WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
hophap
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 68
Số lần cảm ơn : 22
Điểm Cống Hiến : 100002953
Tham gia : 05/02/2010

Bài gửiTiêu đề: NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?   13/2/2010, 14:42

NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?
( Bài phản biện ý kiến Sư Huynh Hùng Sơn . )
Tác giả: dienbatn

Nguyên văn bài của Huynh Hùng Sơn : " Huynh kthvcth quí mến .

Mật Tông là một pháp môn tu để giải thoát cho chính mình trong một kiếp . Các hành giả Mật Tông tu trì còn để giải thoát toàn thể chúng sanh ra khỏi bể khổ luân hồi.

Bởi vậy Mật Tông không hề có những bùa phép trị bệnh , hoặc đòi tiền , bắt ghen v.v.... Những anh thầy bùa thường không hiểu gì về Mật Tông nên đem hai chữ Mật Tông ra hủ thiên hạ . Thật là tội lỗi . . . tội lỗi . . .

thân ái
Hùng Sơn ".
" Huynh Dienbatn quí mến .

Có lẽ vì lời nói vụng về nên tại hạ phát biểu sai ý nghĩ của mình chăng . vậy xin được minh xác lại !

Quả thực trong Mật Tông có những pháp trị bệnh như trong kinh của Đức Phật Dược Sư . Hoặc những phép đuổi tà sua quỉ khỏi thân người bị quỉ nhập .Song không phải là những bùa chú để cho các vị lạt ma ban cho tín đồ của mình dùng làm phép trị bệnh như các môn phái khác . Điều mà tại hạ muốn nói là đã gặp quá nhiểu người dủng hai chữ Mật Tông để " hành nghề cứu nhân độ thế " . . . . một cách bịp bợp !

Phải hiểu là một hành giả không thể nào học hỏi một thời gian nào đó mà có thể nói là dùng Mật Tông để trị bệnh được . Đây phải là những vị đã đắc Phật Quả thì mới có cái tài đó ! Thí dụ như Đức Phật Dược Sư chẳng hạn . Hoặc ít nhất thì cũng phải là các vị Phật tái sanh mà thôi .
Những điều huynh Dienbatn nói ở trên theo tại hạ thì hoàn toàn đúng trong tầm nhìn bao quát của tại hạ . Vì chắc chắn còn những điều cao thâm hơn mà tại hạ chưa tu tới nên không biết . Vậy có lẽ đây cũng là mục đích của diễn đàn này . Chúng ta dùng nơi đây để học hỏi lẫn nhau . Và hy vọng huynh dienbatn mở một topic nói về những điều này thì hay quá . Tại hạ rất vui mừng được học hỏi thêm.

thân ái
Hùng Sơn " .

PHẦN PHẢN BIỆN CỦA DIENBATN

PHÁT NGUYỆN :
Con không xin vào Niết bàn ,
Mà nguyện hướng về Địa ngục .
Cầu cho ngọn lửa ngục hóa Sen vàng .
Con không xin vào cõi Phật ,
Mà nguyện hướng về đao sơn ,
Cầu cho gươm giáo hóa Đạo tràng .
Con không vào Tịnh Quốc ,
Mà nguyện làm chiếc đò ngang ,
Ngày đêm chở hết nỗi trái oan ,
Tâm như Đại hải ,
Tâm như Kiều thuyền .
Con nguyện ở lại .
Cõi Ta Bà lửa ngút máu oan khiêm ...
Trải lòng thương xót khắp nẻo ưu phiền .
Địa ngục xuống lên ,
Luân hồi qua lại ,
Quán Kỳ âm thanh - Con nguyền tự tại .
Xem tiếng kêu mà phiền não độ qua .
Bao giờ Địa ngục còn ma ,
Muỗi mòng còn khổ - Ta Bà còn QUÁN ÂM .
Trước hết , để có thể trả lời vấn đề này một cách cơ bản , rốt ráo , chúng ta nên đi từ những khái niệm ban đầu về hai chữ : MẬT TÔNG .
" Tôn này thuộc về Ðại-thừa, thờ Ðức Ðại Nhựt Như Lai (Tì Lô Giá Na) làm giáo chủ. Ngài Kim Cang Bồ Tát đích thân chịu làm lễ quán đảnh, kế thừa pháp mầu nhiệm của Ðức Ðại Nhựt Như Lai, vì thế cho nên tôn này gọi là Mật Tôn hay Chơn ngôn tôn (lời dạy chơn thật mầu nhiệm, bí mật).

Ngài Kim Cang Bồ tát truyền cho Ngài Long Thọ; Ngài Long Thọ truyền cho Ngài Long Trí; Ngài Long Trí truyền cho Ngài Thiện Vô Uĩy Tam tạng và Ngài Kim Cang Trí Tam tạng.

Vào đầu đời Ðường, hai Ngài Vô Uĩy và Kim Cang sang Trung Hoa, rộng truyền bí pháp Mật tôn.

Ngài Vô Uĩy truyền cho Ngài Nhất Hạnh Thiền sư. Ngài Nhất Hạnh Thiền sư sớ thích kinh Ðại Nhật làm cho giáo nghĩa của Mật tôn được rõ rệt ở Trung Hoa. Còn Ngài Kim Cang Trí thì truyền giáo pháp cho Ngài Bất Không Tam tạng. Ngài sau này truyền cho Ngài Huệ Quả Hòa thượng, Ngài Huệ Quả truyền cho Ngài Không Hải là một Ðại sư người Nhật. Ngài Không Hải về sau trở thành vị tổ Mật tôn ở Nhật.

Mật tôn có nhiều phái: a) Mật tôn ở Trung Hoa; b) Mật tôn ở Nhật thường gọi là Ðông mật; c) Mật tôn ở Tây tạng tức là Lạt ma giáo, hay là Tạng Mật.

Kinh điển của Mật tôn.- Tôn này nương vào hai bộ kinh lớn làm cội gốc bộ kinh đại Nhật và kinh Kim Cang Ðảnh. Nếu kể thêm ba bộ kinh Tô tất địa, Du ký và Yếu lược niêm tụng, thì thành ra năm bộ kinh về Mật tôn.

Ðức Ðại Nhựt Như Lai, (hay Tỳ Lô Giá Na) là thế nào? Như chúng ta đã thấy ở đoạn đầu, Tôn này thờ Ðức Ðại Nhựt Như Lai, (hay Tỳ Lô Giá Na) làm Giáo chủ và Ngài Kim Cang Bồ Tát (tức Ngài Kim Cang Tát Ðỏa) băng phương pháp quán đảnh đã nhận lãnh pháp mầu nhiệm của Ðức Ðại Nhựt Như Lai để truyền thừa Tôn này. " ( HT. Thích Thiện Hoa - Nguồn http://www.buddhahome.net/phatphap/m...ong(thhoa).htm ) .
" Lịch sử Mật tông

Mật giáo được thành lập vào thế kỷ thứ VII ở vùng Nam Ấn với sự xuất hiện của bộ Kinh Đại Nhật (Mahàvairocana sùtra). Đây là bộ Kinh căn bản của Mật tông. Ở Ấn Độ, giai đoạn mà Mật giáo phát triển mạnh mẽ nhất là dưới thời các vương triều Pàla (750 - 1150) ở Bengale. Nhà vua Dharmapala (thế kỷ VII), người đã nhiệt thành ủng hộ xây dựng tu viện Vikramasilà, làm trung tâm truyền bá Mật giáo.

Ngài Long Thọ (Nagarjuna, 600 - 650) được coi là vị Tổ sư của Mật giáo. Ngài thuộc dòng Bà la môn, thọ giới tại Nalanda, sau đó đến Vương Xá tu 12 năm đắc thánh quả Đại thủ ấn tất địa (Mahamudràsiddhi). Theo truyền thuyết, có lần Ngài gặp đứa trẻ chăn cừu giúp Ngài qua sông; để đền ơn, Ngài thi triển thần thông giúp đứa trẻ làm vua. Tranh tượng vẽ về Ngài có hình rắn phủ quanh đầu. Phật giáo Tây Tạng cho rằng Long Thọ (thế kỷ VII) và Long Thọ luận sư (thế kỷ II) là một, tức Long Thọ đầu thai trở lại. Ngài có đệ tử truyền pháp là Long Trí.

Long Trí (Nagabodhi) là truyền nhân của Ngài Long Thọ. Ngài dòng dõi Bà la môn, nhưng lại thường đi ăn trộm, khi Ngài Long Thọ đang ở Tinh xá Suvarna, Long Trí đến rình xem thấy Ngài Long Thọ đang ăn bằng một cái bát vàng, bèn nảy ý trộm lấy cái bát. Ngài Long Thọ biết tâm ý của Long Trí, liền ném cái bát cho Ngài. Ngài kinh ngạc và cảm phục bèn xin đi theo tu học. Ngài Long Thọ làm phép quán đỉnh cho Ngài nhập môn. Sau 12 năm tu luyện, Ngài chứng ngộ thánh quả.

Kim Cương Trí (Vajrabodhi, 663 - 723) người Nam Ấn, tu học ở Nalanda. Năm 15 tuổi qua Tây Ấn học về Nhân Minh luận với Ngài Pháp Xứng, sau đó tham học về Luật, Trung Quán luận, Du già luận, Duy Thức luận,... sau cùng tu học và nghiên cứu Kim Cương Đỉnh (Vajra Sekhàra) và các Kinh Mật giáo với Ngài Long Trí ở Nam Ấn 7 năm. Năm 720, Ngài qua Trung Hoa, đến Lạc Dương truyền bá Mật giáo. Ngài được coi như vị Tổ đầu tiên của Mật tông Trung Hoa đồng thời với Ngài Thiện Vô Úy.

Bất Không Kim Cương (Amoghavajra, 750 - 774) là đệ tử xuất sắc của Ngài Kim Cương Trí. Ngài người Bắc Ấn, thọ Sa di năm 15 tuổi, theo Thầy đến Lạc Dương thọ Tỳ kheo giới năm 20 tuổi. Tu học 12 năm thông suốt Mật giáo. Sau khi Thầy mất, Ngài cùng với các đệ tử qua Tích Lan nghiên cứu giáo lý Kim cương đỉnh Du già và Đại Nhật thai tạng. Trở về Trường An với số Kinh điển đồ sộ, Ngài khởi công dịch thuật. Ngài Bất Không Kim Cương là Quốc sư của ba triều vua Huyền Tông, Túc Tông và Đại Tông.

Thiện Vô Úy (Subhakarasimha, 637 - 735) là đệ tử của Ngài Long Trí, tức là huynh đệ với Ngài Kim Cương Trí, từng là vua xứ Orissa, tu học ở tu viện Nalanda, thâm hiểu Du già, chân ngôn và ấn quyết. Ngài đến Trung Hoa năm 716, đời vua Huyền Tông, trước Ngài Kim Cương Trí 4 năm và cũng được coi là vị Tổ sư của Mật tông Trung Hoa, được vua Huyền Tông trọng đãi. Ngài dịch nhiều Kinh quan trọng của Mật tông như Đại Nhật Kinh, Tô Tất Địa Yết La Kinh,... Đệ tử của Ngài có các Ngài Nhất Hạnh, Huyền Siêu, Minh Trí, Nghĩa Lâm,...

Ngài Nhất Hạnh (638 - 727) quê quán ở Thuận Đức, tỉnh Nhật Lệ, Trung Hoa, là người tinh thông Tam luận, Thiền học, Thiên Thai,... đặc biệt tinh thông cả Thiên văn học. Khi Ngài Thiện Vô Úy đến Trung Hoa, Ngài được truyền pháp "Thai tạng giới" của Mật giáo. Ngài cùng với Thầy dịch Kinh Đại Nhật và trước tác bản sớ Đại Nhật Kinh. Sau đó, Ngài cũng học với Kim Cương Trí, được truyền cho nghi quỹ của Kim Cương giới. Ngài được lãnh hội cả hai phái của Mật giáo Ấn Độ.

