WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Huệ Thường



Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 22
Số lần cảm ơn : 5
Điểm Cống Hiến : 2743
Tham gia : 06/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.   11/2/2010, 11:39

Báo Pháp Luật.

Ông Đạo Lập tàng hình


Những câu chuyện truyền khẩu từ đời này sang đời khác đã phủ lên các đạo sĩ Thất Sơn một màu sắc thần thoại.
Được mệnh danh là người có nhiều phép thuật và trị bệnh giỏi của Bửu Sơn Kỳ
Hương là ông Phạm Thái Chung mà người đời thường gọi là ông Đạo Lập (do
ông lập nên chùa Bồng Lai ở Bà Bài, xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên).
Sang sông rộng bằng chiếc nón làm thuyền
Nhờ tự thân tu luyện nên dân gian truyền tụng ông Đạo Lập có nhiều
phép lạ. Những lúc ngao du bốn biển, muốn sang sông rộng, biển sâu ông
chỉ cần dùng chiếc nón lá rộng vành đang đội trên đầu thẩy xuống nước
làm thuyền. Ông còn đoán biết trước chuyện chẳng lành xảy đến mà tránh,
thậm chí đi mây về gió để kịp thời cứu khổ cứu nạn cho người khác.
Tương truyền buổi đầu thời Pháp thuộc, không biết ông Đạo Lập góp
tay cho nghĩa quân thế nào mà thực dân Pháp cứ lùng bắt. Một lần ông
đến Hà Tiên thăm nhà người quen, đúng khi bọn thực dân dò ra tung tích
nên đến vây bắt. Chợt nghe có tiếng động, ông liền đứng lên cắp nón,
cầm gậy xô cửa tầu khậu (nhà ngoài, nơi làm kho chứa hàng hóa) rồi bước
vào trong, bảo chủ nhân khóa chặt cửa lại.
Lên nhà trên, chủ nhà thấy toán người Pháp đang lục soát, truy tìm
ông Đạo Lập. Sau khi sục sạo khắp nơi, họ bắt chủ nhà mở cửa tầu khậu.
Lúc ấy tâm trạng chủ nhà như chết đứng, cứ ngỡ mở cửa ra bọn Pháp tóm
ông Đạo Lập là cái chắc. Ai dè, cửa mở, chẳng thấy gì trong đó, ông Đạo
Lập đã biến đi tự bao giờ!



Khu du lịch Mũi Nai (Kiên Giang) là nơi tương
truyền ông Đạo Lập đón thuyền trở về với câu chuyện biết tàng hình của
ông Đạo Lập.


Dân gian truyền khẩu khi đảng Cần Vương còn hoạt động, ở vùng Châu
Đốc có một người tên Thái được đảng tín nhiệm. Ông Thái được giao giữ
tờ mật chiếu, nếu để bại lộ thì rất nguy. Ông Thái bèn giấu tại miễu
thờ Thần Nông hoang vắng. Ít lâu sau ông đến kiểm tra thì phát hiện tờ
mật chiếu mất. Một điều lạ là khi giấu ông Thái rất thận trọng, nhét
mật chiếu vào trong tờ giấy đề chữ “Thần” lớn, đặt ngay bàn chánh trong
miếu. Vì là chỗ tôn nghiêm nên tờ giấy này xưa nay không ai dám động
đến. Mất mật chiếu, ông Thái hết sức lo sợ cơ mưu bị bại lộ.
Tình cờ, một hôm ông Đạo Lập gặp ông Thái, trong câu chuyện ông Đạo
Lập tiết lộ đã hóa rắn theo dõi và đốt tờ mật chiếu để bảo vệ mưu đồ
đại nghĩa. Từ đó người đời đồn đại và tin là ông Đạo Lập biết tàng
hình.
Dự báo thiên cơ
Theo lời của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội ở Hà Tiên, bà từng nghe
kể lại ngày xưa ông cố của bà vốn là nhà hàng hải, thường chở hàng hóa
sang Xiêm (Thái Lan) buôn bán. Hồi ấy, ông cố vừa đóng xong chiếc
thuyền buôn đặt tên là Minh Thuận và định cho xuất cảng với hàng hóa là
hồ tiêu, hải sâm, đồi mồi… thì đúng lúc ông Đạo Lập ghé nhà chơi. Sau
lễ cúng kiếng, ông cố của bà hỏi xin ông Đạo Lập một phép bình an, may
mắn cho chuyến khai trương đặc biệt này. Ông Đạo Lập đưa cho ông cố bà
ba lá bùa và nói chuyến đi rồi cũng may mắn, phát tài. Duy chỉ có vướng
chút lo sợ nhưng cuối cùng sẽ bình an vô sự. Với ba chiếc bùa, khi ra
khỏi cửa Hà Tiên thì đốt đi một lá. Lá thứ nhì chờ lúc có một con cá to
định làm hại thì đốt. Còn lá thứ ba để dành đốt khi vào cửa sông Bắc
Nam.
Thuyền dong buồm với 10 người, chiếc bùa thứ nhất được đốt vừa lúc
ra khỏi Hà Tiên. Thuyền ra giữa biển, thình lình ở trước mũi thuyền
sóng bắn lên cao. Một con cá to nhảy bổng lên khỏi mặt nước, bằng một
tầm người đứng. Vị thuyền trưởng nhớ lời dặn của ông Đạo Lập đem đốt lá
bùa thứ hai. Thuyền lập tức bình yên, tiếp tục vượt biển.
Lênh đênh trên đại dương, một buổi chiều nọ, trước mũi thuyền bỗng
vụt hiện lên vật gì to như hòn đảo. Cả thuyền ai nấy đều kinh ngạc,
tưởng chừng tàu bị lạc vào đảo hoang. Nhưng nhìn kỹ thì thấy nó cử động
và khi đến gần mới nhận ra một con kình ngư khổng lồ, đang đùng đùng
lướt sóng chặn đầu thuyền. Biết rõ đó là con vật ăn thịt người, trên
tàu ai nấy kinh hoảng. Vị thuyền trưởng bấy giờ mới sực nhớ lá bùa thứ
nhì đã đốt, chắc chắn nó phải được đốt vào lúc này mới đúng. Cùng
đường, thuyền trưởng đành đem đốt lá bùa thứ ba nhưng hoàn toàn vô
hiệu.



