mâu Ni Phật ‘’. Quy y mười phương Tam Bảo rồi, lại quy y Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni theo tiếng Phạn dịch là
"năng nhân tịch mặc", "năng nhân" là phổ độ chúng sinh, "tịch
mặc" là tịch nhiên bất động. Năng nhân cũng là cảm mà toại
thông. Hay dùng nhân từ thí cho chúng sinh. Ðây là động tĩnh không hai. Năng nhân là động, tịch mặc là tĩnh. Ðộng tĩnh nhất như. Trong
động tức là tĩnh, trong tĩnh tức là động. Ðộng không ngại tĩnh, tĩnh
không ngại động. Bạn tu đạo tu đến động tĩnh nhất như, thì tìm được bổn
thể, càng không có vọng niệm gì.


‘’Nam mô Phật đảnh
Thủ Lăng Nghiêm‘’. Lại quy y Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm đại định này.


‘’ Nam mô Quán Thế Âm
Bồ Tát. ‘’ Lại quy y Quán Thế Âm Bồ Tát.


‘’ Nam mô Kim Cang
Tạng Bồ Tát.’’ Lại quy y tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát. Niệm Chú
Lăng Nghiêm thì có tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng Bồ Tát thường bảo hộ
bạn, theo hầu hai bên. Cho nên niệm Chú Lăng Nghiêm không phải là sự
trồng căn lành một đời một kiếp, mà là đã trồng căn lành trong vô lượng
trăm ngàn vạn ức kiếp về trước, mới có thể học và trì tụng Chú Lăng
Nghiêm. Không phải trồng căn lành nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba,
bốn, năm đức Phật mà đã trồng căn lành với vô lượng ngàn vạn đức Phật,
mới gặp được Chú Lăng Nghiêm.


Có người nghĩ : "Sư
phụ, hôm qua Ngài nói, không minh bạch là diệu. Vậy tại sao lại phải
giảng cho chúng con nghe "! Tôi giảng là việc của tôi, bạn không nghe là
việc của bạn. Bạn có thể ngủ tại đó, đó lại càng diệu, nhập Tam ma địa
ngủ. Một khi ngủ thì đi gặp Chu Công. Chu Công nói : ‘’ Hoan nghênh bạn
đến ! Ðánh một ván cờ với bạn ‘’, thì đánh cờ tại đó, đợi giảng xong Chú
Lăng Nghiêm thì bạn cũng đánh cờ xong, nói : ‘’ Ồ, cái gì thế ? ‘’ tôi
cũng không biết.
Có một vị cư sĩ muốn cầu tôi quán đảnh cho các vị. Tôi cũng muốn làm
tròn ý nguyện của các bạn. Bây giờ tôi dùng Quán Âm đại
pháp để quán đảnh toàn thể các bạn. Mọi người đều ngồi tại chỗ, chắp tay
lại, nhất tâm niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, tốt nhất là hãy nhắm mắt
lại, đem tâm chân thành ra, đừng hoài nghi cũng đừng có tâm thử
nghiệm. Phải nhất tâm nhất ý để tiếp thọ quán đảnh. Các bạn tu
Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn, phải thành tâm một chút, từ từ tu pháp này.
Tu pháp này tương lai sẽ đắc được thiên thủ
thiên nhãn (ngàn tay ngàn mắt). Giống như Bồ Tát Quán Âm đến giáo hóa
chúng ta. Ðây là kỳ vọng của tôi đối với các bạn. Tu
pháp phải có hành vi chánh đáng, tâm địa tốt, không thể dùng tâm tham,
không thể dùng tâm ô nhiễm đi lường gạt người. Không thể dùng pháp này
đi phan duyên bên ngoài. Phải lão lão thực thực, không thể có
hành vi bất chánh đáng, điều này rất quan trọng.

Nhĩ thời
Thế Tôn, tùng nhục kế trung, dõng bá bảo quang, quang trung dõng xuất,
thiên diệp bảo liên, hữu hóa Như Lai, tọa bảo hoa trung, đảnh phóng thập
đạo, bá bảo quang minh, giai biến thị hiện thập Hằng hà sa, Kim Cang
Mật Tích, kình sơn trì sử, biến hư không giới, đại chúng ngưỡng quan, uỶ
aí kiêm bảo, cầu Phật ai hựu, nhứt tâm thính Phật, vô kiến đảnh tướng,
phóng quang Như Lai, tuyên thuyết Thần Chú.

Lúc bấy giờ, từ
trong nhục kế của Ðức Thế Tôn, vọt ra trăm luồng quang minh báu. Trong quang minh vọt ra hoa sen
báu ngàn cánh. Trong hoa sen báu ngàn cánh, có hóa thân Như Lai ngồi
trên đỉnh, phóng ra mười đạo trăm quang minh báu, mỗi mỗi quang minh,
đều biến hiện vô số Kim Cang Mật Tích, nhiều như số cát mười sông Hằng,
tay bưng núi, tay cầm chùy đầy khắp trong hư không. Ðại chúng đều chiêm
ngưỡng quan sát, vừa sợ vừa thích, cầu Phật thương xót, một lòng lắng
nghe Phật, từ tướng vô kiến đảnh của Như Lai, phóng quang minh diễn nói
thần Chú.