Mật giáo Ấn Độ được khởi xướng và truyền bá do các cao Tăng như Long Thọ, Long Trí, Kim Cương Trí, Thiện Vô Úy. Trên mặt giáo nghĩa và hành trì thì chia làm hai phái Chân ngôn thừa (Mantrayàna) và Kim cương thừa (Vajrayàna), dựa theo tư tưởng của hai bộ Kinh Đại Nhật và Kim Cương Đỉnh. Qua Trung Hoa, cả hai dòng hợp lưu ở Nhất Hạnh, đường lối Mật tông Trung Hoa tổng hợp của lý luận và thực tiễn. Mật tông phát triển mạnh và đã tạo nhiều ảnh hưởng đến nền văn hóa nghệ thuật Trung Hoa, được các triều vua ủng hộ nên rất hưng thịnh. Công đức truyền bá Mật giáo Trung Hoa do các Ngài Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí, Bất Không, Nhất Hạnh, Vô Hành,...

Mật giáo được truyền vào Tây Tạng thế kỷ VIII do Ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambhava), người Ấn Độ, sống cùng thời với vua Tây Tạng Ngật Lật Song Đề Tán (755 - 797). Ngài đến Tây Tạng, đem Mật giáo truyền bá và sáng lập tông phái Ninh Mã (Nyingmapa), một trong bốn phái lớn của Mật giáo Tây Tạng. Ngài được coi là Đức Phật Thích Ca tái thế, có tài chinh phục ma quỷ, thiên tai và các giáo phái. Ngài xây dựng tu viện Tang Duyên (Samye) năm 775 và trước tác nhiều tác phẩm quan trọng như bộ Tử thư,... Ngài là Tổ sư của Phật giáo Tây Tạng.

Sự truyền thừa của Mật tông Tây Tạng không rõ nét và rất phức tạp; những bậc đại sư nổi bật đóng góp làm hưng thịnh và sáng rỡ Phật giáo Tây Tạng sau Liên Hoa Sinh có Atisa (A Đề Sa, 982 - 1054), thế kỷ X, Ngài người Đông Ấn, được mời sang Tây Tạng và sống ở đó 12 năm, đóng góp rất nhiều cho Phật giáo Tây Tạng nói chung và Mật giáo Tây Tạng nói riêng. Ngài sáng lập ra trường phái Kadampa (Cam Đan) ảnh hưởng lớn Phật giáo Tây Tạng, trước tác Bồ Đề Đạo Đăng luận, đặc biệt công trình sắp xếp hệ thống Kinh sách Phật giáo Tây Tạng, lấy triết học Tánh không và Duy thức làm tư tưởng cho Phật giáo Tây Tạng, điều đó ảnh hưởng đến các hệ tư tưởng Mật giáo Tây Tạng rất lớn.

Người cải cách nổi tiếng của Mật giáo Tây Tạng là Tông Khách Ba (1357 - 1419), Ngài sinh tại Amdo, thuộc vùng Đông Bắc Tây Tạng. Xuất gia khi còn nhỏ, tham học với nhiều vị đại sư khác nhau, tư tưởng của Ngài ảnh hưởng của Atisa. Ngài sáng lập tông phái Gelugpa (Hoàng Mạo phái), một tông phái quan trọng nhất của Tây Tạng hiện nay. Ngài chủ trương xét lại toàn bộ Kinh điển và tổng kết thành hai tác phẩm chính: Lamrin Chenmo (Bồ đề đạo thứ đệ) tiêu biểu cho đường lối tu tập Hiển giáo, Ngagrim Chenmo (Chân ngôn đạo thứ đệ) tiêu biểu cho đường lối tu tập của Mật giáo. Phật giáo Tây Tạng được chấn chỉnh và phát huy rực rỡ nhờ Tông Khách Ba. Trước khi mất, Ngài phó chúc cho hai đệ tử là Dalai Blama và Panchen Blama, tức Đạt lai Lạt ma và Ban thiền Lạt ma; theo truyền thuyết thì hai vị này chuyển sinh để tiếp tục cai trị Tây Tạng, được dân chúng coi là hai vị Phật sống. Mật tông được Phật giáo Tây Tạng bảo tồn và phát triển, còn ở các nơi khác không phát triển mấy. " ( Giới Thiệu Về Mật Tông (Kim Cương Thừa)
Thích Viên Giác - Nguồn http://daitangkinhvietnam.org/index....=407&Itemid=66

( Còn tiếp - dienbatn )
Về Đầu Trang Go down
hophap
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 68
Số lần cảm ơn : 22
Điểm Cống Hiến : 100002953
Tham gia : 05/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?   13/2/2010, 14:42

Tôn Chỉ Và Giáo Lý Căn Bản.

1.-Lục đại: Mật tôn chủ trương Lục đại là chơn thật thể của vũ trụ. Lục đại đà: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại và thức đại. Lục đại là bản nguyên của các tánh năng sinh (sinh ra), năng lưu (lưu xuất ra).

Trong lục đại thì năm đại trước thuộc về vật, đại cuối cùng (thức đại) thuộc về tâm. Sau đại này mỗi mỗi đều dung thông, không ngăn ngại, thâu nhiếp lẫn nhau, làm nhân làm duyên cho nhau mà sinh ra các pháp.

Lục đại bao hàm 3 phương diện

Thể đại, tức là bản thể chung cùng của vũ trụ;

Tướng đại, tức là hình tướng của sự vật và chúng sanh

Dụng đại, tức là ngôn ngữ, động tác, cong dụng của mỗi sự vật.

Vũ trụ vạn hữu không có cái gì ra ngoài thể đại, tướng đại, dụng đại.

Thể, tướng, dụng là chúng ta dùng trí lực chia chẽ ra như thế để dễ quán sát; chứ thực ra ba phương diện ấy không thể rời nhau, không thể tồn tại riêng rẽ được. Ngoài thể đại, thì tướng đại và dụng đại cũng không thể có được; ngoài tướng đại thì thể đại và dụng đại cũng không thể có được. Vì vậy xét một phương diện thì rõ được cả ba.

Như chúng ta đã thấy ở đoạn trên: sáu đại dung thông, thâu nhiếp lẫn nhau, và ba phương diện: thế, tướng , dụng cũng không thể rời nhau, nên vũ trụ vạn hữu, mặc dù muôn hình vạn trạng, rộng lớn vô biên, vẫn có lý dung thông vô ngại, châu biến khắp tất cả. Cái đó gọi là lý tánh hay chơn như. Lý tánh hay chơn như là nồng cốt của sự tướng nhưng nếu không có sự tướng, thì chơn như hay lý tánh cũng không thể biểu dương được. Lý tánh và sự tướng là hai khía cạnh tịnh và động của nhất như. Nói tóm lại, có lý tức có sự, có sự tức có lý. Lý tánh của vũ trụ vạn hữu cũng tức là Phật tánh. Như vậy, Phật tánh đều sẵn có trong mọi chúng sanh, trong mọi hình thức.

Muốn chứng ngộ Phật tánh, muốn thể nhập chơn như, trước tiên phải quan sát sự tướng, sự tướng có thể gồm trong bốn loại sau đây tức là bốn Mạn trà- la.

2.- Bốn Mạn trà- la: Mạn trà- la nghĩa là tròn trịa đầy đủ, rộng lớn không lường. Bốn pháp Mạn trà- la, hay gọi tứ Mạn tưởng đại, là bốn tướng rộng lớn, đầy đủ của bản thể do sáu đại mà biến hiện ra. Bốn pháp Mạn trà- la là:

đại Mạn trà- la.- nghĩa rộng là thân của các loài hữu tình trong mười pháp giới, là sắc tướng của môn pháp trong vũ trụ, các sắc tướng của môn pháp trong vũ trụ, y theo lục đại mà hiện.

Nghĩa hẹp là chỉ cái sắc tướng trang nghiêm của Phật, Bồ tát được thể hiện trong các pho tượng chạm trổ, tô vẽ.v.v...

Tam muội gia Mạn trà- la.- nghĩa rộng là hết thải các cơ khí trong vũ trụ, những vật dụng thường ngày của chúng sanh, hay rộng hơn nữa là cái đặc tánh riêng biệt của mỗi pháp, núi, sông, cây cỏ...nghĩa hẹp là chỉ những vật mà Phật và Bồ tát thường cầm như hoa sen, ngọc bửu châu, cành dương liễu để tiêu biểu cho lời thề nguyện hay cái đặc tánh thù thắng riêng của quý Ngài trong việc cứu độ chúng sanh.

Pháp Mạn trà- la. -nghĩa rộng là hết thảy âm thanh, lời nói, hình ảnh, tên gọi, ký hiệu trong vũ trụ. Nghĩa hẹp là chỉ cho những chủng tử hay chơn ngôn của các đức Phật hay Bồ tát. Chủng tử ở đây tức là chữ cái. Chữ tiêu biểu cho bản thể của Phật và Bồ tát, như chủng tử của đức Ðại Nhựt Như Lai (đọc là A), chủng tử của Ngài Kim Cang Tát đỏa (đọc là Hùm). Còn chơn ngồn tức là Mật chú, và danh hiệu của Phật, Bồ tát cùng tất cả văn nghĩa trong các kinh điển.

Yết ma Mạn trà- la:- Yết ma là cử động làm các sự nghiệp. Vậy nghĩa rộng của Yết ma Mạn trà- la là chỉ cho hết thảy động tác của chúng sanh và môn vật. Nghĩa hẹp là chỉ cho hết thảy oai nghi động tác của chư Phật và Bồ tát để làm các sự nghiệp độ sinh.

Bốn Mạn trà- la này đồng thời tồn tại, đã có một Mạn trà- la, tức phải có ba Mạn trà- la kia. Bốn Mạn này Phật, Bồ tát và chúng sanh đều có. Bốn mạn của Phật không lìa bốn mạn của chúng sanh; bốn mạn của chúng sanh không lìa bốn mạn của Phật. Vì thế, kinh thường gọi là bốn mạn không lìa nhau.
III.- Phương Pháp Tu hành

Cũng như các tôn phái khác trong Phật Giáo, sự tu hành của Phật tôn có hai phương diện: Sự và Lý, hay nói theo danh từ của Mật tôn là Giáo tướng và Sự tướng.

Sự tướng là tất cả những thực hành như tụng chú, kết ấn, cúng dường, lập đàn ...Tất cả những thực hành ấy phải theo đúng khuôn phép nhất định, chứ không thể dùng ý riêng mà làm càn được.

''Giáo tướng'' là tất cả những ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm mà chư Phật và Bồ tát đã rút ra trong sự tướng để dạy chúng ta.

Người tu hành phải học tập và thực hành cả hai phương diện ấy,không được thiên bỏ bên nào. Không học giáo tướng thời không lãnh hội được ý nghĩa của sự tướng để làm cho đúng. Không học sự tướng thì hết thảy đều là nói suông. Giáo tướng thì có thể nương theo kinh điển mà học hỏi; còn sự tướng thì phải có các bậc A xà lê, tức các vị truyền đạo của Mật tôn, truyền cho mới biết được.
Ngoài sự tu hành thường ngày, phương pháp tu hành trọng yếu của Mật tôn là Tam mật.

Tam mật là phương pháp tu hành mầu nhiệm dựa trên thân. Ngữ, ý. Tam mật gồm có: Thân mật, ngữ mật (khẩu mậy ) và ý mật.

Như trên đã nói , chúng sanh và đức Như Lai đều có sáu đại làm thẻ, bốn pháp Mạn tà la làm tướng, không sai khác. Vậy Như Lai và chúng sanh thì thể tướng mật. Như đức Ðại Nhựt Như Lai đều có tam pháp giới là thân mật, hết thảy tiếng tăm là ngữ mật,. Cái thức lớn bao khắp tất cảlà ý mật. Còn chúng sanh , thì tay bắt ấn là thân mật, miệng niệm chơn ngôn là ngữ mật, tâm chuyên vào tam-ma-địa (thiền định) là ý mật.

Nhưng Phật và chúng sanh khác nhau ở tịnh và nhiễm, ngộ và mê, giải thoát và ràng buộc. Vậy muốn được như Phật , phải tu hành theo phép tam mật. Nhờ tay bắt ấn mà tịnh được thân nghiệp, miệng niệm chơn ngôn mà tịnh được khẩu nghiệp, trs quán tưởng đức Ðại Nhựt Như Lai mà dẹp được vọng tưởng, ý nghiệp được thanh tinh. Sự tu hành tam mật có thể chia làm hai giai đoạn lớn.

Giai đoạn đầu gọi là tam mật gia trì. Trong giai đoạn này, sau khi hành-giả đã làm chủ được thân, ngữ, ý rồi thì tâm thủy ( tâm vắng lặng như nước đứng yên ) cả mình được ánh sáng mầu nhiệm của Ðịa Nhựt Như Lai chói rọi vào, tức là "Gia"; Và tâm thùy minh cùng cảm chịu, thu nhận được ánh sáng mầu nhiệm ấy tức là "Trì". Một bên thì "Gia", một bên thì"Trì", hai bên thừa tiếp nhau nên gọi là Tam mật gia trì.

Giai đoạn thứ hai gọi là Tam mật du già. Khi giai đoạn Tam mật gia trì đã thuần thục, thì ánh sángcủa đưc Ðại Nhựt Như Lài là ánh sáng ttrong tâm thủy của hành-giả hiệp nhau ( du già) không sai không khác, thì gội là "Tam mậu du già". Ðến đây tức là công phu tu hành hữu tướng tam mật đã thành tựu .
IV.-Quả Vị Tu Chứng

Hành-giả sáu khi đã thành tựuTam-mật hữu tướng, thông suốt được ý nghĩa mầu nhiệm của bốn mạn-trà-la, thì nhất cử, nhất động đều rập khuốn đung theo oai nghi của Phật , làm lợi lạc cho chúng sanh một cách tự nhiên, có làm tất cả mọi việc lợi ích mà như không làm. Ðó tức là vô tướng tam mật.

Ðến độ vô tướng tam mật thì mọi hành vi cử động đều tòan là ấn cả, hết thãy lời nói đều là chú và chơn ngôn, hết thãy ý nghĩ đều là diêu quán cả. Do đó mà trong kinh có câu nói sau đây để hình dung hạng người đã chứng được vô tướng tam mật: "mỡ miệng ra tiếng, chơn ngôn diệt tội; dơ tay động chân, đều thành mật ấn; theo việc khởi niệm, diệu quán tự thành".

Ðó cũng là ý nghĩa của bốn chữ"tức thân thành Phật "; nghĩa là hiện đời thành Phật .

V.-Kết Luận

Sự lợi ích tu về Mật tôn, đến khi kết quả cùng tột cũng đồng một mục đích như các pháp môn khác; nghĩa là ba nghiệp thanh tịnh. Thân ngồi trì chú, tay bắt ấn, nên thân không làm các việc tội ác, vì thế mà thân nghiềp được thân tịnh (thân mật). Miệng đọc thần chú, nên miệng không nói các điều tội lỗi, vì thế mà khẫu nghiệp được thanh tịnh (nhữ mật). Tâm tưởng chú hoặc quán tưởng những chữ thần chú, nên tâm không nghĩ tưởng những điều tội lỗi, vì thế nên ý nghệp được thanh tịnh ( ý mật) Kinh chép: "Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương".nghĩa là : nếu ai ba nghiệp chướng thanh tịnh thì được về tây phương đồng ở với Phật .

Trì chú có rất nhiều lợi ích, như trì chú vãng sánh sẽ nhỗ sạch hết gốc rễ của nghiệp chướng và được sanh về Tịnh độ (bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bản, đắc sanh Tịnh độ Ðà-la-ni); trì chú lăng nghiêm sẽ được tiêu trừ các oan gia nghiêp chướng và tình ái-dục nặng nề từ nhiều kiếp trước, như ông A-nan và bà Ma-Ðăng-Già ( xin quý vị xem quyển Ðại cương Lăng nghiêm về đoạn nói lớiich trì chú Lăng nghiêm); trì chú phổ am sẽ tiêu trừ được phục thi cốt khí các yêu tinh quỷ quái trong gia trạch; triều trì Ngủ bộ chú hay Ðaị bi thập chú sẽ được phước huệ tăng long, tùy tâm hành-giả cầu như thế nào, sẽ được mãn nguyện như thế ấy.
Nguồn http://www.buddhahome.net/phatphap/m...ong(thhoa).htm
12 ĐẠI NGUYỆN CỦA DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI .

Như Lai thân quang như Lưu ly ,
Chùm khắp Pháp giới thật diệu kỳ ,
Cứu khổ hàm Linh hằng hỷ xả ,
Độ sanh muôn loại dụng từ bi .
12 nguyện lớn tiêu tai ách .
Quán đảnh Chân ngôn bạt khổ mê .
Độ khắp chúng sanh đồng giải thoát ,
Âm siêu - Dương thới bất tư nghì .
NAM MÔ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI PHẬT .
Namo Bhagavate Bhaisajya-guru-vaidurya-prabha-rajaya Tathagataya Arhate Samyak-sambuddhaya. Tadyatha, Om
Bhaisajye Bhaisajye Bhaisajya Samudgate Svaha.

" Mạn thù, đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, xưa kia, khi làm hạnh bồ tát, đã phát ra mười hai đại nguyện, cốt làm cho mọi người thực hiện mọi sự mong ước.
Đại nguyện thứ nhất, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì bản thân ánh sáng rực rỡ, chiếu soi vô số thế giới hệ. Thân ấy lại được trang hoàng bằng bâm hai tướng tốt của bậc đại trượng phu, và tám mươi tướng phụ. Lại làm cho mọi người không khác gì với con.
Đại nguyện thứ hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì thân như ngọc lưu ly, trong ngoài trong suốt, không chút vẩn đục, ánh sáng to lớn và chiếu tỏa xa rộng. Công đức đồ sộ, lại khéo an trú. Những tia sáng rực rỡ, dệt nhau như mạng lưới, và tráng lệ quá hơn nhật nguyệt. Chúng sanh tối tăm được soi sáng cả, nên tùy ý hướng mà làm mọi sự nghiệp.

Đại nguyện thứ ba, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì vận dụng vô lượng trí tuệ và phương tiện, làm cho mọi người cùng được vô tận những vật hưởng dụng, không để cho ai có sự thiếu thốn.

Đại nguyện thứ tư, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì những kẻ đi theo tà đạo đều được làm cho ở yên trong đạo giác ngộ, những người tu theo thanh văn duyên giác đều được xây dựng bằng pháp đại thừa.

Đại nguyện thứ năm, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì vô số người tu hành phạn hạnh trong chánh pháp của con, con làm cho tất cả được giới thể không thiếu sót, trọn vẹn giới pháp ba loại. Giả sử phá phạm đi nữa, nghe danh hiệu con rồi là phục hồi thanh tịnh, không rơi vào đường dữ.
Đại nguyện thứ sáu, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ thân hình thấp kém, giác quan không đủ, xấu xí, u mê, mù điếc, câm ngọng, tay quắp, chân quẹo, lưng gù, phung lác, điên cuồng, đủ thứ bịnh khổ, nhưng nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều đẹp đẽ, thông minh, giác quan hoàn bị, hết mọi bịnh khổ.

Đại nguyện thứ bảy, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ bị mọi thứ bịnh khổ hành hạ mà không ai cứu giúp, không nơi nương tựa, không có y sĩ, không có dược liệu, không có thân thuộc, không có nhà cửa, nghèo nàn lắm khổ, thì danh hiệu của con, một khi đi qua thính giác của họ, là bịnh khổ tan biến, thân tâm an lạc, nhà cửa, thân thuộc và đồ dùng, đầy đủ tất cả, cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.

Đại nguyện thứ tám, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, nếu có nữ nhân nào bị hành hạ bởi cả trăm thứ khổ sở của nữ nhân, nên cùng cực chán ngán, muốn thoát thân ấy, thì nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều chuyển thân nữ nhân thành thân nam tử, đủ tướng trượng phu, cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.

Đại nguyện thứ chín, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì làm cho mọi người thoát khỏi mạng lưới của ma vương, cổi mở thắt buộc của ngoại đạo. Sa vào rừng rậm ác kiến thì sẽ được dẫn ra, đem đặt vào chánh kiến, và dần dần làm cho họ thực tập các hạnh bồ tát, để thực hiện một cách mau chóng tuệ giác vô thượng.

Đại nguyện thứ mười, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì những kẻ bị phép vua ghi sổ, xích trói đánh khảo, giam nhốt lao ngục, sắp bị hành hình, cọng với vô lượng tai nạn khổ nhục và bi thảm sầu muộn khác nữa, ngâm nấu bức bách, làm cho cả cơ thể lẫn tâm trí đều chịu thống khổ, nhưng nghe danh hiệu của con, thì vì năng lực phước đức và uy thần của con mà họ thoát hết mọi sự lo sợ khổ sở.
Đại nguyện mười một, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ bị đói khát hành hạ, vì cầu cái ăn mà làm mọi ác nghiệp, nhưng nghe được danh hiệu của con, nhất tâm thọ trì, thì trước hết con làm cho họ no đủ cơ thể bằng thực phẩm tuyệt diệu, sau đó con sẽ đem cái vui cứu cánh của pháp vị mà xây dựng cho họ.

Đại nguyện mười hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ nghèo thiếu y phục, ngày đêm khổ sở vì muỗi mòng lạnh nóng, nếu nghe danh hiệu của con mà nhất tâm thọ trì, thì như sở thích của họ, họ được liền những thứ y phục tuyệt diệu, lại được những đồ trang sức bằng vàng ngọc. Hoa vòng, hương hoa, âm nhạc hòa tấu và mọi kỹ thuật biểu diễn, tùy ý họ thích, con làm cho đầy đủ tất cả. "

( Nguồn : http://www.buddhismtoday.com/viet/ki...5-duocsu-2.htm )
LỜI BÀN CỦA DIENBATN : Chúng sanh chỉ cần nghe danh hiệu của DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI đã được đủ mọi lợi lộc trong nhiều đời nhiều kiếp . Tuy nhiên , vẫn phải có một ai đó niệm danh hiệu và tụng chú DƯỢC SƯ để cho chúng sinh " Nghe được danh hiệu " của Ngài . Phật không niệm Phật được cho chúng sinh nghe , vậy chỉ có người học Mật Tông được thọ trì quán đảnh và trì chú giúp người khác " nghe được danh hiệu của DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI " mà thôi .
Về Đầu Trang Go down
hophap
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 68
Số lần cảm ơn : 22
Điểm Cống Hiến : 100002953
Tham gia : 05/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?   13/2/2010, 14:43

Bây giờ ta thử xem lại một số Pháp Phật cứu đời như sau :

NHẬP NHÀ MỚI

Khi cất nhà mới, đến ngày nhập trạch thì lấy một cái chén mới (Lâu nay chưa dùng làm gì) đựng nước trong lấy giữa lòng giếng vào lúc nửa đêm, rồi tay trái kiết ấn Bảo Thủ: (Nghĩa là lấy ngón tay giữa và ngón tay áp út, co lại bấm vào lòng bàn tay, mà giơ ngón tay cái, ngón tay trỏ và ngón út thẳng lên) rồi bưng chén nước, còn tay mặt thì kiết ấn Kiết Tường. (nghĩa là lấy ngón tay cái co lại bấm vào đầu ngón áp út và giơ ngón trỏ, ngón giữa và ngón út lên rồi thư chữ LAM vào trong chén nước, rồi tụng 21 biến Chuẩn Ðề có ghi sau đây), rồi đứng giữa nhà, lấy tay nhúng nước đó mà rải về tám phương: trên, dưới. Sau lại dùng son viết chín chữ Phạn của chú Chuẩn Ðề như vầy vào giấy vàng. ÁN CHIẾT LỆ CHỦ LỆ CHUẨN ÐỀ TA BÀ HA (Viết bằng chữ Phạn), rồi đem dán đủ trên các cửa và chí tâm cầu nguyện Phật để tụng chú ấy luôn ba đêm, thì nhà ở được yên ổn, không có quỷ quái nhiễu loạn mà lại được sự cát tường. Nhà đương ở mà sanh yêu quái, thì cũng làm như trên.
TRỊ QUỶ MỊ LÀM ÐAU ỐM

Bị quỷ mị làm cho đau ốm, lấy cành dưng liễu hay nhánh thạch lựu, mắt nhìn vào nhánh cây, miệng chăm tụng chú Chuẩn Ðề 108 biến, rồi lấy nhành cây ấy mà đập, phủi trên thân người đau, tức thời lành bịnh.
Nếu người bịnh ở xa, cũng làm phương pháp ấy; gia trì trong nhánh cây 108 biến rồi đêm về phủi trên mình bịnh nhơn.
Trẻ em bị bịnh quan sát (Hay khóc dạ đề)
Mua chỉ ngũ sắc về, bảo một đứa trẻ (gái) nhỏ xe hiệp lại, rồi mình cầm chỉ ấy tụng một biến chú Chuẩn Ðề rồi gút lại một gút, cứ tụng và gút luôn cho đủ 21 gút, rồi lấy chỉ đeo vàơ mình đứa nhỏ, bịnh nó sẽ lành ngay. Nếu trong thân người các chi tiết bị đau nhức, nên gia trì Thần chú vào trong tay 21 biến mà xoa vào chỗ đau cũng được lành bịnh. (Muốn trị bịnh theo pháp này, phải là người trì chú tu hành trong thời gian lâu dài mới có hiệu nghiệm.)
(Còn người mới tụng Phạn âm chưa thuần tâm không chuyên nhất, không hiệu nghiệm mà đắc tội nặng. Khi vào tự chữa cho mình lành bịnh rồi mới trị cho người khác).
Người bịnh trầm trọng:
Niệm chú Chuẩn Ðề trong chỉ ngũ sắc, cứ niệm mỗi câu gút một gút cho đủ số 108 gút đeo trên cổ bịnh nhân thì được lành bịnh. Nếu người ở xa, nên vẽ hình bịnh nhân rồi nhìn vào hình, xưng tên một lần, trì chú một biến, cho đến khi đủ 108 lần rồi mới lấy chỉ đó đeo vào hình nhơn thì bịnh cũng lành được. Lúc đi đừng, vào rừng, đi thuyền, tàu, phải nên nhớ tụng chú Chuẩn Ðề để hộ thân và tránh khỏi tai nạn.
CHÚ TỲ LÔ GIÁ NA
PHẬT ÐẠI QUÁN ÐẢNH QUANG CHƠN NGÔN
Bất Không Quyến Thần Biến kinh nói: Nếu các chúng sanh tạo đủ thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, tội số như vi trần, đầy khắp thế giới. Khi thân hoại mạng chung bị đọa vào ác đạo. Dùng Chơn ngôn này gia trì vào trong đất cát thật sạch cho đủ 108 biến rồi tán rải trên thi hài của vong nhơn hoặc trên mồ mả họ. Vong nhơn kia nếu ở địa ngục, ngạ quỷ, tu la, súc sanh … Nhờ oai lực gia trì của Chơn ngôn, nhờ sức thần thông của chú lực, lúc bấy giờ liền được ánh hào quang của chư Phật rọi vào thân và trừ được các quả báo, xả thân khổ sở, vãng sanh về nước Cực Lạc tây phương Liên hoa hóa sanh, thẳng đến thành Phật không còn bị đọa lạc.
Chơn ngôn: Án A Mộ Già Vĩ Lô Tả Nẵng Ma Hạ Mẫu Nại Ra. Mạ Nỉ Bát Nạp Mạ Nhập Phạ Ra Bát Ra Mạt Ða Dã Hồng.
PHƯƠNG PHÁP TÁN SA

Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật.

ÐẠI BẢO QUẢNG BÁT LẦU CÁT
THIỆN TRỤ BÍ MẬT ÐÀRANI
Nẵng Mồ Tát Phạ Ðát Tha Nghiệt Ða Nẫm Án Vĩ Bổ Lã Nghiệt Bệ Mạ Nĩ Bát ra Bệ Ðát Tha Ða Nễ Nại Xả Nỉnh Ma Nĩ Ma Nĩ Tô Bát ra Bệ Vĩ Ma Lê Ta Nghiệt Ra Nghiễm Tỷ Lệ Hồng Hồng Nhập phạ Lã Nhập Phạ Lã Một Ðà Vĩ Lô Chỉ Ðế Hủng Hế dạ Ðịa Sắc sỉ Ða Nghiệt Bệ Ta phạ Ha.
Thần chú này viết chữ Phạn trên chuông, trên bảng, trống, trên tràng phan, trên vách tường. Viết trên giấy, vải đeo mang trong thân, viết trên áo mặc vào thân, hoặc đọc hay tụng các chúng hữu tình nghe tiếng, nghe danh liền được tiêu trừ bao tội chướng, ngủ thức được yên ổn thân tâm, không loạn động. Các chúng sanh mắt thấy, tai nghe, thân chạm xúc đều được tiêu tội đắc phước. Ai thường trì, đọc,tụng, thân hiện tại không bị các bịnh khổ, khi lâm chung được sanh về các nước Phật.

THẤT PHẬT CÂU CHI PHẬT MẪU TÂM
ÐẠI CHUẨN ÐỀ ÐÀ RA NI PHÁP

Ðời đường, Ngài Thiện Vô Úy
phụng chiếu dịch Ðộc Bộ biệt hành
Nam Ma Táp Ða Nẫm, Tam Miệu Tam Bột Ðà Câu Chi Nẫm, Ðát Nễ Dã Tha: Úm - Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề Ta Phạ Ha
Tổng nhiếp 25 bộ đại mạn trà la ni ấn.
Lấy 2 ngón tay, ngón vô danh, ngón tay út, tréo với nhau lại bên trong lòng bàn tay, hai ngón tay giữa thì đứng thẳng, hai ngón tay trỏ co vịn vào tiết thứ nhất của hai ngón tay giữa, hai ngón tay cái nắm tiết giữa của ngón vô danh bên trái và bên mặt. Nếu có triệu thỉnh, đưa qua đưa lại 2 đầu ngón tay trỏ.
Phật dạy: "Thần chú này có công năng diệt tất cả những tội nặng như tội ngũ nghịch, và tội thập ác, thành tựu tất cả bạch pháp. Trì giới đầy đủ thanh khiết mau chứng Bồ Đề.
Nếu người tại gia không thể đoạn dứt vợ con, rượu thịt, chỉ y pháp của ta (Phật) trì tụng đều được thành tựu".
Phật dạy: "Nếu muốn cầu thành tựu, trước phải y Đàn pháp. — đây không đồng như các bộ khác, phải rộng tu cúng dường, cuốc đất thoa hương, mới kiến lập được đạo tràng. Chỉ lấy một cái kính soi mặt mới chưa từng dùng, để trước tượng Phật, vào đêm tối rằm, tháng nào cũng được, tùy sức trang nghiêm cúng dường, xông an tức hương, và nước tịnh thủy, trước phải tịnh tâm tuyệt dứt tư duy tạp niệm. Nhiên hậu kiết ấn tụng chú, chú vào trong Kính Đàn 108 biến rồi lấy kính bỏ vào trong hộp hay đãy vải mới. Thường giữ gìn tùy thân. Sau này mỗi khi muốn trì niệm chỉ lấy kính này, để trước mặt kiết ấn tụng chú, y Kính Đàn tức được thành tựu.
Phật dạy: "Muốn trì chú này, phải tối ngày rằm, tắm rửa sạch sẽ, mặc toàn y phục mới, mặt hướng về Đông phương ngồi kiết bán già, thân thật ngay thẳng, để kính trước mặt, tùy sức có các vật hương, hoa, nước tịnh thủy, trước phải tịnh tâm, tuyệt dứt tư duy, nhiên hậu kiết ấn để ngang ngực, tụng chú này 108 biến. Tụng trì chú này thời có công năng khiến chúng sanh thọ mạng ngắn ngủi được trở lại tăng tuổi thọ. Bệnh già ma la tật là bệnh nan y còn được trừ lành, huống gì các bệnh khác mà không được lành thì thật là vô lý. Phật dạy: "Nếu người một lòng tuyệt dứt tạp niệm, tụng mãn 20 vạn biến, 40 vạn biến, 60 vạn biến, cầu những pháp thế gian hay xuất thế gian đều được vừa lòng toại ý."
Phật dạy: "Nếu người ở tại gia, bình thường mỗi buổi sáng mai là thời chưa ăn ngũ tân và đồ huyết nhục, dùng nước tịnh thủy súc miệng sạch sẽ, mặt hướng về phương Đông, đối kính đàn kiết ấn, tụng thần chú 108 biến, cứ thường nhật như vậy, cho mãn 40 ngày không dứt, sẽ có việc lành tốt đẹp, đức Chuẩn Đề Bồ Tát khiến 2 vị thánh thường theo người ấy, tâm người ấy mong muốn điều chi, đều ở 2 bên tai mách nói đầy đủ.
Phật dạy: "Có chúng sanh yểu mạng nhiều bệnh hoạn, tối ngày rằm mỗi tháng, xông an tức hương, kiết ấn tụng chú 108 biến, những loài ma qủy thất tâm (điên loạn), loài dã hồ ác bịnh, đều hiện bổn thân nơi trong Kính Đàn, giết hay tha tùy ý không dám tái đến, tăng thọ vô lượng." Phật dạy: "Nếu người không có tướng phước đức, cầu quan không toại ý, hãy đối Kính Đàn mà thường tụng chú này, thì phước đức quan vị quyết được vừa lòng".
Phật dạy: "Nếu người muốn ra làm việc chi, trước nên nghĩ tưởng thánh tượng Chuẩn Đề thân ngồi ngay thẳng, chánh niệm chú này mãn đủ 7 biến, trong chừng giây lát, tự nhiên lay động, tức biết công việc mình làm ra sẽ thành tựu tốt. Nếu thân cứng đơ ngã trước ngã sau, tức biết không thành, chắc có tai nạn".
Phật dạy: "Nếu muốn biết pháp này thành hay không thành, phải y pháp tụng chú, mãn đủ 7 ngày, liền trong chiêm bao mộng thấy Phật và Bồ Tát ban cho hoa trái, miệng mửa ra vật đen, sau lại ăn vật trắng, tức biết thành tựu.
Phật dạy: "Đà La Ni này có thế lực rất lớn, chí tâm tụng trì quyết phải tự chứng. Có công năng khiến cây khô phát sanh hoa, trái, huống gì nhũng quả báo ở thế gian. Nếu thường trì tụng thì thủy, hỏa, đao binh, oán gia độc dược đều không hại. Nếu người bị quỷ thần làm bịnh chết, kiết ấn tụng chú này 7 biến, lấy ấn, ấn nơi tại ngực đều khiến sống trở lại. Gia đình, nhà cửa ở không yên, bị quỷ thần gây họa, trì chú, chú vào bốn hòn đất, đem trấn 4 phía thì liền đi.
Phật dạy: "Nếu người trong lục thân không hòa, không nghĩ tình thương nhau, nên y pháp tụng chú hướng về lục thân thì được hòa hợp nghe tên thấy thân đều được hoan hỷ. Phàm cầu việc gì cũng vừa lòng toại tâm. Huống người trai giới đầy đủ, nhất tâm thanh tịnh y pháp tụng trì, thì nhất định chuyển thân này tức chứng Bồ Đề có được công lực.
Phật dạy: "Nếu người muốn trường sanh, đến nơi tháp cổ xưa, hoặc trong núi sâu, hoặc nơi phòng tịnh thất, y kính làm Đàn Pháp, tụng thần chú này mãn 20 vạn biến, 40 vạn biến, 60 vạn biến, dùng hoa sen xanh trộn với hương an tức thiêu đốt cúng dường, khi ngủ mộng thấy trong mộng ăn thuốc tiên hoặc trao cho tiên phương, hoặc trong kính đàn phóng hào quang có thuốc tùy ý lấy ăn, tức được trường sanh."
Phật dạy: "Nếu y pháp tụng trì, nhất tâm tinh cần, thì công lực nói không thể hết. Kính Đàn pháp này không được cho người khác thấy nếu thấy thì không tốt, mất linh nghiệm, không được thành tựu viên mãn. Pháp này cần phải bí mật, không được tuyên nói, hãy tự mình chứng biết. Tùy ý mong cầu quyết được thành tựu thọ hưởng được cái vui nhiệm mầu thù thắng".

bệnh do tâm sanh bệnh do tâm diệt . tướng do tâm sanh tướng do tâm diệt
nguyên nhân bệnh là do nghiệp báo đời trước gặp duyên của kiếp này đúng thời thời sanh bệnh chẳng hạn ông kia nằm đắp mền mà cũng bị bệnh còn ông già kia nằm ngoài trời ở trần ngũ mà khỏe re . thế thì kết luận ra sao
thần chú giúp các vị với sự thành tâm triệt để biến tâm ô trượt thành tâm thanh tịnh
theo HD nghĩ là sư Huynh hùng sơn muốn nói rằng mật tông không có sự cầu mong dục lạc mà mật tông chỉ giúp người nào muốn cầu giải thoát vì mật chú có gì không làm nổi được nhưng mà nếu ai cũng đến với phật pháp bằng dục lạc thì là đi khác với ý của thích ca xuống trần gian này rồi. cho nên huynh hùng sơn có ý nói Bởi vậy Mật Tông không hề có những bùa phép trị bệnh , hoặc đòi tiền , bắt ghen v.v
trị bệnh đây huynh hùng sơn ám chỉ là đi làm nghề thầy trị bệnh bắt ma bắt quỹ trục hồn cho bùa uống rồi lấy tiền v.v hoặ ai đó thiếu tiền mà không trả đến thầy thầy cho phép thâu kêu người đó trả tiền lại cho rồi cho thầy huê hồng bao nhiêu cũng được hoặc người nào bỏ theo trai theo gái thì đến thầy thầy cho lá bùa bỏ dưới gối thì người đó sẽ quay lại yêu thương cô hay cậu suốt đời . đây là tại hạ suy luận chắc huynh hùng sơn ám chỉ vậy đó không biết có đúng không nếu không đúng thì coi như chủ đề này bàn tiếp nhé .
hoa_dang

Trích dẫn:
Nguyên văn bởi hoa_dang Xem Bài Gởi
bệnh do tâm sanh bệnh do tâm diệt . tướng do tâm sanh tướng do tâm diệt
nguyên nhân bệnh là do nghiệp báo đời trước gặp duyên của kiếp này đúng thời thời sanh bệnh chẳng hạn ông kia nằm đắp mền mà cũng bị bệnh còn ông già kia nằm ngoài trời ở trần ngũ mà khỏe re . thế thì kết luận ra sao
thần chú giúp các vị với sự thành tâm triệt để biến tâm ô trượt thành tâm thanh tịnh
.
Câu "Tướng do tâm sanh, tướng do tâm diệt" của bạn nghe còn tạm được. Nguyên văn của câu này là:

"Hữu tâm vô tướng, tướng tại tâm sanh.
Hữu tướng vô tâm, tướng tòng tâm diệt."

Đó là do người xưa đúc kết kinh nghiệm theo nguyên lý Nhân-Quả mà kết luận như vậy.

Riêng phần đầu ..."bệnh do tâm sanh, bệnh do tâm diệt" ...của bạn thì chỉ đúng một phần thôi. Đó là liên quan đến những ...tâm bệnh như: tương tư, sợ hãi, nhút nhát, v...v... Nếu câu này đúng hoàn toàn thì chắc bạn sẽ không bao giờ phải dùng thuốc hay đi tìm lương y để chữa trị cả, phải không nào? :-) Vì chỉ cần dùng tâm để trị là được rồi đó mà!

Sẵn đây, TV cũng muốn có ý kiến về nhận định của bạn Hùng Sơn và quan điểm của các bạn khác về việc dùng mật tông, hay bùa chú ...v..v... để chữa bệnh.

Trước hết xin nói về nhận định của bạn Hùng Sơn....Những loại bùa trị bệnh đã có cả ngàn năm nay. Nó được dùng rất thông thường, nhưng có linh nghiệm hay không còn tùy thuộc vào người tu luyện và sử dụng nó như thế nào . Bây giờ chúng ta có thuốc Tây, thuốc Bắc rồi, bùa chú mà làm cái gì nữa ! tìm hiểu chơi cho vui thì được, còn cố tình học hỏi để dùng nó cứu nhân độ thế là chuyện . . . khùng !

Bản thân là một người trong lĩnh vực huyền môn, trải nghiệm nhiều, hiểu biết nhiều, và chắc chắn cũng đã chứng kiến hoặc đích thân sử dụng bùa, chú để trị bệnh, nên bây giờ bạn HS đưa ra nhận định như vậy kể ra cũng khá chính xác. Điều làm cho các bạn xôn xao, theo TV chỉ là do hiểu lầm quan điểm và do bạn HS trình bày theo lối trò chuyện thông thường, nên không quan tâm mấy đến việc chu toàn ý tưởng.

Và câu nhận định này cũng có thể được đem ra để trả lời cho chủ đề này của bạn Điện Bà Tây Ninh....NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?

->Những loại bùa trị bệnh đã có cả ngàn năm nay. Nó được dùng rất thông thường, nhưng có linh nghiệm hay không còn tùy thuộc vào người tu luyện và sử dụng nó như thế nào

Tuy rằng câu hỏi là Mật Tông, và câu trả lời chỉ là...bùa, chú, nhưng có lẽ ở đây ta chỉ bàn về việc dùng các bùa (yantra), chân ngôn, chú ngữ (Mantra) của Mật Tông để chữa trị nên xem ra cũng tương đối phù hợp.

Có điều ngoài những Chân Ngôn đích truyền của Mật Tông ra, bên ngoài XH còn hàng loạt những loại bùa, phép dùng vào lĩnh vực chữa bệnh khác, vốn có nguồn gốc từ hệ phái Ấn Độ Giáo xa xưa.

Chưa kể trong số đó thì một phần lớn là ....lang băm, mượn hình thức tôn giáo, bùa phép để gạt người.

Nói nhận định của bạn HS là ...khá chính xác, vì 2 lẽ sau:

1/ Nếu các bạn theo quan điểm bùa, chú của Mật Tông có thể chữa bệnh thì suy cho cùng, Mật Tông cũng xuất thân từ Phật giáo mà ra.

Thế nhưng từ thời đức Phật còn tại thế, Ngài vẫn thường xuyên nhận lãnh sự cúng dường từ bá tánh. Sự cúng dường đó có 4 loại mà Phật gọi là tứ vật dụng: Chỗ ở, thức ăn, y phục và ...thuốc trị bệnh.

Nếu có thể dùng bùa, chú để chữa bệnh thì chắc hẳn Ngài và các đệ tử không cần phải xin thuốc trị bệnh làm gì, phải không? Và bản thân đức Phật cũng vì mắc chứng tiêu chảy mà phải qua đời giữa rừng.

Nên hiểu rằng Bệnh là một trong 4 cái khổ (Sinh-Bệnh-Lão-Tử) luôn tồn tại với thế gian. Vì nó mà đức Phật phải ra đi tìm đường thoát khổ. Muốn thoát khổ thì phải thoát khỏi Sinh Tử Luân Hồi. Vì vậy, hễ còn trong vòng sinh tử luân hồi, hay nói cách khác, còn tồn tại ở cái hiện tướng ...con người...thì dứt khoát phải ...có bệnh. Và muốn hết bệnh phải theo nguyên lý của thế gian mà trị. Hay còn gọi là điều hòa Âm-Dương theo Đông y.

Thân do tứ đại (đất-nước-gió-lửa) hình thành, thì khi suy yếu, khiếm khuyết, phải dùng tứ đại mà bổ sung thông qua hình thức thuốc trị bệnh. Đó là điều tất yếu mà ngay cả đức Phật cũng phải thừa nhận. Vì vậy nên dù với quan điểm tứ đại giai không, Ngài vẫn cho phép các đệ tử được thọ lãnh tứ vật dụng của bá tánh. Do vậy, việc dùng Chân Ngôn, Mật Chú để chữa bệnh là không phù hợp với Phật giáo. Nếu không muốn nói là ...phi lý.

2/ Theo Ấn Độ Giáo thì người ta dựa theo bộ kinh Vệ Đà (vedas), một bộ kinh bách khoa, lâu đời mà bản thân đức Phật lúc nhỏ còn phải học theo.

Tuy nhiên, theo nghành dược liệu học thì kinh văn tóm lược như sau:

Con người được khỏe mạnh là nhờ vào sự hài hòa của ba yếu tố chính:

- Khí (Vata: nghĩa gốc của chữ Vata là gió)
- Nhiệt (Pitta: nghĩa gốc của chữ Pitta là mật.)
- Nước (Kapha: nghĩa gốc là đờm, dãi)

Hay nói theo Phật là....Gió, Lửa, và Nước

Khí: là nói đến sự lưu thông khí huyết nuôi não và các tế bào. Nói cách khác là ...hô hấp tốt.

Nhiệt: là nói đến năng lượng được sinh ra qua quá trình tiêu hóa. Nói nôm na là ...tiêu hóa tốt.

Nước: là nói đến tính năng lưu chuyển, vận động tốt của các chất lỏng, chất dịch, nhầy trong cơ thể. Giúp cho các chất dinh dưỡng được hấp thụ tốt. Cơ thể tráng kiện.

Từ chỗ hiểu biết như vậy nên các thầy thuốc biết tùy lúc mà sử dụng phương pháp điều trị. Lượng định dùng thuốc ra sao.

Từ đây cho thấy họ vẫn không thừa nhận biện pháp dùng bùa, chú để chữa bệnh. Để minh chứng, TV mời các bạn xem qua tượng vị Thần Y Dhanvantari dưới đây:



Qua hình ta thấy Thần Y này không bắt ấn, phù phép gì cả mà cả 4 tay đều cầm những thứ liên quan đến lang trung (sách y, dược liệu, bình đựng dược liệu, và dụng cụ chế biến dược liệu)

Tiếp theo đây là Ngài Acharya Nāgārjuna (Long Thọ) của Phật giáo mà bạn Dienbatn có đề cập trong Mật Tông, tuy tay thủ ấn (chuyển pháp luân), nhưng Ngài nổi tiếng là một nhà thảo dược học. Ngài đã chế ra rất nhiều thứ thuốc quý để giúp trị bệnh cho nhân loại.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 768x1024 and weights 464KB.


Ta thấy trong hình vẫn là bộ sách y và cái bình đựng dược liệu. Cùng với con rắn là biểu tượng của nghành y ngày nay.

Qua đó, ta thấy được cả Phật giáo, và Ấn Độ giáo đều phải dùng ...dược liệu để trị bệnh. Điều này chứng tỏ họ không dùng bùa, chú trong việc chữa bệnh.

Tuy nhiên, TV vẫn không nói nhận định của bạn HS là chính xác hoàn toàn bởi vì thực sự cả Phật giáo và Ấn giáo đều dùng kinh, chú v...v...để trừ ...tà đã nhập vào cơ thể khiến cho người ta phát bệnh. Và dùng giáo pháp để tẩy gội tâm bệnh cho chúng sinh, giúp cho ta vơi bớt đi nỗi khổ của bệnh mang lại.

Một trong những phương pháp trừ tà, trị bệnh là lễ ...Quán Đính mà người ta thường gọi là Quán Đỉnh hay Quán Đảnh.

Quán 灌 là rót, tưới, xối v..v...
Đính 頂 là đỉnh đầu

Quán Đính là một hình thức Phật thuyết pháp khai ngộ cho đệ tử như thể dùng Pháp thủy để tẩy gội chân tâm.

Về sau người ta dùng theo nghĩa đen là vừa đọc kinh vừa xối nước vào đỉnh đầu để trục ma, khai trí cho người thụ lễ. Tục này ngày nay còn lưu truyền ở Cam pu chia và Thái Lan.

Tóm lại thì bùa, chú, kinh, v...v... có thể dùng để trị được những bệnh do tâm loạn, tà nhập hoặc đôi khi còn tác động vào ý chí mà khiến cho những tật bệnh thông thường cũng được thuyên giảm hoặc bình phục.

...Thân ái,
-Thiên Vương-
Về Đầu Trang Go down
hophap
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 68
Số lần cảm ơn : 22
Điểm Cống Hiến : 100002953
Tham gia : 05/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?   13/2/2010, 14:43

Kính chào các Quý sư huynh và đạo hữu !

Đây là một topic rất HOT và rất đáng trân trọng. NHDV xin hoan hỷ tán thán tất cả các công đức của quý vị. Chúc các quý vị được nhiều trợ duyên lành, trọn thành Phật đạo.

Nhân đây NHDV xin đưa quan điểm của Đức Dailai Lama 14 về việc này để các quý vị tham khảo:


1. Nếu bạn đang tìm kiếm sự đầy đủ tạm thời về thực phẩm và áo quần cho chính bạn và cho những người khác, chỉ tìm những mục tiêu tạm thời của cuộc đời này, tránh bệnh tật tạm thời, đạt đến một sự dư dật tài sản hay một danh tiếng tạm thời hay nhiều tiền, chắc chắn có những biện pháp cho sự thành đạt tạm thời về thịnh vượng, cho sự làm dịu tạm thời bệnh tật và đau đớn, và cho sự có được danh tiếng tạm thời. Bạn có thể tham lam và lừa dối, đôi khi chân thật và có lúc nói dối, khi thì tranh đấu khi thì không. Đấy là những biện pháp tạm thời, và ngày nay nhiều người đang tiến hành theo cách ấy. Nếu đó là ý định của bạn, bạn không cần Đại Diễn Giải của Mật thừa của Tsongkapa.

2. Nếu Mật thừa được thực hành công khai và được dùng cho mục đích thương mại, bấy giờ những tai nạn sẽ xảy ra cho người thực hành ấy, ngay cả lấy đi mạng sống của người ấy, và những hoàn cảnh bất lợi cho sự phát sanh kinh nghiệm và những chứng ngộ tâm linh trong dòng sống của nó sẽ xảy ra. Với những cuốn sách loại khác, không trầm trọng lắm nếu có một lỗi lầm, nhưng với những cuốn sách Mật thừa thì rất nghiêm trọng khi sai lầm trong giải thích hay trong dịch thuật. Hơn nữa, nếu mắc phải lỗi lầm loan báo điều bí mật cho người chưa đủ chín chắn, thì có nguy hiểm là thay vì giúp đỡ, nó sẽ gây tai hại. Có nhiều câu chuyện rằng có những người bắt đầu làm những chuyên luận về Mật thừa nhưng đã không thể sống trọn vẹn đời họ và những người mà sự tiến bộ bị hỗn lại vì viết một cuốn sách về Mật thừa.

3. Đặc biệt ngày nay, Mật thừa đã trở thành một chủ đề được lưu tâm, nhưng chỉ là một mục tiêu để tìm hiểu. Từ quan điểm của một hành giả, nó hình như đã trở thành một đối tượng của tiêu khiển và đã đạt đến mức mà người ta không thể biết nó giúp đỡ hay làm hại. Nhiều bí mật đã được phổ biến ; nhiều người diễn thuyết đã giải thích tantra, và nhiều cuốn sách được dịch. Dù Mật thừa được hoàn thành trong bí mật, nhiều cuốn sách đã xuất hiện, chúng là một pha trộn của chân và giả.

4. Người ta khôn ngoan nếu dù muốn cái tốt nhất, người ta vẫn xem xét cái tốt nhất có thích hợp không. Những người Tây Tạng muốn cái tốt nhất và cho rằng họ có thể thực hành cái tốt nhất. Kết quả là, Mật thừa nổi tiếng ở Tây Tạng, nhưng cách thực hành thì không giống như sự thực hành đúng cách và ẩn dấu của những người Ấn Độ và như thế chúng ta không thể hoàn thành những thành tựu của Mật thừa như được diễn tả trong những tantra ; dấu ấn của sự thực hành Mật thừa đã không xuất hiện. Như có nói trong truyền thống truyền miệng của Tây Tạng, ‘Một người Ấn Độ thực hành một hóa thần và thành tựu một trăm ; một người Tây Tạng thực hành một trăm hóa thần và không thành tựu ngay cả một.’

5. Ở Ấn Độ một vị guru đầy đủ thẩm quyền chỉ dạy những giáo lý Mật thừa cho vài đệ tử, nghiệp và những nguyện vọng của họ phải phù hợp và ngài biết về họ rõ ràng. Những guru truyền trực tiếp cho các đệ tử, và khi họ có khả năng thực hành với nhiều nỗ lực những giáo lý đã nhận được, những kinh nghiệm và chứng ngộ tâm linh tương ứng sẽ phát sanh.

6. Viết một cuốn sách về Mật Chú thừa không giống với viết một cuốn sách về Trung Quán hay về những lời dạy những con đường bao gồm trong kinh Bát Nhã Ba la mật. Những chủ đề của Mật Chú thừa không phải để trưng bày như món hàng mà để thực hành một cách bí mật. Nếu không thế, thì thay vì giúp đỡ, có nguy cơ làm hại nhiều người phát sanh hiểu lầm. Ví dụ, có người không thể thực hành tổng quát bốn tantra và đặc biệt Tantra Yoga Tối Thượng lại chỉ muốn hành Mật chú. Một số người, dù họ có lòng tin, không thật sự biết rõ ràng những trình bày Phật giáo về cái thấy, thiền định và hành xử. Những người khác biết những chủ đề này rõ ràng nhưng không thể giữ những lời nguyện, duy trì đức tin và dũng mãnh trong tâm thức. Không có sự hiểu biết này và khả năng này, thực hành con đường Mật chú là không thể.

Trích dẫn từ thuvienhoasen.org
http://www.thuvienhoasen.org/matthua...am%20sang%20to

NHDV


Kính bạn Thiên Vương cùng các Huynh Đệ Tỷ Muội !
Nhuthi06 tôi xin mượn đoạn văn của bạn TV để bàn thêm một chút .

Câu "Tướng do tâm sanh, tướng do tâm diệt" của bạn nghe còn tạm được. Nguyên văn của câu này là:

"Hữu tâm vô tướng, tướng tại tâm sanh.
Hữu tướng vô tâm, tướng tòng tâm diệt."

Đó là do người xưa đúc kết kinh nghiệm theo nguyên lý Nhân-Quả mà kết luận như vậy.

Riêng phần đầu ..."bệnh do tâm sanh, bệnh do tâm diệt" ...của bạn thì chỉ đúng một phần thôi. Đó là liên quan đến những ...tâm bệnh như: tương tư, sợ hãi, nhút nhát, v...v... Nếu câu này đúng hoàn toàn thì chắc bạn sẽ không bao giờ phải dùng thuốc hay đi tìm lương y để chữa trị cả, phải không nào? :-) Vì chỉ cần dùng tâm để trị là được rồi đó mà!

Câu:"Hữu tâm vô tướng, tướng tại tâm sanh.
Hữu tướng vô tâm, tướng tòng tâm diệt."
Bạn TV cho rằng do người xưa đúc kết theo nguyên lý nhân- quả , tôi thì hiểu theo cách hơi khác một chút :
Lục tổ Huệ Năng khi ngộ đạo đã nói : "không ngờ Tâm ta năng sanh ra muôn pháp , không ngờ Tâm ta có đầy đủ muôn pháp , không ngờ Tâm ta tỏ thấu muôn pháp , không ngờ Tâm ta bất nhiễm với các pháp". So với câu trên không sai biệt là mấy , nhà Phật thường dùng câu ngắn gọn hơn là :" Tướng tùy Tâm sanh , Tướng tùy Tâm diệt ". Pháp mà Lục tổ muốn nói ở đây chính là tất cả các tướng của thế gian , đều do Tâm lưu xuất ra cả . Như vậy tướng giàu tướng nghèo , tướng sang tướng hèn , tướng đau ốm bệnh tật , tướng khỏe mạnh cho đến tất cả các tướng hữu hình đều do Tâm sanh ra . Vậy thì để chữa được tất cả các tướng của thế gian chúng ta phải thông được Tâm là gì và sông với tinh thần của cái Tâm ấy .
Cái Tâm mà chúng ta thường hiểu như những suy nghĩ , tư duy , những lo toan tính toán , những lo âu phiền muộn ... chỉ là những dòng Tâm thức chứ không phải là Tâm mà Tổ hoặc những người xưa muốn nói đến . Cái họ muốn nói đến chính là cái Tâm Chân thật , hay còn gọi là Chơn Tâm , là cái sanh ra muôn pháp vậy . Nó sanh ra muôn pháp nhưng nó vẫn là nó , là cái khả năng tạo ra tất cả mọi thứ , từ đất đai nhà cửa đến núi sông địa đại , từ con người ,chim muông thú dữ đến cây cỏ đến tất tất cả vũ trụ hay thế giới này , cái khả năng ấy gọi là Chơn Tâm , còn tất tất cả những thứ nó đã tạo ra gọi là tướng , pháp tướng , hay còn gọi là Vọng Tâm . Vì sao gọi là vọng , vì chúng ta toàn sống với những cái mà chúng ta tạo ra chứ không sống với cái khả năng ấy . Làm được cái gì , tu được tới đâu , có được những kiến thức như thế này thế nọ , làm được Ông nọ Bà kia ... là chúng ta đắm mình vào đó ,cho nó là mình , là ta , mà không biết được rằng cái khả năng làm ra những thứ ấy mới là mình , là Chơn mình , chơn ta hay chơn tâm vậy. Vì đắm mình trong những cái vọng ấy , những tướng thế gian ấy từ nhiều đời nhiều kiếp nên chúng ta bị dính khắn với nó , bị ràng buộc bởi nó , bị lệ thuộc nó , làm nô lệ cho nó nên chúng ta mãi mãi khổ đau triền miên không bao giờ dứt. Thân bệnh hay tâm bệnh cũng đều từ chỗ này mà ra cả , thế nên để đối trị được thân hay tâm bệnh chúng ta cần thấu hiểu cái Chơn ta , Chơn tâm , hay Tổ gọi là tỏ thấu các pháp và luôn sống với tinh thần ấy thì tự nhiên bệnh sẽ hết , còn gọi là ngộ và nhập Phật tri kiến vậy .

Vài hàng lạm bàn chưa diễn đạt hết ý !

Thân mến !

Kính chào các Quý sư huynh và đạo hữu !

Hôm nay, do nhân duyên, NHDV xin được tâm sự vài điều về Chân Đế và Tục đế trong topic này:

Nói chung Kinh, Luật, Luận đều nằm ở hoặc là Chân đế, hoặc là Tục đế.

Người nói Chân Đế cũng đúng và người nói Tục Đế cũng đúng. Nhưng hai người sẽ tranh luận với nhau không bao giờ dứt. Như trong topic này, sư huynh SG42 hay bài của Dalai Lama 14 nói về Chân Đế. Còn bài của sư huynh DienBat nói về Tục Đế.

Chân Đế là lìa đối đãi, sinh diệt, lìa bỏ chấp có và chấp không, trở về chân tâm diệu hữu không sinh không diệt. Như bài của huynh NhuThi_06 có nói về câu của Lục Tổ đó là vạn pháp từ một tâm này mà ra, có nhiều cách gọi Tâm đó là Chân Tâm, Chân Như, Phật Tánh....Trong các Kinh Phật có rất nhiều kinh thuyết về Chân Đế như Kinh Kim Cương, Kinh Bát Nhã Ba La Mật, Kinh Viên Giác, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Pháp Bảo Đàn...

Tục Đế là còn sống trong Nhị nguyên, còn đối đãi, có tốt - có xấu, có Phật - có chúng sanh, có được - có mất, có chứng - có đắc...Nền tảng của Tục đế là còn sống trong vô minh, phiền não nên thấy có đau khổ và có sung sướng, có khỏe mạnh và có bệnh tật. Có rất nhiều Kinh Phật thuyết về Tục Đế như Kinh Nhân Quả Ba Đời, Kinh Pháp Cú, Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Đại Bát Nhân Giác, Kinh Dược Sư...

Bản chất của chúng sanh là vô minh, phiền não nên Đức Phật thuyết Tục Đế trước và sau đó mới thuyết Chân đế. Vì thế Kinh Phật nói Vô Minh là cha mẹ của chư Phật. Không có Vô Minh, Phiền Não thì chúng ta ai chịu tu ? Ngay cả Đức Phật cũng phiền não bởi cảnh sinh, cảnh bệnh, cảnh tử rồi mới quyết chí đi tu cầu đạo giải thoát. Vì thế các kinh Phật thuyết về Tục đế rất quan trọng. Người mới tu mà chỉ học các kinh nói về Chân Đế thì rất dễ chấp Lý bỏ Sự, chẳng thể trọn thành Phật đạo, thậm chí có người quá đáng lên còn bắt chiếc lỗi diễn của các thiền sư phỉ báng cả Phật, Pháp, Tăng. Vì thế Tục Đế rất cơ bản, rất quan trọng, nó là nền tảng của người tu hành. Người tu ở Tục Đế mà không chịu tiến lên tham vấn kinh sách về Chân Đế thì ham làm công quả, phước đức, vẫn trong vòng đối đãi, luân hồi sinh tử, không thể rốt ráo.

Như vậy học pháp môn hay nghiên cứu kinh điển phải hết sức thận trọng và chú ý trong việc áp dụng vào cuộc sống hàng ngày. Pháp môn tu Tịnh Độ là áp dụng căn cơ cho đại chúng, số đông những người nặng về quan niệm Tục Đế. Cõi Ta Bà là đau khổ, cõi Tây Phương là cực lạc, tu trên Nhị nguyên đối đãi có tốt có xấu. Đây là pháp môn tu ngay trên những thói quen của chúng sanh để rồi từ bùn, hoa sen được mọc ra. Đây cũng là pháp tuỳ bệnh cho thuốc của Đức Phật.

Pháp môn tu Mật Tông thực chất là pháp tu ngay trên giáo lý về Chân Đế. Điều này đòi hỏi người tu không những phải nắm vững hiểu biết và thực hành của giáo lý Tục Đế mà còn phải thực hành ngay giáo lý về Chân Đế, thực hành Bồ tát đạo về sáu pháp Ba La Mật, con đường của Bồ tát , còn đường của các Hoá Thần (Yidam) mà bản thân được quán đảnh và nương theo, bất kể người đó đang thực hành 1 tan tra hay 4 tan tra hay không. Có hiểu biết như vậy thì mới an thái tự tại, độ mình, độ người, trọn thành Phật đạo.

Vài lời thô thiển, nếu có sai sót nào, xin được mọi người bổ khuyết !

Trân trọng !
NHDV.

Có câu :" Cứu 1 mạng người bằng xây 1 ngôi chùa". Cho nên ngay một người bình thường cũng nên làm rồi huống gì là người tu học.

Tuy nhiên theo suy nghĩ của Ngoan Đồng thì người học Mật Tông (hoặc các pháp môn khác), dù thực sự có khả năng chữa bệnh thì cũng ko nên làm.
Mỗi người sinh ra đều đã có mang quả nghiệp. Bệnh chính là quả của nghiệp từ kiếp trước hay ngay trong kiếp này.
Bệnh thì cứ uống thuốc, nếu trả xong nghiệp thì bệnh tự hết.
Còn nghiệp nặng quá thì đành phải..."hi sanh". Ta phải để cho họ trả nghiệp
Cứu người là ta ngăn cản người trả nợ nghiệp, cho nên đôi lúc là thành hại người, kết quả lại là tạo thêm nghiệp cho mình.

Cho nên người tu học chỉ nên giảng giải, hướng dẫn khuyên người bệnh tu học, giúp họ thấu hiểu chân lý của việc tu học.
Nếu có cơ duyên thì truyền đạt kinh nghiệm tu học của mình cho họ.
Việc tu học giúp họ vượt qua căn bệnh như 1 liệu pháp tâm lý, và giúp họ có sự chuẩn bị nếu như họ ko còn hy vọng.
Nên thay vì ta dùng công năng hoặc gì...gì đó mà ta có thể chữa bệnh cho họ thì ta hãy giúp họ thức tỉnh, đạt đến sự chứng ngộ.


Sau khi thành Đạo (theo N.Đồng nghĩ) Đức Phật hoàn toàn có khả năng chữa bệnh, và nhiều quyền năng khác.
Nhưng Ngài cũng không bao giờ tự gọi là “ Đấng Cứu Thế” , có quyền năng cứu vớt kẻ khác bằng chính sự cứu rỗi của mình .
Ngài thiết tha kêu gọi những ai hoan hỉ bước theo dấu chân Ngài, không nên ỷ lại nơi người khác mà phải tự mình giải thoát lấy mình bời vì cả hai , trong sạch và bợn nhơ , cũng đều tuỳ thuộc nơi chính mình .
"Ta không thể trực tiếp làm cho ai trong sạch hay ô nhiễm ". – kinh Pháp Cú câu 165
Đức Phật đã dạy minh bạch rằng :
“ Các con phải tự mình nỗ lực , các Đấng Như Lai chỉ là Đạo Sư”. - kinh Pháp Cú câu 276
Đức Phật chỉ vạch cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nương theo đó để tự giải thoát ra khỏi mọi khổ đau sanh tử và thành tựu mục tiêu cứu cánh .
Đi trên con đường và theo đúng phương pháp là phần của người đệ tử chân thành muốn thoát khỏi những bất hạnh của đời sống .
Lão_Ngoan_Đồng

Trích dẫn:
Nguyên văn bởi nhuthi06 Xem Bài Gởi
Kính bạn Thiên Vương cùng các Huynh Đệ Tỷ Muội !
Nhuthi06 tôi xin mượn đoạn văn của bạn TV để bàn thêm một chút .

Câu "Tướng do tâm sanh, tướng do tâm diệt" của bạn nghe còn tạm được. Nguyên văn của câu này là:

"Hữu tâm vô tướng, tướng tại tâm sanh.
Hữu tướng vô tâm, tướng tòng tâm diệt."

Đó là do người xưa đúc kết kinh nghiệm theo nguyên lý Nhân-Quả mà kết luận như vậy.

Riêng phần đầu ..."bệnh do tâm sanh, bệnh do tâm diệt" ...của bạn thì chỉ đúng một phần thôi. Đó là liên quan đến những ...tâm bệnh như: tương tư, sợ hãi, nhút nhát, v...v... Nếu câu này đúng hoàn toàn thì chắc bạn sẽ không bao giờ phải dùng thuốc hay đi tìm lương y để chữa trị cả, phải không nào? :-) Vì chỉ cần dùng tâm để trị là được rồi đó mà!

Câu:"Hữu tâm vô tướng, tướng tại tâm sanh.
Hữu tướng vô tâm, tướng tòng tâm diệt."
Bạn TV cho rằng do người xưa đúc kết theo nguyên lý nhân- quả , tôi thì hiểu theo cách hơi khác một chút :
Lục tổ Huệ Năng khi ngộ đạo đã nói : "không ngờ Tâm ta năng sanh ra muôn pháp , không ngờ Tâm ta có đầy đủ muôn pháp , không ngờ Tâm ta tỏ thấu muôn pháp , không ngờ Tâm ta bất nhiễm với các pháp". So với câu trên không sai biệt là mấy , nhà Phật thường dùng câu ngắn gọn hơn là :" Tướng tùy Tâm sanh , Tướng tùy Tâm diệt ". Pháp mà Lục tổ muốn nói ở đây chính là tất cả các tướng của thế gian , đều do Tâm lưu xuất ra cả . Như vậy tướng giàu tướng nghèo , tướng sang tướng hèn , tướng đau ốm bệnh tật , tướng khỏe mạnh cho đến tất cả các tướng hữu hình đều do Tâm sanh ra . Vậy thì để chữa được tất cả các tướng của thế gian chúng ta phải thông được Tâm là gì và sông với tinh thần của cái Tâm ấy .
Cái Tâm mà chúng ta thường hiểu như những suy nghĩ , tư duy , những lo toan tính toán , những lo âu phiền muộn ... chỉ là những dòng Tâm thức chứ không phải là Tâm mà Tổ hoặc những người xưa muốn nói đến . Cái họ muốn nói đến chính là cái Tâm Chân thật , hay còn gọi là Chơn Tâm , là cái sanh ra muôn pháp vậy . Nó sanh ra muôn pháp nhưng nó vẫn là nó , là cái khả năng tạo ra tất cả mọi thứ , từ đất đai nhà cửa đến núi sông địa đại , từ con người ,chim muông thú dữ đến cây cỏ đến tất tất cả vũ trụ hay thế giới này , cái khả năng ấy gọi là Chơn Tâm , còn tất tất cả những thứ nó đã tạo ra gọi là tướng , pháp tướng , hay còn gọi là Vọng Tâm . Vì sao gọi là vọng , vì chúng ta toàn sống với những cái mà chúng ta tạo ra chứ không sống với cái khả năng ấy . Làm được cái gì , tu được tới đâu , có được những kiến thức như thế này thế nọ , làm được Ông nọ Bà kia ... là chúng ta đắm mình vào đó ,cho nó là mình , là ta , mà không biết được rằng cái khả năng làm ra những thứ ấy mới là mình , là Chơn mình , chơn ta hay chơn tâm vậy. Vì đắm mình trong những cái vọng ấy , những tướng thế gian ấy từ nhiều đời nhiều kiếp nên chúng ta bị dính khắn với nó , bị ràng buộc bởi nó , bị lệ thuộc nó , làm nô lệ cho nó nên chúng ta mãi mãi khổ đau triền miên không bao giờ dứt. Thân bệnh hay tâm bệnh cũng đều từ chỗ này mà ra cả , thế nên để đối trị được thân hay tâm bệnh chúng ta cần thấu hiểu cái Chơn ta , Chơn tâm , hay Tổ gọi là tỏ thấu các pháp và luôn sống với tinh thần ấy thì tự nhiên bệnh sẽ hết , còn gọi là ngộ và nhập Phật tri kiến vậy .

Vài hàng lạm bàn chưa diễn đạt hết ý !

Thân mến !
Hai câu ...

Hữu Tâm vô Tướng, Tướng tại Tâm sanh
Hữu Tướng vô Tâm, Tướng tòng Tâm diệt

...nghe qua thì ai cũng có thể nhận ra được nó hàm chứa ý nghĩa ít nhiều liên quan tới quan điểm của Phật giáo. Được luận theo Nhân Quả như câu:

Dục tri tiền thế Nhân, kim sinh thụ giả thị.
Dục tri lai thế Quả, kim sinh tác giả thị.

Nghĩa là:

Muốn biết kiếp trước ta đã gieo Nhân gì, thì hãy nhìn vào những gì ta đang được/bị thụ hưởng (tốt, xấu) sẽ biết.

Muốn biết kiếp sau ta sẽ gặp Quả gì, thì hãy xem những việc ta đang làm sẽ biết.

Tuy nhiên 2 câu này được cho là của Ma Y Tướng Sư. Do vậy, thường được các thầy tướng số sử dụng. Vì vậy, họ chỉ suy diễn theo Nhân-Quả ngay trong cuộc sống, có vậy thì bình dân bá tánh mới có thể dễ dàng lãnh hội được. Chứ không bàn theo lý lẽ cao siêu mà chỉ có bậc cao tăng thoát tục mới có thể nghiệm chứng.

Vì thế, chữ Tướng ở đây được hiểu là tất cả những gì liên quan đến đời sống của 1 người. (TV tránh dùng chữ ...tướng thế gian....cho dễ thấy, dễ hiểu).

Và chữ Tâm được hiểu theo cách hành xử của người đó trong cuộc sống. Hay còn gọi là Tánh như tánh cách, tánh nết, tánh tình, tánh thiện, tánh ác v..v.. (Có lẽ người xưa hiểu được Tâm sinh ra Tánh do vậy mà chữ Tánh 性 do bộ Tâm 忄và bộ Sinh 生 hợp thành.)

Hữu Tâm vô Tướng là nói gọn lại của ...Hữu hảo tâm vô hảo tướng.

Hảo Tâm là Tâm tốt, và Tâm tốt thì sinh ra Thiện Tánh. Nhờ đó mà khiến cho người ta biết ...hành thiện...làm điều tốt.

Vô Hảo Tướng hay Tướng xấu là nói đến những hình thức như: ngoại hình xấu xí, bệnh hoạn, ngu si, nghèo, yếu, đoản mệnh...v..v...

Hữu Tâm vô Tướng, Tướng tại Tâm sanh.

Là muốn nói đến trường hợp người có Tâm tốt mà gặp phải Tướng xấu thì từ Tâm tốt đó mà Tướng xấu dần tiêu diệt và phát sinh ra Tướng tốt.

VD: 1 người sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó. Nhưng có tâm tốt, sống tốt và thường giúp người... nhờ những thiện tánh và thiện hành đó mà khiến cho người ta thương. Vì vậy, ai cũng muốn giúp đỡ và trả ơn mà khiến cho người kia bớt nghèo, từ từ cuộc sống trở nên sung túc. Đó là nói về Tướng nghèo.

1 người khác, sinh ra có ngoại hình xấu xí. Nhưng nhờ có tâm tốt mà khiến cho người ta thương mến. Lâu dần, họ không còn thấy sự xấu xí đó nữa mà chỉ thấy ở người đó sự phúc hậu, dễ mến.

Từ đó mà người ta có câu: ..."Đức năng thắng số" (Đức độ thường vượt qua, chuyển biến được số phận.). Hay nôm na hơn là:

Ở có đức mặc sức mà ăn!

Ngược lại là:

Hữu Tướng vô Tâm, tướng tòng Tâm diệt.

Nghĩa là có Tướng tốt mà không có Tâm tốt thì lâu dần Tướng tốt đó sẽ theo Tâm xấu kia mà bị mất.

VD: 1 người sinh ra giàu sang. Nhưng Tâm không tốt sinh ra tánh tình kiêu căng, phách lối, ác độc ...v..v... Lâu dần khiến cho người ghét, hoặc là sẽ lánh xa, hoặc là sẽ bất hợp tác ....cuối cùng người kia rồi cũng bị khánh tận. Hay nói cụ thể hơn, anh ta giàu có rồi vì Tâm xấu mà ỷ thế hiếp người (hại người), tạo thành tội ác ...cuối cùng phải đi tù, tài sản bị tịch thu ...v..v...

1 người khác, sinh ra có tướng mạo phong nhã, tuấn tú. Nhưng vì có Tâm tà nên dùng tướng mạo đó mà đi hại người (quyến rũ, lừa gạt v..v..), lâu dần, người ta không còn thấy người kia phong nhã, tuấn tú nữa, mà chỉ thấy bản chất đàng điếm, đểu giả, ngụy quân tử của anh ta được thể hiện qua ngoại hình.

Từ đây mà có câu: "Trời hại mình thì còn có thể cứu được, chứ tự mình hại mình thì vô phương cứu chữa."

Quan điểm của 2 câu trên được thể hiện qua vô số kinh thư của thế gian từ ngàn xưa đến nay. Từ phức tạp khó hiểu như:

"Hành thiện chi nhân, như xuân viên chi thảo. Bất kiến kỳ trưởng, nhật hữu sở tăng.
Hành ác chi nhân, như ma đao chi thạch. Bất kiến kỳ tổn, nhật hữu sở khuy."

(Người làm việc thiện như cỏ trong vườn Xuân. Không thấy nó mọc, nhưng mỗi ngày mỗi lớn.
Người làm việc ác như cục đá mài dao. Không thấy nó mòn, nhưng mỗi ngày mỗi khuyết.)

...Hay gần gũi hơn, mộc mạc hơn qua câu:

Ở hiền gặp lành. Ở ác gặp ác.

Tóm lại, chữ Đạo luôn tồn tại ở thế gian. Người theo Thiên Chúa thì bảo rằng ....Chúa dạy thế này..... Kẻ theo Đức Phật thì nhận rằng ...Ngài bảo như thế, như thế.... Thực tế thì các Ngài chỉ nói lên ...Sự Thật đang hiện hữu ở thế gian nói riêng và trong toàn tam giới nói chung mà thôi!

Do vậy, ở một nơi nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó, có 1 vị cao tăng theo thiền quán mà nhận ra được bản thể của Tâm là như vầy ...như vầy...

...Thì cũng trong hoàn cảnh đó, người trong thiên hạ lại nhận diện chữ Tâm qua 1 hình thức khác là ...Tánh. Vì vậy mà họ có câu: "Cha mẹ sinh con, Trời sinh tánh". Vì sao vậy? Vì cái Tánh của đứa con theo Nhân Quả mà đến, nên cha mẹ không thể nào có thể thay đổi được. Chuyện ...cha hiền sinh con dữ, hay cha dữ sinh con hiền ... nơi nào, lúc nào cũng có.

Điều mà TV nói chính là những việc ở trong đời thường vậy!

...Thân ái,
-Thiên Vương-
Về Đầu Trang Go down
hophap
Quản Lý Diễn Đàn
Quản Lý Diễn Đàn
avatar

Pháp Môn : Hiển Giáo
Tôn giáo : Đạo Phật
Bài viết : 68
Số lần cảm ơn : 22
Điểm Cống Hiến : 100002953
Tham gia : 05/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?   13/2/2010, 14:44

Xin cảm ơn bạn Thiên Vương !

Kiến thức và phong thái của bạn làm tôi rất khâm phục !
Trong cuộc sống đầy rủi ro phiền não này ,nếu ai cũng ý thức được như TV đã trình bày thì quá tốt , quá hay rồi .Ở đây Nhưthi06 tôi muốn bàn để chúng ta cùng có cái nhìn khác về thế giới quan ,nhân sinh quan mà thôi . Vì sao vậy ? là vì từ nào đến giờ chúng ta luôn luôn nhầm lẫn giữa cái Tâm sanh diệt và cái chơn tâm hằng hữu ở nơi chúng ta . Chúng ta cứ luôn cho rằng cái tánh của người này thế này , tánh của người kia thế kia chính là Tâm , Phật nói các Ông hoàn toàn sai lầm khi nhận cái đó làm tâm của các ông , đó thực sự chỉ là nhửng dòng Tâm thức đang diễn biến mà thôi , quyết định không phải là các Ông , có một cái luôn hằng hữu bất sanh bất diệt , luôn tỏ thấu , luôn bất nhiễm , đó mới là Tâm của các Ông . Vậy chúng ta thì luôn cho rằng tâm nằm ở trong ta , ta hoàn toàn có thể điều khiển được nó , điều này hoàn toàn sai lầm mà Phật đã bác bỏ . Cái bản tâm chân như ấy không nằm trong , không nằm ngoài mà bao trùm tất cả . nhỏ thì nhỏ tới lân hư trần cho tới hư không mà lớn thì không thể tính đếm được . Vì Cái bản tâm ấy nói ra thì vô cùng nên phải cần có những phương tiện khác để cụ thể hơn cho con người chúng ta dễ nghe ,dễ hiểu , nên phương đông xuất hiện môn dịch học , phương tây xuất các tôn giáo , tựu chung cũng chỉ nhằm cho con người vốn nhỏ bé yếu đuối có chỗ để nương dựa vào mà ngộ được chân lý ấy .
Như vậy tất cả những kiến thức , những kinh nghiệm mà chúng ta , loài người chúng ta đúc kết được từ nhiều đời nhiều kiếp nhiều thế hệ đến nay , quyết định không phải là ta , mà cái khả năng tiếp thu được những kiến thức ấy , khả năng diệu dụng những kiến thức ấy mới là ta . Chúng ta luôn bị ràng buộc , bị cột chặt vào một kho kiến thức và cuối cùng bị nô lệ bởi nó , bị nó điều khiển khiến cho chúng ta không tài nào thoát ra được , ví như đụng đến Địa lý phong thủy là đụng đến ta , đụng đến bùa ngải là đụng đến ta , đụng đến Phật giáo là đụng đến ta , đụng đến thơ văn là đụng đến ta , đụng đến bác sỹ kỹ sư là đụng đến ta , đụng đến giáo sư tiến sỹ là đụng đến ta ..vv...vv... cứ thế như thế chứng ta luôn cho rằng kiến thức là chúng ta mà không biết rằng kiến thức chỉ là kiến thức ,kinh nghiệm chỉ là kinh nghiệm , nay còn mai mất , nay thịnh mai suy . Thịnh thì ta vui mà suy thì ta buồn . Nhưng nếu nhìn lại một chút thôi , chỉ bất chợt nhìn lại một chút sẽ thấy ngay cái khả năng có được những kiến thức kinh nghiệm ấy mới là ta , còn những kiến thức kinh nghiệm không phải là ta , đừng sống với nó mà hãy sống với khả năng có được nó , khả năng diệu dụng nó , khi ấy khổ đau phiền não tức thì lìa xa ngay ta.

Vài hàng góp vui diễn đàn mong mọi người lượng thứ !
Thân mến !

Việc Sử Dụng Mật Pháp Để Chữa Bịnh Trị Tà

Nhiều người đến với Mật Tông vì những sự thần thông huyền bí của Mật Pháp nhưng đây không phải là mục đích của người hành trì Mật Pháp.

Mật Tông cũng như là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông đều là những phương pháp đưa đến Sự Giải Thoát Sanh Tử Luân Hồi Lợi Ích Chúng Sanh.

Mật Tông có một điểm đặt biệt đó là Thần Thông.

Thần Thông trong Mật Tông chỉ là sự tu tập phát khởi ra mà thôi vì vậy mà hành giả không nên tham chấp vào thần thông.

Hành giả Mật Tông khi tu tâp đến một mức nào đó thì do công phu phước lực và lự gia trì của các vị Bổn Tôn mà có được các năng lực kỳ diệu có thể trị bịnh trừ tà.

Nhưng một hành giả Mật Tông phải ghi nhớ là trị bịnh trừ tà phải phát khởi từ tâm từ bi chứ không phải vì cầu danh lợi thế gian nếu không thì hành giả sẽ bị tà ma nhập tâm khiến vào đường tà.

kimcang
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?   

Về Đầu Trang Go down
 
NGƯỜI HỌC MẬT TÔNG CÓ ĐƯỢC PHÉP CHỮA BỆNH CỨU NGƯỜI KHÔNG ?
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Tài liệu, bài viết tham khảo, nghiên cứu! :: >>>Mật Tông-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a blog