Cửa sông Hà Tiên, nơi được truyền tụng ngày xưa ông Đạo Lập tiễn thuyền Minh Thuận đi buôn chuyến đầu.
Kình ngư lướt tới càng nhanh, cái vẫy đuôi nhẹ của nó cũng đủ làm
thuyền lật úp. Lúc ấy mọi người đều trông rõ từng khía cạnh của cánh vi
cá khổng lồ. Thuyền trưởng ra lệnh cho thuyền đảo chệch một bên để
tránh vật dữ. Tuy nhiên, sóng bủa trùng trùng tràn ngập cả sàn thuyền.
Cánh vi cá và cánh buồm thuyền đã cao ngang nhau và chỉ cách chưa đầy
chục thước. Nháy chớp, lưng cá đã cọ vào sườn thuyền khiến thuyền chao
nghiêng dữ dội. Phút nguy ngập ập đến nhưng không hiểu sao con kình ngư
bỗng dừng lại. Đợi khi thuyền vừa vượt khỏi, nó mới quẫy đuôi một cái
khiến thuyền phải quay tròn mấy vòng. Mọi vật trên thuyền đều bị xô đổ
nhưng từ từ yên trở lại.

Ông
Phạm Thái Chung người ở làng Đa Phước, huyện An Phú (An Giang). Ngoài
tên mà người dân vẫn gọi là Đạo Lập, ông còn có biệt hiệu khác là Đức
tiên sinh. Hằng năm cứ vào ngày 26-9 âm lịch, người dân cúng giỗ ông.
Từ
hôm ấy cho đến khi trở về, thuyền được bình yên, không còn gặp trở
ngại. Khi về tới Mũi Nai (Kiên Giang), vị thuyền trưởng vừa lên bờ đã
thấy ông Đạo Lập đứng sẵn ở dưới đám dừa bên mé biển, cười nói: “Đoán
biết bữa nay cậu về nên ghé lại đón mừng. Chà! Chiều hôm ở ngoài Thổ
Châu, cậu đã sợ xanh mặt, khi đó tôi ngồi trên chóp cột buồm chớ đâu.
Nếu tôi không giữ cho thuyền vững lại và đuổi quái ngư đi, nó sẽ cắm
đến và đội lật thuyền, các người đều đã vào bụng nó rồi. Các người
chẳng thấy từ xa nó hướng thẳng về mũi thuyền đó sao!”.
Thuyền trưởng bỗng thất sắc, nhớ lại từng phút lâm nguy ngoài biển.
Ông Đạo Lập còn nói: “Chỉ tội nghiệp cho con cá bé, bỗng dưng chết oan
ức vì lá bùa thứ hai, đáng lẽ phải để mà diệt con quái ngư ấy”. Nghe
ông Đạo Lập nói, ai nấy đều kinh hồn.
Cho đến nay, dân vùng Thất Sơn và vùng ven biên giới dọc theo tuyến
quốc lộ N1, nối từ Bảy Núi về miệt Kiên Lương, Hà Tiên vẫn còn kể khá
nhiều chuyện về ông như ông Đạo Lập làm phép, ông Đạo Lập ném dao…

VĨNH SƠN


Được sửa bởi Huệ Thường ngày 11/2/2010, 11:46; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Huệ Thường



Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 22
Số lần cảm ơn : 5
Điểm Cống Hiến : 2743
Tham gia : 06/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.   11/2/2010, 11:40

Đạo sĩ và võ học




Những câu chuyện võ nghệ phi thường, nhuốm màu huyền bí của các vị đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.


Để
sinh tồn và ẩn danh làm chuyện lớn, hầu hết đạo sĩ ngày trước đều học
võ. Ở Thất Sơn vốn còn vị đạo sĩ cao niên là ông Ba Lưới (tên thật
Nguyễn Văn Y), kể cho chúng tôi nghe về một số loại hình võ thuật kỳ lạ
mà ông từng nghe biết.
Võ hữu hình và võ siêu hình
Dân gian chia võ làm hai loại: Một là võ hữu hình (tức luyện tập
công phu, dùng cơ bắp và kỹ năng thế võ). Loại thứ hai là võ siêu hình
như bùa phép, tàng hình, thiên linh, hộ pháp…
Ông Ba Lưới ngày trước chủ yếu học võ Thiếu lâm Thất Sơn cổ truyền,
lấy võ lực và sức mạnh làm nguồn sống căn bản của con người; lấy đạo
hạnh làm phương châm cứu đời của người võ sĩ đạo, mong muốn trở thành
người đóng góp hữu ích cho xã hội.
Theo ông Ba Lưới, ngày xưa ai học võ Thiếu lâm đều phải giữ trọn lời
thề với những quy định nghiêm ngặt của môn phái. Do người học võ ngày
trước đa phần là đạo sĩ nên chỉ cố công luyện tập theo võ cổ truyền,
hiếm người học loại hình võ học thứ hai.
Ông Ba Lưới cho hay sở dĩ ngày trước tướng cướp lừng danh Đơn Hùng
Tín xưng bá một phương ở vùng Bảy Núi là nhờ học được thiên linh. Môn
võ này hầu như không có chiêu thức, cũng chẳng đánh thắng được ai. Chỉ
có điều học được nó là có thể tàng hình. Người luyện võ ra vào bất kỳ
nhà ai cũng không bị phát hiện. Nhờ vậy mà ngày xưa Đơn Hùng Tín sang
Cao Miên (Campuchia), vào nhà trộm lấy của người giàu mang về phân phát
cứu khổ cho dân nghèo vùng Bảy Núi. “Ổng ra vào mấy tiệm vàng như chơi.
Chủ tiệm không hiểu vì sao vàng bị mất trong khi dấu tích gì cũng chẳng
thấy” - ông Ba Lưới kể.
Võ bùa
Ở Thất Sơn còn có môn võ ít người theo nhưng hiệu lực phi thường,
gọi là Thần quyền Thất Sơn hay Sình tả. Theo dân gian thì Thần quyền
còn gọi là võ bùa. Người theo môn võ ấy không cần luyện tập nhiều mà
chỉ cần thổi hương, uống bùa, gọi thần chú là có sức mạnh, muôn người
không địch nổi… Bởi cách thức có phần thần bí mà nhiều môn phái khác
luôn tìm đến phân tài cao thấp. Vì thế có một thời môn võ này phải lui
vào ẩn dật. Các vị cao niên vùng Bảy Núi ngày nay chỉ còn nhớ mang máng
ngày trước có một vị cao tăng người Ấn Độ lưu lạc sang Việt Nam, ông
chọn vùng Bảy Núi làm chốn tu hành, mang theo môn võ kỳ lạ và đầy bí ẩn
này.