Giảng giải : ‘’ Lúc bấy giờ ‘’, tức là lúc nói Chú Lăng
Nghiêm. Bây giờ lại là lúc giảng Chú Lăng Nghiêm. Nói Chú Lăng Nghiêm là
mấy ngàn năm về trước. Giảng Chú Lăng Nghiêm là mấy ngàn năm về sau.
Nghe Chú Lăng Nghiêm là bây giờ, không phải quá khứ, cũng không phải vị
lai. Vì quá khứ đã qua rồi, vị lai thì chưa đến.
Còn về hiện tại, hiện tại cũng không ngừng. Nay bạn nói đây là hiện tại
thì đã quá khứ rồi. Hiện tại cũng không tồn tại. Tại sao nói như thế ?
Vì tâm quá khứ không thể đắc được, tâm hiện tại không thể đắc được, tâm
vị lai không thể đắc được, ba tâm không thể đắc được. Chỉ có Chú Lăng
Nghiêm là đắc được.


‘’ Ðức Thế Tôn ‘’, là
thế, xuất thế, đều tôn kính. Lại không so sánh thì càng tôn quý, cao
siêu tức là Phật. Lúc đó từ trên đỉnh nhục kế của Phật phóng ra trăm
luồng quang minh báu, trong quang minh báu vọt ra hoa sen báu ngàn cánh.
Trăm báu ở đây là biểu hiện bách giới. Hoa sen báu ngàn cánh là biểu
hiện thiên như. Nói là nói như thế, thật ra không phải là biểu hiện bách
giới thiên như mà là vô cùng vô tận, vô lượng vô biên. Có thể nói ba
ngàn đại thiên thế giới, đâu chẳng phải từ trăm quang minh báu hóa
thành. Trên hoa sen báu có hóa thân của Phật. Hóa thân là do không mà
hóa có. Nói nó có, nó lại không có, nói nó không có, nó lại có. Hốt
hiển, hốt ẩn, hốt có, hốt không. Ngước mặt xem ở trước, hốt nhiên lại ở
sau. Hóa thân Như Lai, tức là Phật biến hóa thân, ngồi trên hoa sen báu
ngàn cánh. Trên đầu hóa thân Như Lai, lại phóng ra mười luồng trăm quang
minh báu. Mười luồng quang minh biểu hiện mười pháp giới. Mỗi mỗi quang
minh đều phổ biến thị hiện Bồ Tát Kim Cang Mật Tích nhiều như số cát
mười sông Hằng. Kim Cang Mật Tích cũng là Kim Cang Hộ Pháp, tức cũng là
Hộ Pháp Kim Cang. Mật Tích tức là trầm mặc bảo hộ bạn. Niệm Chú có ít
nhứt tám vạn bốn ngàn Kim Cang bảo hộ bạn. Thực ra không chỉ có chừng
ấy, mà có nhiều như số cát mười sông Hằng, dùng máy điện toán cũng tính
không được, số Hộ Pháp Kim Cang trong trầm mặc bảo hộ bạn. Bạn tự mình
không nhìn thấy, nhưng có thật.


Bồ Tát Kim Cang Tạng
một tay bưng quả núi lớn, một tay cầm cái chùy báu lớn, xem lớn cỡ nào,
đầy khắp hư không.
"Ðại chúng đều chiêm ngưỡng quan sát, vừa sợ vừa thích, cầu Phật thương
xót". Sợ sệt, trong tâm như có con thỏ đang nhảy nhót. Nói không dám
nhìn, lại bỏ chẳng đặng, muốn nhìn lại sợ sệt, đầu tóc đều dựng đứng,
toàn thân đều nổi da gà.


"Vừa sợ vừa thích",
vừa có sợ vừa có sự ưa thích. Hai thứ tâm tình, hai thứ tư tưởng.


‘’ Cầu Phật thương
xót‘’. Lúc đó bèn cầu Phật Thích Ca thương xót chúng ta.
‘’ Một lòng lắng nghe Phật ‘’. Lúc đó thật không có vọng tưởng, nhất
tâm, không có tâm thứ hai. Không giống như các bạn nghe Chú Lăng Nghiêm,
pháp sư giảng tại đây mà trong tâm khởi vọng tưởng, không thể nhất tâm.
Ðương nhiên tôi không có đại oai đức như Phật, cho nên tôi giảng cho
các bạn nghe, các bạn đều khởi vọng tưởng.


‘’ Từ tướng vô kiến
đảnh của Như Lai.‘’ Không thấy được tướng đảnh của Phật. Tướng vô kiến
đảnh này nhìn tựa có như không có, nói không có lại như có. Tướng vô
kiến đảnh là bạn nhìn không thấy, cũng là không chỗ nào mà chẳng thấy,
chẳng nhìn chẳng thấy.


‘’ Phóng ra quang
minh diễn nói thần Chú.’’ Tức là Như Lai biến hóa trên hoa sen báu lớn,
trên tướng vô kiến đảnh của Ngài sinh ra trăm quang minh báu, trăm quang
minh báu lại có hoa sen báu ngàn cánh. Trên hoa sen báu ngàn cánh lại
có hóa thân Như Lai, lại phóng đại quang minh diễn nói thần Chú. Ðây là
Phật hóa Phật tuyên thuyết thần Chú. Không phải một số người có thể nghe
được. Ðương thời, đều là những vị pháp thân Ðại
Sĩ, đại Bồ Tát mới có thể nghe được thần Chú. Bạn muốn nghe thì trước
phải học Chú Lăng Nghiêm. Học xong rồi mới có thể nghe.
Về Đầu Trang Go down
 
Chú Lăng Nghiêm Giảng Giải
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Các anh cho em hỏi phương pháp tính momen thể tích giả định do hàng hạt rời gây ra
» [4/9/14] BigBang x tượng KRUNK
» [K] Mari Tae Yang giải cứu công chúa G-Dragon [Shortfic|TaeJi] _ Chap 2
» Giáo trình môn Kỹ Thuật Điện Tử
» (CCS) Ảo giác

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu! :: >>>Mật Tông-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog