WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Nghi án phong thủy: Trụ đồng Mã Viện

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
huebat
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Chưa Lựa Chọn
Bài viết : 194
Số lần cảm ơn : 44
Điểm Cống Hiến : 100003500
Tham gia : 27/05/2009

Bài gửiTiêu đề: Nghi án phong thủy: Trụ đồng Mã Viện   13/2/2010, 14:22

Đồng Trụ chí kim đài dĩ lục?

(Cột đồng nay đã mọc rêu xanh chưa?)
Đằng giang tự cổ huyết do hồng!
(Sông Bạch Đằng từ xưa máu đã nhuộm đỏ)
T
hồi còn nhỏ, sống ở làng tôi đã nghe người già kể nhiều về cột đồng Mã
Viện. Các cụ nói, dưới chân cột là cả một kho vàng bạc châu báu do quan
quân nhà Hán khi sang trấn nhậm xứ Giao Châu cất giấu để con cháu họ
sau này thừa hưởng. Trên nhiều tài liệu, diễn đàn, nghi vấnthực hư về
cột đồng ở đất Giao Chỉ xưa vẫn còn là câu hỏi lớn cho người đời.

Theo Đào Duy Anh khởi đầu đề mục 'Les Colonnes de Bronze de Ma Vien' trong
tập san Bulletin des Amis du Vieux Hue số tháng 10 và 11 năm 1943 với
nhận xét như sau: "Cột đồng Mã Viện luôn là một bí ẩn lịch sử mà mãi
đến nay vẫn chưa hề được sáng tỏ". Ông nêu ra nghi vấn phải chăng cột
đồng Mã Viện thực sự hiện hữu? Và nếu ta không tìm thấy dấu vết nào
liên quan về chúng vậy biết tìm chúng nơi đâu?

Theo
An-Nam Chí Lược của Lê Tắc (đầu thế kỷ thứ 14), bộ sử lược lâu đời nhất
của nước ta có đề cập đến di tích này, thì thuở trước ở vùng hang động
Cổ Sâm thuộc Khâm Châu có những cột đồng do Mã Viện dựng nên. Sang đến
thế kỷ thứ 19, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng nhắc lại lời
hăm dọa trên của Mã Viện. Tuy nhiên sách sử Tàu thì khác, cả Hậu Hán
Thư (chương nói về tiểu sử của Mã Viện) lẫn Hậu Hán Ký đều không hề
nhắc đến việc Mã Viện cho dựng những cây trụ đồng ở nước Nam. Dựa theo
đó, nhà Hán học lừng danh Henri Maspéro trong tập XVIII, số 3 năm 1918
của tập san Bulletin de l'EFEO (Trường Viễn Đông Bác Cổ), trong phần
biên khảo về cuộc viễn chinh của Mã Viện đã không hề nhắc đến những cây
cột đồng Mã Viện mà cũng chẳng có lời phủ nhận về sự hiện hữu của
chúng. Về sau, Nguyễn Văn Tố, làm phụ tá cho Viễn Đông Bác Cổ, trong
Tri Tân số 14 phát hành ngày 12 tháng 9 năm 1941 đã thu thập được một
số tài liệu từ cả Việt lẫn Hán về cột đồng Mã Viện và đưa ra nhiều thắc
mắc nhưng bấy giờ ông cũng không giúp làm sáng tỏ gì hơn về nghi vấn
nêu trên.



Sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh có chép:

Tương
truyền cột đồng ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mã viện có thề rằng: “Ðồng
trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là “Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị
diệt”, nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp
lên mãi thành gò đống cao.
Lại ghi rõ: “Vì thấy huyện Tây Vu có
đến ba vạn ba nghìn hộ, Mã Viện xin chia ra làm hai huyện Phong Khê và
Vọng Hải. Vua Hán y cho Mã Viện lại lập thành quách, đặt tỉnh ấp (xóm
làng), đắp thành Kiển Giang ở Phong Khê. Thành này hình tròn như cái Tổ
kén. Nên gọi là thành Kiển giang.
„…. Như vậy, trụ đồng Mã Viện là
một câu chuyện có thật, đã được ghi vào sử liệu của cả hai nước Trung
Hoa và Việt Nam. Ðây không phải là một huyền thoại hay hư cấu.

Vào đời vua Trần Thánh Tôn, Ngài đã cho người đi tìm lại dấu tích cột đồng nhưng không thấy. “Tháng
4 mùa hạ (1272,) sai viên ngoại lang là Lê Kính Phu sang hội với người
nhà Nguyên biện luận việc cương giới. Nhà Nguyên sai Ngột Lương sang
hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước, nhà vua phái Lê Kính Phu đi hội đồng
khám xét. Kính Phu nói với Nhà Nguyên rằng: “Chỗ cột đồng do Mã Viện
dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào”.
(KDVSTGCM, Quyển VII tr. 219)

Theo
sử gia Phạm Văn Sơn chuyện cột đồng Mã Viện thiết tưởng không đáng tin
lắm chỉ nên coi là một giai thoại không hơn không kém... Nếu coi cột
đồng Mã Viện là một mỹ đàm thì chép vào sử để làm một câu chuyện kể
chơi cho thú vị thiết tưởng không hại gì. (Việt sử Tân Biên, tr.199).

Còn tác giả Trương Thái Du trong bài “Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam (Talawas - lịch sử). Thì cho rằng: “Cột
đồng Mã Viện dựng năm 43 ở quận Giao Chỉ và Tây Ðồ Di cũng chính là đài
quan trắc thiên văn... Trong công tác thiên văn thời Mã Viện, để xác
định những vùng đất mới, cần phải tiến hành quan trắc các chỉ số năm
này qua năm khác.„


Theo
nhiều nhà nghiên cứu khác, cột đồng chỉ là cột mốc biên giới mà thôi.
Lối giải thích này cũng kém thuyết phục. Nếu là cột mốc biên giới tại
sao không ghi những thông tin cần có của vùng biên giới mà lại ghi câu:
“Trụ đồng chiết , Giao Chỉ diệt” trên cột đồng? Thứ nữa là cột
mốc biên giới tại sao không đặt tại những con đường đi giữa ranh giới
của hai nước, mà lại đặt tại một hang động trong vùng hẻo lánh?

Không
phải ngẫu nhiên mà Hai bà Trưng, sau khi phát động cuộc nổi dậy, chỉ
trong vòng một tháng mà đã chiếm được 65 thành trì trên toàn cõi Lĩnh
Nam, làm rung rinh triều đình nhà Đông Hán. Một nữ lưu xứ Giao Châu nhỏ
bé, thuộc phiên trấn Nam Man (như quan niệm của nhà Hán), nổi lên xưng
hùng xưng bá, chống lại Thiên Triều như một thách thức sống còn với Đại
Hán. Nên giới cầm quyền đầu sỏ Trung Hoa không thể làm ngơ mà không
sinh tử cho được.

Một
câu hỏi đặt ra là: tại sao trong suốt gần 2.000 năm kế tiếp dân tộc ta
vẫn không xuất hiện được một vị nữ anh hùng thứ hai có tầm cỡ Bà Trưng
cho dù lịch sử Việt Nam là lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm từ
đó cho đến nay? Phải chăng người phụ nữ Việt Nam yếu hèn? Hay là có sự
cản trở bởi một huyền lực nào đó xuất phát từ thời gian sau khi Hai Bà
Trưng thất trận, đất nước rơi vào sự đô hộ của người Hán, mà lịch sử
chưa làm sáng tỏ?

Dựng
cột đồng. Đây có phải là một trận đồ phong thủy mà Mã Viện bày ra nhằm
hãm hại đất Giao Chỉ. Hai Bà Trưng đối với Việt Nam là những anh hùng
dân tộc cái thế. Nhưng theo quan niệm của triều đình Hán hai bà Trưng
chỉ là yêu tặc.

Theo An Nam Chí Lược (trang 40) do tác giả Lê
Tắc là người Việt Nam, chạy qua sống ở Trung Hoa và viết sử theo quan
niệm của Trung Hoa như sau: “Năm Kiến Võ thứ 16 của Hán Quang Vũ Ðế
(sau công nguyên 40), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản,
quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều hưởng ứng theo. đánh các quận ấp,
cướp được 60 thành, rồi tự lập làm vua... Ðến năm Kiến Võ thứ 19 Mã
Viện chém yêu tặc là Trưng Nhị (Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh
luôn dư đảng, bọn Ðô Lương, đến huyện Cư Phong, bọn này chịu đầu
hàng”...


Vào
thời đại nhà Hán, thuật phong thủy, địa lý rất thịnh hành, tất cả những
công trình xây dựng mồ mả, lâu đài đều tuân thủ nghiêm về địa lý phong
thủy.
Ảnh hưởng bởi quan niệm này, Mã Viện sau khi trừ diệt được
hai Bà Trưng, đã bày một trận đồ phong thủy để diệt tận gốc yêu quái,
trừ hậu hoạn, nhằm ngăn chặn mầm nữ tặc tái xuất trên vùng đất mới bình
định.

Vậy
Mã Viện cho dựng một trụ đồng ở đâu? Tại Cổ Sâm hay Cổ Lâu? Phải chăng
động Cổ Sâm chính là huyệt hàm rồng kết phát làm vua của đất Giao Chỉ
nên Mã Viện muốn phá hủy để đất nước không còn phát nữ vương nữa?

Nếu
tự nhiên Mã Viện cho đào sâu xuống để chôn hoàn toàn một trụ đồng mà
không có lý do chính đáng thì mọi người sẽ nghi ngờ, và gặp nhiều khó
khăn trong thực hiện, vả lại cũng kém hiệu quả về mặt phong thủy. Vì
thế mà Mã Viện đã thâm độc, cho dựng đứng trụ đồng không cần phải chôn
sâu và ghi khắc câu chữ “Trụ Ðồng chiết, Giao Chỉ diệt” bề ngoài như là
hăm dọa, nhưng thực chất là khích động lòng tự ái dân tộc của dân Giao
Chỉ, rồi ngầm xui người dân, muốn tránh hoạ, mỗi ngày ném gạch đá vào
trụ đồng để chôn lấp. Sự việc này có hai tác dụng thứ nhất là giữ cho
trụ đồng không bị nghiêng ngả, không bị đào bới. Thứ hai trụ đồng to
nặng được định vị trên một tiết diện nhỏ thì dễ dàng lún sâu dần vào
lòng đất theo thời gian. Mỗi khi có mưa, đất nở và mềm ra, cột càng
tiến sâu vào huyệt đạo thì tác dụng phong thủy lại càng tăng cao. Nghĩ
ra được qủi kế thâm sâu như vậy phi người mưu lược như Mã Viện, khó ai
có thể sánh kịp.

Về ý nghĩa của câu: “Ðồng trụ chiết... Giao Chỉ diệt” ở đây có phải là một câu thần phù? Hay còn ẩn dấu điều gì để đánh lạc sự chú ý tò mò? Nghiã thực của chữ “Chiết„
ở đây chưa chắc đã là “gãy” mà lại là “tách” làm hai, như dùng vật cứng
tách đôi một tảng đá lớn chẳng hạn. Do đó câu trên nên giải thích là “trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết”. Chứ không thể dịch là trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết là chưa hợp lý. Như vậy câu trên có hai chữ bị ẩn dấu là chữ huyệt và chữ vương.

Đặc
biệt, Kiển Thành hình cái kén, nếu chúng ta cô lập hai sự kiện này, thì
sẽ khó mà thấy âm mưu tàn độc của Mã Viện. Vả lại nếu kết hợp cả hai sự
kiện này bằng một hình vẽ tượng hình thì có thể sẽ gợi ta liên tưởng
tới một điều gì chăng?




Bùa lưỡng nghi - loại tượng hình
(Nguồn: Thiên Ðức )


Hình
dáng Kiển Thành, tổ con tằm, Âm, Thủy, tượng hình của người đàn bà, kết
hợp với hình dáng trụ đồng Mã Viện, Dương, Hỏa, tượng hình của người
đàn ông! Theo Kinh Dịch lý thuyết Vũ trụ: Thái Cực - Lưỡng Nghi - Tứ
Tượng - Bát Quái! Theo thuật phong thủy, nói về nhà cửa thường sử dụng
bùa bát quái để trấn yểm tà khí. Trong phạm vi rộng lớn của một đất
nước, bùa bát quái không có hiệu lực, vì thế Mã Viện đã sử dụng loại
bùa có tầm ảnh hưởng mạnh hơn đó là loại bùa Lưỡng Nghi tức là bùa Âm
Dương có hiệu lực cao hơn bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch. Loại bùa
này được thực hiện bởi hai công trình: Kiển Thành, Âm thủy và trụ Ðồng
Mã Viện, Dương Hỏa.
Nếu nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã dùng hình thức “Ðóng cọc người đàn bà Giao Chỉ” bằng một ám toán thô lậu như thế nhằm triệt phá con đường kết phát vương quyền đối với nữ giới trong tương lai.
Nguyên
tắc của đạo bùa ngải, phong thủy là càng bí mật, càng bền lâu thì tác
dụng càng to lớn. Nếu người đặt bùa mà bị phát giác thì sinh tác động
ngược, quật trở lại ngay chính kẻ chủ mưu. Vì thế các tài liệu ghi chép
của người Hán về lĩnh vực này là rất khó giải mã. Nó là các bí tích, bí
truyền. Vì quyền lợi dân tộc sống còn của họ. Khơi khơi người ngoài khó
mà tiếp cận mà hiểu rõ ngọn ngành.
Ngay nhân vật Mã Viện, với người
Việt là kẻ thù truyền kiếp. Nhưng dưới nhãn quan của người Trung Hoa
thì đó là một anh hùng xuất chúng. Chiến tích lớn nhất của Mã Viện là
việc chinh phục Giao Chỉ. Nhờ dập tắt cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng,
nên Viện đã được Hán Quang Vũ phong tước Hầu, hiệu "Phục Ba tướng
quân". Họ Mã được giới viết sử Trung Hoa suy tôn như một chiến binh vĩ
đại vào bậc nhất trong lịch sử. Với câu nói nói rất nổi tiếng được lưu
truyền rộng rãi là: "da ngựa bọc thây" (馬革裹屍 - mã cách khỏa thi),
ý nói mong muốn được chết trên chiến trường mặc dù phải dùng da ngựa để
bọc thây chứ không mong muốn chết già nơi xó nhà. Cả câu: "vẽ hổ không thành, lại thành chó" (畫虎不成, 反類犬 - họa hổ bất thành, phản loại khuyển).
Nhiều nhà nghiên cứu đều cho Mã Viện là nhà quân sự, nhà chính trị văn
võ toàn tài. Vì thế các đền thờ và tôn tượng Mã Phục Ba được hiện diện
trên nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc cho tới ngày nay.



Tượng Mã Viện ở Hải Nam

Nhiều
ghi chép đều nói đến việc Mã Viện càn quét nhiều trống đồng nước ta để
đúc thành ngựa mẫu mang về Trung nguyên dâng vua Hán Quang Vũ. Người
thứ hai phá nhiều pháp khí (chuông chùa) Đại Việt là Vương Thông nhà
Minh, đem về đúc súng.
Những người tự ti, vẫn tin rằng thời xưa
dân ta “ăn lông ở lỗ”, nhờ Trung Quốc mới được khai hóa. Xin đọc kỹ
đoạn văn sau đây để biết rằng thuở đầu Công nguyên nước ta đã có luật,
Mã Viện phân tích rồi tâu lên vua Quang Vũ để bác hơn 10 điều khoản
luật nước ta không thích hợp với luật nhà Hán: 條 奏 越 律 與 漢 律 駁 者 十 餘 事
, 與 越 人 申 明 舊 制 以 約 束 之 (Ðiều tấu Việt luật dữ Hán luật bác giả thập dư
sự, dữ Việt nhân thân minh cựu chế dĩ ước thúc chi: Phân tích và tâu
lên luật Hán và luật Việt, bác hơn 10 điều; trình bày rõ chế độ cũ [của
nhà Hán] để ước thúc.) [Theo Hồ Bạch Thảo - © 2008 talawas]
Thật vậy, thời Lĩnh Nam, nước ta có ba lĩnh vực là rất vượt trội. Đó
là kỹ nghệ luyện kim (đúc trống đồng). Lịch số (Qui Lịch) và chữ Khoa
Đẩu (chữ dạng ký âm rất rễ phổ cập). Nhưng sau khi tiêu diệt được triều
đại Bà Trưng thì Mã Viện đã cho đốt, đập phá và tịch thu tất cả những
sách, bia đá, trống đồng… và cấm hoàn toàn việc dùng chữ Khoa Đẩu để
nhằm Hán hoá tận gốc người Việt.

Tới
thế kỷ 15 thì một cuộc đốt sách và cạo bia đá (chữ Hán) đã được thực
hiện với một qui mô rất lớn bởi tên Trương Phụ nhà Minh trên khắp cả
nước ta. Một sự thật đau lòng khác là rất nhiều cuốn phổ qúi ở các đền,
miếu, đình và chùa chiền thờ các vị anh hùng có công với nước đều bị
cướp hay đánh tráo bằng các cuốn Phổ giả nhằm làm cho hậu thế hiểu sai
lệch về công nghiệp của tổ tiên.


Vào
thời nhà Trần khi cụ Trạng Nguyên Mạc đĩnh Chi đi sứ vừa sang tới đất
Tàu thì viên quan trú phòng sở tại ra một câu xướng rất ngạo mạn:



Đồng Trụ chí kim đài dĩ lục?

(Cột đồng nay đã mọc rêu xanh chưa?)
Đằng giang tự cổ huyết do hồng!

(Sông Bạch Đằng từ xưa máu đã nhuộm đỏ), cụ Mạc đĩnh Chi đối lại ngay.


Viên
tướng biên trấn Tàu ra câu xướng với ý nghĩa ca ngợi chiến tích xưa của
Mã Viện và đã bị cụ Trạng Mạc đối lại bằng cách cố ý nhắc lại những
chiến thắng lẫy lừng của quân Việt trên sông Bạch Đằng thời vua Ngô
Quyền và thời Nhà Trần.
Trở lại với chuyện cột đồng Mã Viện! Trong
thời đại không gian điện tử hiện nay, chắc chắn có người sẽ đánh giá
câu chuyện kể trên thuộc vào loại hoang đường nhảm nhí.
Nhưng nghi
vấn về phong thuỷ liên quan đến hiện tượng trấn yểm của Mã Viện, của
Cao Biền trên nhiều vùng long mạch địa linh của Việt Nam từ thời bán
khai vẫn luôn là những nghi án lịch sử còn đang để mở, đang chờ đợi câu
trả lời thoả đáng của hậu thế.

--------------------------------------
>>Xem thêm :


Hằng
nằm cứ vào ngày 6/2 âm lịch lể kỷ niệm hai bà Trưng được cử hành tại
nhiều nơi có người Việt sinh sống. Ðây là một sinh hoạt có tính lịch sử
truyền thống.

Vào năm 40 sau công nguyên (scn), Trưng Trắc cùng
em là Trưng Nhị quê ở Mê Linh đã dựng cờ khởi nghĩa, trước là trả thù
cho chồng sau là đánh đuổi quân xâm lược, Hai Bà đã lấy được 65 thành
trì và sau đó là xưng vương họ Trưng.

Năm 42 scn Mã Viện theo
đường biển xua quân đánh trở lại. Trước thế giặc mạnh, quân hai bà
chống cự không nổi, rút lui về Cẩm Khê và tan hàng từ đó.

Sau
khi xâm chiếm đất Giao Chỉ Mã Viện cho thực hiện hai công trình là:
Dựng trụ đồng Mã Viện tại động Cổ Sâm, châu Khâm và xây thành Kiên
Giang hình tổ kén ở Phong Khê.

Trang lịch sử này đã gây nhiều tranh cãi về nhiều vấn đề như là:

- Nguyên do khởi nghĩa của Hai Bà vì thù chồng hay vì nợ nước?

- Hai Bà lập nên chế độ mẫu hệ đầu tiên ở Việt Nam chăng?


- Ngày lễ kỷ niệm của Hai Bà cũng có sự khác biệt? Ngày 6/2 hay 6/3 Âm lịch?

- Nguyên do cái chết của Hai Bà là nhảy sông tự tử hay bị chém đem đầu về Trung Quốc?

Cho
dù có đặt nghi vấn như thế nào chăng nữa chúng ta cũng phải thừa nhận
một điều là Bà Trưng là vị nữ vua đầu tiên tại Việt Nam, một vị vua
thành tựu do công sức và tài trí trực tiếp đánh quân xâm lược. Bà Trưng
dựng cờ khởi nghĩa do lòng yêu nước chân chính của mình, xuất thân từ
giai cấp quí tộc, chứ không phải từ quan niệm đấu tranh giai cấp như
nhà sử học xã hội chủ nghĩa lý giải.

Hai bà Trưng đã tạo dựng nên truyền thống vẻ vang nữ anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Nguồn: Thiên Ðức 8/2005

Một
câu hỏi đặt ra là: tại sao trong suốt gần 2.000 năm kế tiếp dân tộc ta
vẫn không xuất hiện được một vị nữ anh hùng thứ hai có tầm cỡ Bà Trưng
cho dù lịch sử Việt Nam là lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm từ
đó cho đến nay? Phải chăng người phụ nữ Việt Nam yếu hèn? Hay là có sự
cản trở bởi một huyền lực nào đó xuất phát từ thời gian sau khi Hai Bà
Trưng thua trận, đất nước rơi vào sự đô hộ của người Hán, mà lịch sử
chưa làm sáng tỏ chăng?

Thật vậy nghi vấn đó phát xuất từ hai
hành vi cụ thể đầy bí ẩn của Mã Viện sau khi xâm chiếm đất nước ta chưa
được lý giải rõ ràng.

Theo Khâm Ðịnh Việt Sử Thương Giám Cương Mục (KDVSTGCM), trang 24-25 ghi:
“Trưng
vương cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị
thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Ðô Dương
đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi
địa giới tận cùng của Nhà Hán…”.
Sách Thủy Kinh Chú của Lịch Ðạo
Nguyên chép rằng: Mã Văn Uyên (tức Mã Viện) dựng cái mốc đồng để làm
giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc...

Sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh có chép:
Tương
truyền cột đồng ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mã viện có thề rằng: “Ðồng
trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là “Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị
diệt”, nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp
lên mãi thành gò đống cao. Ðó vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.

Mã Viện nhà Hán đắp thành Kiển Giang.

thấy huyện Tây Vu có đến ba vạn ba nghìn hộ, Mã Viện xin chia ra làm
hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua Hán y cho Mã Viện lại lập hành
quách, đặt tỉnh ấp (xóm làng), đắp thành Kiển Giang ở Phong Khê. Thành
này hình tròn như cái Tổ kén. Nên gọi là thành Kiển giang. Ba năm sau
Mã Viện về nước. (viethoc.org)
A- Trụ Ðồng Mã Viện

Trải qua
một thời gian dài bị đô hộ dưới thời Hán thuộc, trụ đồng Mã Viện đã
hoàn toàn mất hết dấu tích nhưng vẫn còn để lại nhiều nghi vấn lịch sử
như sau:

I - Sự thật của trụ đồng

Trụ đồng Mã Viện là một
câu chuyện có thật, đã được ghi vào sử liệu của cả hai nước Trung Hoa
và Việt Nam. Ðây không phải là một huyền thoại hay là hư cấu.

Vào đời vua Trần Thánh Tôn, Ngài đã cho người đi tìm lại dấu tích cột đồng nhưng không thấy.
“Tháng
4 mùa hạ (1272,) sai viên ngoại lang là Lê Kính Phu sang hội với người
nhà Nguyên biện luận việc cương giới. Nhà Nguyên sai Ngột Lương sang
hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước, nhà vua phái Lê Kính Phu đi hội đồng
khám xét. Kính Phu nói với Nhà Nguyên rằng: “Chỗ cột đồng do Mã Viện
dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc
đó sau cũng thôi... ( KDVSTGCM, Quyển VII tr. 219)

“Tháng 8 mùa
thu (1345) Sai sứ sang nhà Nguyên. Nhà Nguyên sai Vương Sĩ Hành sang
hỏi địa giới cột đồng ngày trước. Nhà vua sai Phạm Sư Mạnh sang Nguyên
biện bạch sự việc này” (KDVSTGCM, Quyển IX Tr.279).
II - Vị trí của trụ đồng

Ða số sử liệu đã thống nhất vị trí của trụ đồng như sau:

- Sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh chép: Cột đồng ở về động Cổ Sâm, châu Khâm.

-
Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Ngoại Ký của Lê Văn Hưu Quyển III Tr. 22 ghi:
Mã Viện bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán. Cột đồng
tương truyền ở trên động cổ Lâu, châu Khâm.

Tóm lại theo sử liệu
trên có thể kết luận là trụ đồng nằm ở vùng Châu Khâm tại động Cổ Sâm
hay Cổ Lâu thuộc vùng biên giới cực bắc Giao Chỉ cũng là cực nam nhà
Hán.

Một vấn đề cần được sáng tỏ nữa là: châu Khâm là huyện biên giới giữa Giao Chỉ và Nam Hán hiện nay nằm ở đâu?

Theo
tài liệu nghiên cứu mới nhất của bác sỹ Trần Ðại Sỹ, Giám đốc Trung
Quốc sự vụ, viện Pháp Á “Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam bằng cổ
sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống DNA”(1)
(vietnamsante.com), thì:
Sau khi dẫn chứng lịch sử thời hai bà
Trưng, di tích, cổ vật, cùng kết quả thử nghiệm DNA đã kết luận rằng:
Biên giới cổ của nước Việt Nam với các triều đại Hồng Bàng, Âu Lạc,
Lĩnh Nam phía Bắc quả tới hồ Ðộng đình, phía Tây giáp Tứ Xuyên.
Sự
phát hiện này có thể xác quyết một điều là vị trí trụ đồng nằm ở biên
giới phía Bắc Việt Nam qua thời gian đô hộ đã bị Trung Quốc lấn chiếm
và vùng đất động Cổ Sâm (Cổ Lâu) hiện nằm sâu trong lãnh địa Trung Quốc
hiện nay.

III - Ý nghĩa câu “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt”

Trong hầu hết cổ sử Trung Quốc và sử Việt ghi chép lại, giải thích câu này chỉ là một lời thề. Ðiểm này có nhiều nghịch lý.

1.
Ðây không thể là một lời thề. Thật vậy, Mã Viện là người đi chinh phục
và vui mừng thắng trận, nên không có động cơ nào để tạo ra một lời thề
ghi trên trụ đồng. Vì vậy sách sử gọi đây là lời thề là không đúng sự
thật.

2. Ý nghĩa câu chữ “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt” ngầm ý
hăm dọa cũng như gây hận thù với dân tộc Giao Chỉ rất là phi chính trị.
Theo sử sách cho biết Mã Viện là một danh tướng văn võ song toàn giỏi
quân sự lẫn chính trị, có thể nào ngây ngô đưa ra một lời thề phi chính
trị như trên hay không? Tất nhiên là không, vì thế Mã Viện cố tình ghi
khắc câu này tất phải có mưu đồ sâu độc nào đó đối với đất nước Giao
Chỉ vậy.

3. Ða số sách sử Trung Hoa cũng như Việt Nam đều giải
thích câu: “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” là trụ đồng gãy thì dân Giao
chỉ bị giết. Chữ Chiết mà dịch là gãy đúng với ngôn ngữ, thế nhưng
trong trường hợp này có điều không ổn. Vì rằng một cột trụ đồng kim
loại, đặc ruột dựng giữa thiên nhiên thì làm sao có thể gãy được? nếu
so với một cây cau, một cây dừa thân mộc, cao, tán cây rộng lung lay
trước gió bão còn có thể đứng vững. Thì đây là một nghịch lý.

Do
vậy sự dịch thuật câu chữ này hoàn toàn sai lầm một cách cố tình nhằm
che dấu một bí mật lịch sử mà người viết sẽ phân tích ở phần sau.

IV- Công dụng của trụ đồng

Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi và cũng chưa có lời đáp thích hợp.

1)
Theo sử gia Phạm Văn Sơn chuyện cột đồng Mã Viện thiết tưởng không đáng
tin lắm chỉ nên coi là một giai thoại không hơn không kém... Nếu coi
cột đồng Mã Viện là một mỹ đàm thì chép vào sử để làm một câu chuyện kể
chơi cho có thú vị thiết tưởng không hại gì. (Việt sử Tân Biên,
tr.199). Ðây chỉ là lối nói huề vốn khi không lý giải được những nghịch
lý của câu chuyện trụ đồng, do vậy không đáng tin cậy. Viết lịch sử của
một dân tộc cần sự nghiêm túc chứ không phải là chuyện mỹ đàm, kể chơi
cho vui.

2) Theo tác giả Trương Thái Du trong bài “Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam (Talawas - lịch sử).
Cột
đồng Mã Viện dựng năm 43 ở quận Giao Chỉ và Tây Ðồ Di cũng chính là đài
quan trắc thiên văn... Trong công tác thiên văn thời Mã Viện, để xác
định những vùng đất mới, cần phải tiến hành quan trắc các chỉ số năm
này qua năm khác. Cột thiên văn chuẩn phải vừa tránh được thời tiết xâm
hại, vừa bền vững nên chất liệu đồng đã được chọn. Muốn đo đầy đủ thì
phải cử người ở lại làm việc, ít nhất là hằng năm tập hợp số liệu đem
về kinh đô. Chuyện dân gian Việt Nam kể rằng Mã Viện từng dựng cột đồng
ở Bắc Việt lại càng khẳng định đây là cột thiên văn chứ không phải mốc
giới. Chẳng ai đem mốc giới để giữa nơi đô hội, để mỗi người đi qua ném
một hòn đá vào đấy mong cột đừng đổ. Câu “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ
diệt” của Mã Viện ngầm bảo phải coi sóc “đài thiên văn” bỏ túi kia cẩn
thận. Cơ sự là thế! Con toán thiên văn nhỏ của tôi ở tiểu mục 1 là minh
họa suốt bài viết này.
Giả thiết này khó thuyết phục bởi những
nghịch lý sau: Một cột đồng đặc ruột thuần túy trồng giữa trời mưa nắng
không thể gọi là một đài (?) thiên văn được. Theo người viết hiểu ý của
tác giả là trụ đồng Mã Viện được sử dụng như là một cái cột chuẩn để đo
lường sự di chuyển của bóng mặt trời, mặt trăng... Nếu chỉ với công
dụng như vậy thì chẳng cần phải dùng cột đồng làm gì cho năng nhọc,
thực hiện khó khăn (từ việc gom đồng, đúc cột, điêu khắc, di chuyển,
dựng cột...), rất tốn kém tiền bạc, công sức và thời gian. Ngoài ra còn
viện lý do khỏi bị thời tiết xâm hại lại không chuẩn.

Vì rằng
cột đồng to và cao đủ để đo bóng mặt trời thì rất nặng hàng tấn tạo sức
ép trên một tiết diện nhỏ thì với thời tiết mưa lụt khí hậu ẩm thấp,
đất ướt, mềm nở ra rất dễ bị lún, hay đổ ngã nguy hiểm. Với độ lún hằng
năm của trụ đồng, thì độ đo đạc lại càng thiếu chính xác, sẽ làm giảm
mất giá trị công dụng nói ở trên. Với trụ gỗ tốt vừa nhẹ, bền, dễ kiếm,
dễ bảo quản, dễ thay thế, lại đạt yêu cầu trên có lẽ hợp lý hơn cột
đồng.

Với uy danh của một tướng lãnh thống trị đương thời chắc
chắn có rất nhiều cách để bảo quản trụ đồng cần gì phải ngầm bảo dân bị
trị phải coi sóc “đài thiên văn” bỏ túi kia cẩn thận bằng câu “Ðồng trụ
chiết, Giao chỉ diệt” vừa vô chính trị đối với một vị tướng văn võ toàn
tài, vừa mất tư cách đạo đức của một kẻ đi thống trị. Với toán công tác
thường trực ghi số liệu báo cáo hằng năm không đủ sức bảo quản trụ khí
tượng hay sao, mà cần phải ngầm bảo dân bị trị coi sóc?

3) Theo
cổ sử, cột đồng chỉ là cột mốc biên giới mà thôi. Lối giải thích này
cũng không thỏa đáng. Nếu là cột mốc biên giới tại sao không ghi những
thông tin cần có của vùng biên giới mà lại ghi câu: “Trụ đồng chiết ,
Giao Chỉ diệt” trên cột đồng?

Thứ nữa là cột mốc biên giới tại
sao không đặt tại những con đường đi giữa ranh giới của hai nước, mà
lại đặt tại một hang động trong vùng hẻo lánh?

B - KIỂN THÀNH


công trình cụ thể thứ hai của Mã Viện đã hoàn thành trước khi về nước.
Theo sách sử giải thích thành Kiển Giang có hình tổ kén của con tằm,
như vậy nó có hình tròn và dài túm hai đầu, chứ không đơn giản là hình
tròn ghi trong sử liệu, đã đem lại nhiều ngộ nhận cho người đọc sử.

Hình
dáng của Kiển Thành cũng đem là nhiều nghi vấn. Thật vậy đây là loại
thành quách quân sự rất hiếm thấy trong sử sách, là loại hình dài và
gầy hẹp có rất nhiều nhược điểm như sau:

- Dễ bị tàn phá bởi
thời tiết gió bão, thật vậy một trường thành dài và ốm sẽ hứng chịu
nhiều sức tàn phá của gió bão hơn là một bức thành ngắn, tròn hay vuông
và rộng.

- Mục đích xây thành cho dân ở vì dân số đông mà lại
xây thành hình ốm và đài là không kinh tế và khó có thể thỏa mãn đầy đủ
nhu cầu phát triển cư dân về lâu dài.

- Về mặt quân sự một
trường thành dài rất khó trấn thủ vì tốn kém nhiều nhân lực canh gác,
và khó tiếp ứng từ đầu này đến đầu khác.

Vì thế câu hỏi đặt ra
là tại sao không xây thành hình vuông, đa giác lồi hay hình tròn bình
thường như những thành quách khác mà lại xây thành hình cái kén? Ẩn ý
của kiến trúc này là gì vẫn chưa được giải đáp trong sử sách.

Tóm
lại, những nghịch lý trên của lịch sử đã trải qua gần 2.000 năm vẫn
chưa được lý giải minh bạch dưới nhãn quang của các nhà sử học hay nhà
khảo cổ. Thế nhưng, nếu nhìn sự việc trên đây bằng nhãn quang của một
nhà phong thủy thì tất cả mọi nghi vấn trên đều được giải đáp thỏa đáng.

Thật
vậy đây là một trận đồ phong thủy mà Mã Viện bày ra nhằm hãm hại đất
nước Giao Chỉ. Hai Bà Trưng đối với Việt Nam là những anh hùng dân tộc,
thế nhưng theo quan niệm của triều đình Hán hai bà Trưng chỉ là yêu tặc.

Theo
An Nam Chí Lược (trang 40) do tác giả Lê Tắc là người Việt Nam, chạy
qua sống ở Trung Hoa và viết sử theo quan niệm của Trung Hoa như sau:
Năm
Kiến Võ thứ 16 của Hán Quang Vũ Ðế (sau công nguyên 40), người đàn bà
Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản, quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều
hưởng ứng theo. đành các quận ấp, cướp được 60 thành, rồi tự lập làm
vua...

Ðến năm Kiến Võ thứ 19 Mã Viện chém yêu tặc là Trưng Nhị
(Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh luôn dư đảng, bọn Ðô Lương, đến
huyện Cư Phong, bọn này chịu đầu hàng... (viethoc.org)
Vào thời đại
nhà Hán, thuật phong thủy, địa lý rất thịnh hành, tất cả những công
trình xây dựng mồ mả, lâu đài đều tuân hành nghiêm túc quy luật địa lý
phong thủy.
Ảnh hưởng bởi quan niệm này, Mã Viện sau khi trừ diệt
được hai Bà Trưng (?) đã bày một trận đồ phong thủy để diệt tận gốc yêu
quái, trừ hậu hoạn, nhằm hãm hại đất nước ta không còn vua nữ giới nữa
bằng những hành động như sau:

1- Mã Viện cho dựng một trụ đồng
tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu, nghi vấn đặt ra là tại sao không đặt nơi
đồng bằng trống trải dễ thấy hay tại những con đường đi lại giữa hai
nước như là cột mốc bình thường mà lại đặt tại một hang động? Chỉ có
thể trả lời là động Cổ Sâm chính là huyệt hàm rồng kết phát làm vua của
đất Giao Chỉ nên Mã Viện muốn phá hủy để đất nước không còn vua nữa, dễ
bề cai trị.

Nếu tự nhiên Mã Viện cho đào sâu xuống để chôn hoàn
toàn một trụ đồng mà không có lý do chính đáng thì mọi người sẽ nghi
ngờ, và gặp nhiều khó khăn trong thực hiện, vả lại cũng kém hiệu quả về
mặt phong thủy. Vì thế mà Mã Viện đã thâm độc, cho dựng đứng trụ đồng
không cần phải chôn sâu và ghi khắc câu chữ “Trụ Ðồng chiết, Giao Chỉ
diệt” bề ngoài như là hăm dọa, nhưng thực chất là khiêu khích lòng tự
ái dân tộc của dân Giao Chỉ, sau đó ngầm hỗ trợ cho người dân mỗi ngày
ném gạch đá vào trụ đồng để chôn lấp. Sự việc này có hai tác dụng thứ
nhất là giữ cho trụ đồng không bị nghiêng ngả với thời gian, thứ hai
trụ đồng nặng hàng tấn tạo một sức ép mạnh trên một tiết diện nhỏ thì
dễ dàng từ từ lún sâu vào lòng đất mỗi khi thời tiết mưa ẩm, đất nở và
mềm ra. Có như vậy mới che dấu được quỷ kế thâm độc của mình và tác
dụng phong thủy lại càng tăng cao.

2- Ý nghĩa thật sự của câu:
“Ðồng trụ chiết... Giao Chỉ Diệt”, Ðây là một câu thần phù còn ẩn dấu
một hai chữ để che đậy âm mưu phá huyệt phong thủy. Thật vậy chữ Chiết
ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là tách làm hai, ví dụ như
chiết cành chẳng hạn. Do đó câu trên nên giải thích là “trụ đồng tách
huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết”. Chứ không thể dịch
là trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết hoàn toàn phi lý. Như vậy câu
trên có hai chữ bi ẩn dấu là chữ huyệt và chữ vương.

3- Kiển
Thành hình cái kén, nếu chúng ta tách rời hai sự kiện này ra thì sẽ
không thấy âm mưu sâu độc của Mã Viện, vì thế người viết, kết hợp cả
hai sự kiện này bằng một hình vẽ tượng hình, bạn đọc sẽ thấy rõ ràng
hơn:

Hình dáng Kiển Thành, tổ con tằm, Âm, Thủy, tượng hình của
người đàn bà, kết hợp với hình dáng trụ đồng Mã Viện, Dương, Hỏa, tượng
hình của người đàn ông.

Theo Kinh Dịch lý thuyết Vũ trụ: Thái Cực - Lưỡng Nghi - Tứ Tượng - Bát Quái.

Nguồn : Thiên Đức (khongtu.com)
Về Đầu Trang Go down
 
Nghi án phong thủy: Trụ đồng Mã Viện
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Hình đẹp - Phong cảnh
» Thủ tục ra vào cảng
» Xin cho hỏi về công ty INLACO HAI PHONG và TMAS
» [15/1/2014][News] Phong cách thời trang hiện tại của Daesung và Taeyang phản ánh tính cách của họ
» Những chuyện kỳ bí về thế giới tâm linh - Thiên phóng sự đặc sắc của Hoàng Anh Sướng

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Phong Thủy-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Have a free blog with Sosblogs