Dãy núi huyền bí Thiên Cấm Sơn (núi Ông Cấm) được
cho là nơi tướng cướp Đơn Hùng Tín một thời ngang dọc, lấy của người
giàu chia cho dân nghèo. Ngày nay nơi đây như Đà Lạt thứ hai ở miền Tây
với dải sương mù dày đặc trong những ngày cận tết. Ảnh: VĨNH SƠN

Khi nhập môn, môn đồ của môn phái Thần quyền phải đứng trước bàn thờ
thề đủ chín điều (càng học cao thì số lời thề càng tăng thêm và cao
nhất là 16 điều). Sau đó, mỗi người sẽ được sư phụ phát cho hai lá bùa.
Trên những lá bùa ấy có vẽ hình đạo sĩ ngồi thiền và những thông số mật
mã của môn phái. Trước khi truyền thụ những câu thần chú, bí kíp võ
công thì hai lá bùa ấy được đem đốt lấy tro hòa vào nước cho người mới
nhập môn... uống cạn. Thần chú của môn phái thì có rất nhiều như chú
gồng, chú xin quyền, chú chữa thương... Người được truyền thần chú cứ
tự mình gọi chú mà xin sức mạnh, tập quyền cước.
Trước khi tập, người luyện Thần quyền phải được sư phụ khai thông
tất cả huyệt đạo trên cơ thể. Việc ấy, các sư phụ thường làm bằng cách
dùng nắm nhang đang nghi ngút khói thổi vào huyệt đạo của đệ tử. Môn
sinh là nam giới thì dùng bảy nén nhang thổi bảy lần vào mỗi huyệt đạo.
Môn sinh là nữ thì dùng chín nén và thổi đúng chín lần. Lời chú ấy
không được phép tiết lộ cho bất kỳ ai. Truyền chú xong, sư phụ bảo cứ
nhẩm theo câu chú ấy mà luyện. Chú nhập đến đâu thì công phu tự khắc...
ra đến đó.
Đạo sĩ Ba Lưới kể người học võ Sình tả thấy mình lâng lâng như say
rượu. Lúc thì thấy tay nhẹ bẫng, khi thì thấy nặng như khuân khối sắt
vạn cân. Khi đã “nhập đồng” thì cảm giác mờ ảo, lúc thấy mình biết
chưởng, lúc thì lăn lộn trên đất, lúc thì nhảy tưng tưng trên không,
lao đầu vào tường cũng không hề hay biết. Khi gặp đối thủ, người học bị
đánh tơi tả nhưng chẳng hề hấn gì. Người dùng Thần quyền chẳng cần để
mắt đến đối phương, cứ cho họ tấn công thoải mái. Rồi như có ai điều
khiển, bỗng nhiên tay chân người nắm Thần quyền vung ra cú đòn cực
mạnh, đối thủ lập tức văng ra xa và nằm bất động.
Người đánh võ Sình tả trước khi xuất chiêu đưa hai bàn tay câu nhau
kiểu quay ngược, cùng đưa lên trán vẽ ngoằn ngoèo, khuôn mặt bỗng đỏ
bừng. Người ta gọi đó là Quan công Thánh đế nhập hồn. Khi đánh thì gần
như không vật gì có thể đả thương. Người đánh võ này tỏ ra oai lực phi
thường, đạn bắn không chắc thủng. Tuy nhiên, với môn võ này, biết cách
trị cũng rất dễ. Đối thủ chỉ cần mang những thứ gọi là sắc dục như hình
thể phụ nữ khỏa thân trưng ra trước mắt người đánh võ thì người này lập
tức không còn chút công lực. Khuôn mặt tái mét và hiệu lực của võ cũng
tan theo mây khói. Dân gian truyền rằng do Quan thánh là bậc chính
nhân, không tham ái ố, sắc dục nên khi thấy những thứ dơ bẩn liền… hồn
lìa khỏi xác người luyện võ!
Thiếu lâm Thất Sơn và những quy định nghiêm ngặt
Trước hết là một lòng hiếu thảo với cha mẹ, không phản môn phái,
không phản thầy, bạn. Coi bạn như anh em ruột thịt, không cưỡng bức kẻ
yếu. Không làm điều gian ác, không ham mê tửu sắc, không nản chí luyện
tập, không thoái lui lúc hiểm nguy. Người học võ luôn bảo vệ kẻ yếu,
nhịn kẻ mất lòng ta, thi hành nghiêm chỉnh những lời thầy dạy; không tự
cao, tự đắc, cứu người trong lúc nguy nan...
Người học phải năng luyện thân, tâm đồng trong sạch và cường tráng
như nhau. Bỏ tất cả ham muốn như rượu, cờ bạc, hút sách, trai gái bất
chính, không được dùng lời thô tục như chửi thề, nói trây… Không để lợi
danh tiền tài làm hoen ố thanh danh, làm sai tôn chỉ. Sẵn sàng xả thân
vì đời mà không cần sự bù trả. Sẵn sàng đứng về bên cô thế để bênh vực
lẽ phải. Dùng võ đạo để cảm hóa kẻ hung bạo và sau đó dùng đức hạnh để
thu phục nhân tâm. Không được đem võ đạo làm nghề nghiệp mưu sinh trong
đời sống cá nhân, không háo danh, háo thắng; phải giữ trọn vẹn đức nhân
hòa để hành thiện, bất đắc dĩ phải dùng võ thì chỉ dùng trong giới hạn;
trọng đức độ để thu phục kẻ sai trái. Và không nên có hành động trừng
phạt đối với kẻ sai trái.
Môn sinh muốn tham gia thi đấu phải được sự chấp nhận của người huấn
luyện và thông qua trưởng môn đương thời hay huynh trưởng thừa kế. Cấm
tự ý thi đấu hay thách thức nhau để thi đấu và cấm dùng võ trong những
việc bất chính. Môn sinh phải hết sức phục tùng và chấp hành đúng tôn
chỉ của môn phái, nội quy giáo điều. Môn sinh phải đoàn kết và thương
yêu, giúp đỡ bạn bè như anh em ruột thịt. Người đi trước chỉ dẫn người
đi sau, người biết dạy cho người chưa biết bằng tất cả lòng chân thật,
không kiêu căng, tự phụ; phải hết sức khiêm nhường ở bất cứ vị trí hay
trường hợp nào.

VĨNH SƠN
Về Đầu Trang Go down
Huệ Thường



Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 22
Số lần cảm ơn : 5
Điểm Cống Hiến : 2743
Tham gia : 06/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.   11/2/2010, 11:40

Chuyện thu phục thú dữ của các đạo sĩ




Người đời truyền tụng rằng sức mạnh siêu nhiên từ đoàn người trong đạo
Bửu Sơn Kỳ Hương đã cảm hóa được thú dữ trở nên lành, không hại người.


Trong
hàng thập nhị hiền thủ (12 vị đệ tử) của Đức Phật Thầy thì ông Bùi Văn
Thân là người thứ hai sau Đức Quản cơ Trần Văn Thành đến quy y, được
Đức Phật Thầy giao làm chủ trại ruộng ở Thới Sơn. Trại ruộng ấy ngày
nay là chùa Phước Điền, được công nhận di tích lịch sử văn hóa. Người
trong đạo thường gọi ông là Tăng chủ (ông Tăng sư làm chủ trại ruộng).
Ngoài việc tu luyện đạt được phép thần thông, ông Tăng chủ còn hàng
phục được mãnh hổ, giao hảo với hổ như bè bạn.
Cứu hổ mắc xương, thu phục mãnh hổ
Tương truyền thuở xưa vùng Thất Sơn cọp dữ có tiếng. Từ ngày ông
Tăng chủ được giao coi giữ trại ruộng thì thú dữ đều rất sợ. Khi ông đi
rừng, hễ cọp thấy thì quỳ mọp, có lúc còn quấn quýt theo ông lên núi
như người ta dẫn chó ra đồng vậy. Người đời cho là đức độ cao siêu của
ông khiến thú dữ cũng hóa lành.
Chuyện kể rằng một hôm, vào chạng vạng, Đức Phật Thầy đi xa về, khi
ngài vào gần tới cốc thấy một con bạch hổ ngồi ủ rũ gần bàn Thông
thiên. Vừa thấy ông, cọp liền há miệng ra. Đức Phật Thầy bước vào cốc
kêu to: “Ông Tăng đâu, ra coi đạo hổ đau gì mà ngồi ủ rũ đó!”. Tăng chủ
đang ở sau chùa, nghe tiếng Đức Phật Thầy liền chạy ra chỗ ông hổ ngồi,
rồi hỏi: “Ông làm gì ngồi đây? Sao mà ốm quá vậy?”. Ông hổ há miệng ra
ngước lên trước mặt ông Tăng. Ông Tăng hỏi thêm: “Bộ ông mắc xương
hả?”. Ông hổ liền đập đuôi và gật đầu. “Nếu mắc xương thì cúi đầu
xuống”. Ông hổ làm theo lời. Ông Tăng cung tay đấm ngay cổ ông hổ ba
cái, tức thì cục xương từ trong miệng ông hổ vọt ra.



Hình họa tại chùa Phước Điền thể hiện cảnh ông hổ mang đầu heo rừng đến trả ơn cứu mạng của ông Tăng chủ. Ảnh: VĨNH SƠN
Vừa lúc Đức Phật Thầy bước ra dặn ông hổ: “Từ đây tôi cấm ông làm
hại bổn đạo của tôi lên núi hay vào rừng trong vùng Thất Sơn nữa nghe
không?”. Ông hổ cúi đầu lui ra. Sau đó vài hôm, trước trại ruộng có một
con heo rừng bị hổ vật chết còn in dấu răng. Các đạo sĩ ngầm hiểu đó là
quà ông hổ mang đến đền ơn. Ngày nay, tại di tích chùa Phước Điền,
nhiều người dân sống quanh đó vẫn hay truyền kể cho nhau nghe câu
chuyện ấy.
Cá sấu ngán bảo bối
Bà Hồ Thị Quyên (59 tuổi) là cháu cố ngoại đời thứ tư của ông Đình
Tây (tức đạo sĩ Bùi Văn Tây, một trong 12 vị đại đệ tử của Đức Phật
Thầy), người đang được gia tộc giao trọng trách giữ ngôi mộ và những
bảo vật do ông để lại.
Câu chuyện bà Quyên kể ra đây đã được lưu giữ và truyền khẩu qua
nhiều đời, dựa trên chuyện của gia tộc và những hiện vật đang thờ cúng.
Ông Đình Tây nuôi một con cá sấu có tới năm chân. Người đời ví con
cá sấu như chiếc ghe lớn, di chuyển được là nhờ có năm mái chèo nên đặt
tên con cá sấu là ông Năm Chèo. Con cá sấu là món quà ông Tây Đình nhận
được từ một gia đình ở miệt Láng Linh (nay là xã Thạnh Mỹ Tây, huyện
Châu Phú) lúc đang đi hành thiện. Nhưng khi về hậu liêu, nhìn thấy con
cá sấu với hình thù kỳ lạ, Đức Phật Thầy khuyên nên giết đi kẻo sau này
nó sẽ hại dân lành. Thấy con cá sấu ngộ nghĩnh, ông Đình không giết mà
lén mang đến một bụi rậm nơi có hồ sen trước cửa đình thả xuống nuôi.
Không lâu sau nó lớn nhanh như thổi. Sợ hại người nên ông Đình lấy dây
xích cột chân nó vào cây đại thụ cạnh đình làng.



Năm món bảo vật mà Đức Phật Thầy trao cho ông Đình Tây thu phục cá sấu Năm Chèo vẫn đang được thờ cúng ở Thới Sơn. Ảnh: VĨNH SƠN
Rồi một ngày trời giông, sấm chớp dữ dội, mưa như trút nước, con cá
sấu bẻ xích trốn mất. Ông Đình lần theo dấu dây xích phát hiện có bàn
chân người bị cắn đứt. Thấy tình hình không ổn, ông Đình Tây liền vào
báo cáo cớ sự với Đức Phật Thầy. Thầy nói: “Đây là cơ duyên của ông với
nó, sau này sẽ gặp lại”, rồi Thầy đưa cho ông năm món bảo bối và một
câu khẩu huyết biệt truyền (chỉ Thầy và ông Đình Tây biết) để sau này
thu phục, sấu thần. Bảo bối gồm: hai cây lao, một cây mun cổ phụng, một
lưỡi câu và một đường dây băng.
Ít lâu sau người dân làng Láng Linh (nơi ông Sinh cho ông Đình Tây
con cá sấu) thấy con cá sấu năm chân khổng lồ xuất hiện. Nó trườn lên
bờ bắt gà, vịt của dân làng ăn thịt. Ông Đình Tây mang bảo bối xuống
định thu phục nhưng khi đến nơi thì nó lặn xuống sông mất dạng. Hễ ông
Đình Tây quay đi thì nó lại nổi lên quấy phá dân lành. Nó làm nổi sóng
to trên sông khiến ghe tàu ngang qua đắm chìm. Con cá sấu dường như chỉ
biết sợ mỗi ông Đình Tây, nên hễ mỗi lần nó nổi lên mặt nước là dân
làng la lớn: “Năm Chèo nổi lên, bớ ông Đình!”. Nghe kêu vậy nó liền lặn
mất. Một hôm ông Đình Tây xuống mé sông la lớn trong thinh không như
thông báo với con cá sấu về sứ mạng của mình mà Đức Phật Thầy đã giao
phó. Dường như nó nghe biết nên từ ấy biệt tăm.
Chờ mãi nó vẫn bặt tăm, ông Đình Tây liền mang bảo bối trả lại cho Thầy. Thầy bảo cứ giữ, có khi sẽ cần đến.



Bà Hồ Thị Quyên (trái) và chị là cháu đời thứ tư của ông Đình Tây ngày ngày trông coi mộ sự của ông. Ảnh: VĨNH SƠN
Bà Quyên kể năm 1856, lúc ông Đình Tây được 30 tuổi thì sấu dậy
nhưng mãi đến khi qua đời vào năm 1914, ông vẫn chưa sử dụng bảo bối
lần nào. Năm món bảo bối của ông Đình Tây vẫn được cất giữ qua nhiều
thế hệ sau khi ông mất. Ngày nay, tại ngôi mộ ông Đình Tây ở xã Thới
Sơn, huyện Tịnh Biên vẫn còn thờ cúng năm món bảo vật này.



Ông Năm Chèo vẫn ở Vàm Nao

Dân gian cho rằng
con cá sấu biết hối lỗi và đang nằm vắt ngang hai con sông lớn là sông
Tiền và sông Hậu, tạo thành dòng Vàm Nao. Sông Vàm Nao còn gọi là dòng
Thuận Giang. Trong nhiều sách sử còn ghi lại nơi đây có độ sâu khó tả,
là chỗ có dòng nước xoáy hết sức nguy hiểm cho ghe tàu qua lại. Ngày
trước nơi đây mọc lên bến cảng Thuận Giang. Trên sông Vàm Nao ngày nay
dân An Giang hay thả lưới và bắt được cá hô khổng lồ, nặng tới hàng
trăm ký. Đó là nơi chứa nhiều loài cá lớn nên người đời tin là ông Năm
Chèo nằm ở dưới.


VĨNH SƠN
Về Đầu Trang Go down
Huệ Thường



Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 22
Số lần cảm ơn : 5
Điểm Cống Hiến : 2743
Tham gia : 06/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.   11/2/2010, 11:41

Huyền thoại đạo sĩ Thất Sơn - Bài 1: Đạo và đời




Khai mở đất hoang, giúp dân chữa bệnh…, vị giáo chủ đến với tín đồ
không phải chỉ lvới những lời rao giảng mà rất “đời”.


LTS: Họ
là những người góp công lớn khai mở đất vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng
Tháp Mười, tích trữ lương thảo chống giặc. Lịch sử pha lẫn huyền thoại
về những đạo sĩ Thất Sơn là một phần của lịch sử khẩn hoang Nam Bộ.
Loạt bài giới thiệu một số mẩu chuyện kết hợp khảo cứu và truyền khẩu
về các đạo sĩ Thất Sơn.

Danh tăng Đoàn Minh Huyên là giáo chủ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, được
tín đồ suy tôn là Đức Phật Thầy Tây An. Ông đã cùng đệ tử lập nên làng
Xuân Sơn và Hưng Thới, tức xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên (An Giang) ngày
nay.
Mang màu sắc của một tôn giáo nhưng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là tu tại
gia, không cần xuống tóc, miễn sao tròn cái đạo làm người. Đó là triết
lý sống căn cơ của người chính đạo.
Giúp dân thoát đại dịch
Theo công trình biên khảo của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp và lời
truyền kể của dân gian, khoảng năm 1849, đang chu du giảng kinh, vừa
lúc biết vùng Đất Sét-Cái Tàu Thượng (Lấp Vò) người dân lâm đại nạn
dịch tả và chết ngày càng nhiều, Đức Phật Thầy tức tốc trở về. Ngài đã
trị và cứu được không biết bao nhiêu người mắc bệnh.
Ổ dịch nơi này dứt thì nơi lân cận phát, với chiếc xuồng con sắp
nát, ngược dòng Tiền Giang, ông bơi riết đến lòng Ông Chưởng cứu dân.
Ông dựng một mái trại đơn sơ ở Cái Xoài (Chợ Mới), bắt tay ngay vào
việc trị bệnh. Bệnh phát ra ở đâu có mặt ông ở đó. Tại Tòng Sơn, Trà
Bư, Xẻo Môn, Kiến Thạnh, bằng cách khuyên người tu tâm dưỡng tánh, hoặc
vài ba loại hoa lá có sẵn quanh vườn nhà, thế mà ông trị bệnh gì cũng
dứt. Người dân khâm phục, đến xin quy y đông nghẹt. Nhà cầm quyền lúc
ấy sợ, mời ông về cầm giữ tại An Giang để tra xét. Sau thời gian thử
thách, biết rõ ông là bậc chân tu nên cho vào chùa Tây An Cổ Tự ở núi
Sam.



Thới Sơn Tự, nơi Đức Phật Thầy ở, ngày nay khách thập phương thường đến viếng. Ảnh: VĨNH SƠN
Tại đây, ông cảm hóa được vị thiền sư chủ chùa và thu hút hàng vạn
thập phương thiện tín. Để tự do hành đạo theo chủ trương của mình và
tránh sự khó dễ của chính quyền do hằng ngày thiện tín đến quá đông,
ông cho di tản tín đồ, khai hoang tản mạn nhiều nơi. Các vùng xa xôi
hoang vắng, chưa có vết chân người là chỗ tốt để Bửu Sơn Kỳ Hương của
ông hoạt động.
Đi khẩn hoang
Năm 1851, từng đoàn tín đồ của Đức Phật Thầy chia nhau ra đi. Đoàn
thứ nhất đi vào Thất Sơn, nơi rừng bụi rậm rì, đầy thú dữ. Nơi đây các
nông trại Hưng Thới và Xuân Sơn được dựng lên (nay là xã Thới Sơn,
huyện Tịnh Biên).
Đoàn thứ hai đến Láng Linh, một vùng bùn lầy, mùa lụt như biển cả,
mùa hạn thì như bãi đất hoang. Địa thế bất tiện cho nông nghiệp nhưng
rất thuận lợi cho khách ẩn cư vì tiếp giáp với láng là rừng Bảy Thưa.
Tại vùng này, một trại ruộng tên Bửu Hương Các được cất lên để vừa ở
tu, vừa chăm lo khai phá cánh đồng hoang. Vùng này là xã Thạnh Mỹ Tây,
huyện Châu Phú, An Giang ngày nay.
Đoàn thứ ba về miệt Cần Lố, vùng Đồng Tháp Mười. Một ngôi chùa được dựng lên tại Trà Bồng, ruộng rẫy được khai mở…
Đoàn thứ tư về Cái Dầu, sát hữu ngạn Hậu Giang, nơi có nhiều phù sa.
Những người điều khiển nông trại Bửu Sơn Kỳ Hương là các vị đại đệ
tử của Đức Phật Thầy. Họ là những người đạo đức gương mẫu, giỏi võ
nghệ. Những nơi họ đến khai hoang, về mặt chủ quyền là những vùng đã
thuộc về Việt Nam từ lâu nhưng muốn đưa người vào định cư lập nghiệp
không phải giản đơn, bởi đâu đâu cũng toàn rừng bụi, cọp beo, rắn rít,
lại thêm sơn lam chướng khí nhiều…
Theo dân gian, nơi đâu đoàn người khai hoang của các vị đại đệ tử
Đức Phật Thầy đến thì thú dữ tự dưng được thuần phục. Các ngài không ai
đem theo gươm giáo, chỉ võ trang bằng cái tâm cái đức, bằng lời khuyên
răn mà thú dữ khuất phục, có khi còn quấn quýt bảo vệ.
Phải làm thì mới có ăn
Ông Nguyễn Sơn Đào (Thới Sơn, Tịnh Biên, An Giang), người đang nắm
giữ gần nửa ngọn núi Ông Két, nơi Đức Phật Thầy từng lập ra hai ngôi
làng Xuân Sơn và Hưng Thới, phân tích: “Đức Phật Thầy quan niệm “có làm
thì mới có ăn”, mới có sức khỏe để phụng sự nhân dân, đất nước. Làm
người đương nhiên phải có đạo đức. Do vậy, ông dùng văn thơ để nói về
cách sống của người có đạo đức mà sau này gọi là giáo lý và những câu
sấm truyền”.



Ông Nguyễn Hữu Nghi lật lại từng trang sách chữ Nôm viết về “tứ ân” mà Đức Phật Thầy từng truyền dạy. Ảnh: VĨNH SƠN

Lúc mới về Thất Sơn, Đức Phật Thầy huy động nhân dân quanh vùng bày
cách khai thác đá sỏi để làm đất bằng mà trồng khoai mì, cấy lúa, dùng
nước suối mà tưới tiêu. Ông cho lập ra ba trại gọi là trại ruộng, trại
rẫy và trại cưa để phục vụ canh nông và xây dựng làng mạc. Tại đây ông
lần lượt thu thập nhiều đệ tử, trong đó nổi tiếng có “thập nhị hiền
thủ” là 12 vị đệ tử đầu tiên xin quy y với thầy. Công cuộc khai mở đất
của đoàn bổn đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ở cả hai vùng Đồng Tháp Mười và Tứ
giác Long Xuyên. Sau khi lập nên các nông trại khẩn đất hoang canh tác
lúa nước, nhiều đoàn người được chỉ dụ của Đức Phật Thầy đi sang cánh
Đồng Tháp Mười mở đất, truyền đạo.
Lấy tứ ân làm trọng
Người theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không cần đi chùa, cúng miễu hay
hành đạo rườm rà. Được phép cưới vợ, gả chồng và một mực giữ vẹn nghĩa
phu thê. Đức Phật Thầy truyền dạy lấy tứ ân làm trọng. Ở chùa Phi Lai
Tam Bửu có ông Nguyễn Hữu Nghi (Hai Nghi), giữ chức phó ban quản tự khu
di tích lịch sử Ba Chúc, cắt nghĩa tứ ân rành rọt. Ông là người may mắn
được gặp gỡ các bậc cao niên đi trước như “ông già Nam Bộ” Sơn Nam,
giúp các vị này sưu khảo để lại tư liệu của mối đạo Bửu Sơn Kỳ Hương từ
thời kháng Pháp.
Ông Hai Nghi kể trong tứ ân có hai vấn đề: tứ đại trọng ân và trọng
ân. Trong tứ đại trọng ân tức là con người phải nhớ ơn đất, nước, gió,
lửa. Bởi đây là bốn yếu tố cấu thành vạn vật hiện hữu trên thế gian.
Còn tứ trọng ân gồm: ơn tổ tiên, cha mẹ; ơn tổ quốc; ơn tam bảo; và ơn
đồng bào, nhân loại.
Là một công dân, chúng ta có bổn phận phải bảo vệ đất nước. Nếu thời
bình ta phải làm cho đất nước được giàu mạnh, thời chiến ta phải hy
sinh chiến đấu để giữ độc lập cho đất nước.
Tam bảo tức là Phật, Pháp, Tăng. Người tu hành luôn luôn tuân theo
Phật, Pháp, triệt để không hành động ngoài giáo lý của nhà Phật. Mọi sự
mê tín dị đoan, tin vào chuyện ma quỷ, đồng bóng… đều là khắc tinh của
người chính đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.



Ông Đoàn Minh
Huyên sinh ngày rằm tháng 10 năm Đinh Mão (1807) tại Tòng Sơn, tổng
Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc
huyện Lấp Vò, Đồng Tháp).




Tại xã Thới Sơn
ngày nay có ngôi trường mang tên đạo sĩ Đoàn Minh Huyên “Trường THCS
Đoàn Minh Huyên” để ghi nhớ ơn lập làng của ông. Mộ của ông hiện nằm
cạnh Tây An Cổ Tự ở núi Sam (Châu Đốc).


VĨNH SƠN
Về Đầu Trang Go down
Huệ Thường



Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 22
Số lần cảm ơn : 5
Điểm Cống Hiến : 2743
Tham gia : 06/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.   11/2/2010, 11:42

Hào khí Bảy Thưa




Ông cắt từng lọn tóc nhỏ của mình phát cho các binh sĩ để xác định tính chiến đấu một mất một còn.

Trong
số thập nhị hiền thủ của Đức Phật Thầy thì ông Trần Văn Thành là người
quy y sớm nhất và được xem là cao đồ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Có đạo,
học cao và đức độ hơn người nên ông Trần Văn Thành được tôn là Đức cố
quản.
Kiên trung từ bé
Lịch sử kể lại Đức cố quản Trần Văn Thành là con trưởng một gia đình
trung nông, tính tình rất ôn hòa, điềm đạm nhưng rất dũng cảm và có ý
chí cương quyết. Ông có một tấm lòng quảng đại, bao dung, hết lòng cứu
giúp người nghèo khổ. Thuở bé ông nổi tiếng thông minh nhưng học chữ
nho được ít lâu thì được thân sinh rước thầy về dạy võ nghệ. Bấy giờ
đất nước gặp nạn giặc ngoại xâm nên võ nghiệp cần hơn là văn nghiệp.
Lúc sinh thời, ông Trần Văn Nhu (người con trai trưởng của Đức cố
quản) kể: Ở tuổi 50, ông thử nhấc nổi hai tảng đá nặng 100 kg nhưng ông
cho rằng mình còn thua xa thân phụ, tức Đức cố quản.
Chuyện kể, khi còn cắp sách đến trường, một hôm Đức cố thấy toán
lính cùng với bọn hào mục trong làng đi lùng bắt những người nghèo
thiếu thuế. Người dân nghèo bị đóng gông và bị đánh đập tàn nhẫn. Đức
cố rất bất bình, bèn rủ bạn học cùng hợp lực đánh toán lính để cứu dân
nhưng không ai dám. Đức cố tức mình đứng bên vệ đường khóc toáng lên.
Một người hào mục thấy lạ liền đến hỏi nguyên do thì ông thưa: “Tôi
thấy mấy người dân kia bị nạn, tôi muốn cứu họ nhưng không đủ sức nên
hổ thẹn mà khóc”. Người hào mục cảm phục một đứa bé có hành động quân
tử và tính khí cương trực nên hỏi tiếp: “Vậy tao bắt mày đem giải lên
quan trên để thế tội cho những thằng kia, mầy có ưng chịu không?”.
Không cần suy nghĩ, Đức cố đáp ngay: “Tôi ưng chịu!”



Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa được tái hiện bằng hình vẽ.
Nghe đứa bé gan dạ đối đáp, viên hào mục ra chiều suy nghĩ, liền bảo
đám lính cho những người thiếu thuế được hoãn kỳ hạn nộp. Hành động
nghĩa hiệp của Đức cố đến tai thầy dạy học. Cụ đồ cho gọi cố quản lên:
“Ta nghĩ về sau con sẽ là một viên võ tướng tài ba, có hoài bão lớn chớ
không phải là một anh học trò chuyên lo việc nhai văn, nhả chữ đâu”. Cố
quản được lời ban khen của thầy càng tỏ ra say mê tập võ nghệ.
Mùa thu năm Kỷ Dậu 1849, Đức cố tìm đến tận Xẻo Môn thuộc tổng Kiến
Thạnh, huyện Đông Xuyên, phủ Tân Thành xin quy y với Đức Phật Thầy và
trở thành vị đệ tử đầu tiên. Tương truyền, Đức cố được Thầy trao cho
một cái ấn triện mang bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương” và nhiều bảo vật khác
để sau khi Thầy tịch mà truyền mối đạo và báo đền nợ nước. Chính vì vậy
mà sau khi Pháp mang quân đánh chiếm thành An Giang tại Châu Đốc, Đức
cố đã phất cờ đại nghĩa chiêu mộ quân binh, lập căn cứ kháng chiến
trường kỳ với Pháp tại rừng Bảy Thưa (nay thuộc huyện Châu Phú, An
Giang). Với đức độ và khí dũng hơn người, không lâu sau ông tập hợp
dưới trướng mình rất nhiều nghĩa sĩ.
Chống giặc đến cùng
Thấy đất nước ngày càng nguy nan nhưng Đức cố lại được lệnh triều
đình dập tắt ngọn lửa Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương) ở chiến khu Đồng
Tháp Mười. Thật khó xử nhưng cuối cùng ông cũng đến chiến khu thuyết
phục được ông Võ Duy Dương, áp dụng chiến thuật “yểm kỳ tức cổ” (tức
giấu cờ im trống), lợi dụng thời gian lo tích trữ lương thảo và tổ chức
lại nghĩa quân. Ông Trần Văn Thành báo về trên coi như hoàn thành nhiệm
vụ. Kể từ đó, do chẳng thấy chỉ thị nào từ triều đình đưa xuống nên ông
Võ Duy Dương nóng lòng tung quân đánh phá khắp nơi quanh vùng Đồng Tháp
Mười đạt nhiều kết quả. Bọn Pháp điên cuồng phản công dập tắt.



Bửu Hương các ngày trước nay là dinh Đức cố Trần
Văn Thành, một khu di tích lịch sử được xếp hạng, hằng năm thu hút cả
chục ngàn lượt người về viếng.

Năm 1868, Đô đốc Pháp Ohier ra quyết định tập nã nhiều lãnh tụ kháng
Pháp, trong đó có Đức Quản cơ Trần Văn Thành. Pháp càng lùng sục ông
càng đánh hăng, thoắt ẩn thoắt hiện. Bởi ông là người trước hơn ai hết
chủ trương đánh gấp để địch không kịp trở tay. Chủ động tấn công sát
sườn, bất ngờ, nhất định không lùi bước. Sau khi xây dựng xong nhiều
đồn bót phòng thủ, nhiều cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Trần Văn Thành
nổ ra.

Đức
Quản cơ Trần Văn Thành, người ở ấp Bình Phú thuộc làng Bình Thạnh Đông,
tổng An Lương, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc huyện Phú Tân, An Giang). Ông
lập được nhiều công trận dưới triều Thiệu Trị và Tự Đức nên được phong
chức Chánh Quản cơ.
Lịch sử
ghi lại: Theo bản báo cáo của Emile Puech, Tham biện chủ tỉnh Châu Đốc,
chỉ huy trận đánh Bảy Thưa đề ngày 25-3-1875 thì ngày 19-3-1875, tên
chủ tỉnh này xin được 40 lính mã tà từ Cần Thơ kéo lên để phối hợp với
60 lính chính quy của tỉnh. Khoảng 6 giờ sáng hôm sau, đích thân tên
chủ tỉnh cầm đầu bọn lính mã tà ấy, mỗi tên mang theo bốn ngày lương,
một khẩu súng với 40 viên đạn. Chúng từng bước tiến thẳng vào Bảy Thưa.
Gót chân của chúng đến cách đồn Hưng Trung khoảng hai cây số thì trận
chiến thật sự nổ ra. Trước hết là những tiếng tù và báo động của nghĩa
quân. Từ đồn Hờ và các lùm bụi nghĩa quân tràn ra nhiều gấp đôi, ba lần
quân địch, vũ khí khá đầy đủ. Kỹ thuật và phong độ chiến đấu cao khiến
tên chủ tỉnh phải giật mình. Tên tri huyện Trần Bá Tường, em ruột Trần
Bá Lộc (đốc phủ, tay sai của Pháp) ra lệnh cho lính của y phải tiết
kiệm đạn. Tuy bị vây nhưng chủ tướng Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh, dùng
ống loa kích động tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Quân sĩ hò reo,
trống thúc liên hồi. Ông cắt từng lọn tóc nhỏ của mình phát cho các
binh sĩ để xác định tinh thần chiến đấu một mất một còn.


Tượng đài Đức Quản cơ tại trung tâm hành chính huyện Châu Phú. Ảnh: VĨNH SƠN
Sáng ngày 20-3-1875, cuộc chiến kết thúc. Quân Pháp chiếm được đồn,
nghĩa quân hy sinh 10 người và năm người bị thương không kịp chuyển đi,
hai người khác bị địch bắt. Chúng tịch thu nhiều lương thực, giấy tờ và
đồ dùng quân sự. Sau đó chúng bắt thêm được 13 người của nghĩa quân.
Quân Pháp tuy thắng nhưng không trọn vẹn, vì quân tiếp viện của tỉnh
Châu Đốc đã không đến kịp nên hầu hết nghĩa quân đều đã rút về phía núi
rừng Thất Sơn.
Kể từ đó không ai còn thấy Đức Quản cơ ở đâu. Tư liệu của Pháp cho
rằng ông đã tử trận, còn phía nghĩa quân thì bảo ông đã lên núi ẩn tu
rồi tịch. Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa cuối cùng thất bại nhưng ngọn lửa
đấu tranh của nhân dân yêu nước miền Nam vẫn ngùn ngụt cháy.

VĨNH SƠN
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.   

Về Đầu Trang Go down
 
Đạo sĩ Bửu Sơn Kỳ Hương.
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: KHU VỰC CHÍNH FORUM :: THÀNH VIÊN [GIAO LƯU & CHIA SẺ]-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | www.sosblogs.com