WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Ấn chương Việt Nam

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2, 3, 4  Next
Tác giảThông điệp
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:19

Tác giả: Nguyễn Công Việt

Nguồn: thuvien-ebook

Lời giới thiệu

Ấn chương học (Sigillographie hay Sphragistique) là môn học nghiên cứu về con dấu qua các đời. Con dấu trên văn bản thường có 3 mục đích: 1. Bảo đảm tính xác thực của văn bản; 2. Khẳng định quyền chủ sở hữu của văn bản và 3. Xác định niên đại của văn bản[1]. Vì vậy, nghiên cứu ấn chương học được coi là phương pháp tìm chứng cứ (recherche des témoigrages) trong khoa học lịch sử và có ý nghĩa quan trọng đối với văn bản học[2].

Việt Nam có một truyền thống ấn chương lâu đời, các thư tịch cổ đã chép rằng các Lạc tướng có ấn đồng dây thao xanh (đồng ấn thao thụ). Có thể thấy rằng các con dấu gốm đã tìm được trong văn hóa Hoa Lộc, văn hóa Bàu Tró chỉ in các hình trang trí. Khi chữ Hán đã truyền vào Việt Nam thì chúng ta gặp nhiều con dấu thời Hán như dấu “Tư phố huyện ấn” (hiện được cất giữ ở Bảo tàng Bỉ), các con dấu tìm được ở di chỉ Thiệu Dương, Thanh Hóa. Hoặc là chúng ta đã tìm thấy các phong nê ở Quảng Nam cho ta biết ảnh hưởng của Đạo giáo thời kỳ sớm.

Ta đã tìm được những con dấu bằng mã não hoặc bằng chì in bằng chữ Pallava trong các di chỉ văn hóa Óc Eo ở miền Nam từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX.

Đến thời kỳ độc lập thì ta mới tìm thấy các con dấu thời Trần như Môn hạ sảnh ấn năm 1377 và Bình Tường thổ châu chi ấn năm 1362. Chúng ta hi vọng là ngày càng tìm được nhiều con dấu của thế kỉ XVI về trước.

Từ thế kỷ XV trở đi, ta mới biết nhiều loại hình con dấu. Tình hình ấn chương từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX chính là nội dung mà Nguyễn Công Việt muốn giới thiệu trong quyển sách này.

Muốn xây dựng ấn chương học thì nhiệm vụ trước hết phải làm là công bố các sưu tập ấn chương (corpus sigillirum) của các thời kỳ. Ở đây, Nguyễn Công Việt đã công bố các corpus sigillirum từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX như thế. Nguyễn Công Việt đã nghiên cứu các ấn chương của nhà vua và các quan chức ở triều đình cùng với các quan chức ở địa phương.

Ở quyển sách này, Nguyễn Công Việt đã đi sâu nghiên cứu các chức quan trong các thế kỉ XV đến XIX và nhờ vào con dấu, đã bổ khuyết nhiều điều chưa biết, nhất là các chức quan trong quân đội. Nói chung, tác giả đã giúp người đọc xác định được nhiều về quan chức chí của các đời. Sự thay đổi của ấn chương được tác giả gắn liền với các cuộc cải cách hành chính từ triều Lê đến triều Nguyễn, những cuộc cải cách đó được tác giả mô tả kỹ càng và làm nổi bật. Qua con dấu cũng đã xác định sự thay đổi một số tên đất như ở thời Tây Sơn. Đó là những tài liệu lịch sử chắc chắn mà ấn chương học đã đem lại.

Tóm lại, đây là một công trình nghiên cứu công phu mà tác giả đã hoàn thành, có đóng góp lớn cho việc xây dựng bộ môn ấn chương học Việt Nam. Về bộ môn này thì đây là công trình đầu tiên; không có gì có thể so sánh được, vì thế, có thể còn một số thiếu sót, nhưng chúng ta có thể hiểu được. Vì vậy, tôi rất vui khi được giới thiệu công trình này với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là với những người ham thích tài liệu lịch sử. Tôi tin rằng là tài liệu này sẽ đem lại nhiều điều có ích và thú vị cho chúng ta.

GS.HÀ VĂN TẤN

Viện trưởng Viện Khảo cổ học,

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Lời nói đầu

Di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam bao gồm hai mảng tư liệu hiện vật và tư liệu thư tịch với một khối lượng lớn phong phú đa dạng tồn tại song hành và luôn gắn bó mật thiết với nhau. Chúng ta tìm thấy không ít những đoạn kinh, câu thơ, bài văn bằng chữ Hán, chữ Nôm khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ đồng thời cũng được ghi trên giấy, lụa. Văn tự Hán Nôm còn được khắc in, đúc trên kim loại như vũ khí, vật dụng, công cụ sản xuất, tiền đồng, trên đồ gốm sứ v.v… Trong kho di sản văn hóa đa dạng đó có một loại tư liệu hiện vật mang đặc thù riêng, đó là ấn chương mà ta còn gọi là ấn triện hay con dấu. Ấn chương bao gồm cả hiện vật ấn tín và những văn bản, văn khắc có in hình con dấu. Trong đó hình con dấu đứng độc lập hay nằm trong một văn bản Hán Nôm khác cũng đều được coi là một văn bản ấn chương hoàn thiện.

Ở công trình này chúng tôi bước đầu công bố các sưu tập ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX, cùng với kết quả nghiên cứu giới thiệu những quả ấn điển hình, những hình dấu tiêu biểu ở hệ thống ấn chương các loại trong bộ sưu tập mà chúng tôi đã thu thập được.

Nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của văn hiến Trung Hoa, ấn chương Việt Nam về cơ bản có nhiều điểm gần gũi với ấn chương Trung Quốc. Tuy nhiên ở Trung Quốc tương truyền ấn chương có từ thời Hoàng đế (khoảng năm 2500 TCN) và các nhà khoa học đã khẳng định ấn chương Trung Quốc có từ cuối Xuân Thu Chiến Quốc (năm 770 - 255 TCN), thì ở Việt Nam các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những ấn hoa văn (tiền thân của ấn chương Việt Nam) có niên đại khoảng thế kỉ XV - XVI (TCN) ở Hậu Lộc, Thanh Hóa. Nếu như ở Trung Quốc, sự phát triển và tồn tại của ấn chương mang tính hệ thống liên tục, duy trì đến tận bây giờ với rất nhiều tác gia, tác phẩm viết về ấn chương học, thì ở Việt Nam không có được sự tương đồng, thậm chí đã bị đứt đoạn ở một số đời vua thuộc những vương triều phong kiến khác nhau.

Trải qua bao cuộc kháng chiến chống xâm lược oanh liệt và cả các cuộc nội chiến đẫm máu, cộng với sự tàn phá nặng nề của thiên tai, biết bao ấn chương các loại và văn bản có lưu hình dấu phải chịu chung số phận tro bụi cũng cung điện, lầu các, thư phòng v.v… Với nỗ lực tìm kiếm từ Nam ra Bắc chúng tôi cũng chỉ gom góp được hơn trăm hiện vật ấn chương và ngót nghìn văn bản có hình dấu khác nhau, chủ yếu ở thời Nguyễn. Kết hợp với những tài liệu chính sử, dã sử, tư liệu địa phương, bài viết lẻ tẻ và những văn bản Hán Nôm đã rách ố, chúng tôi bước đầu tuyển chọn giới thiệu sơ lược ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX.

Bắt đầu từ những quả ấn, đó là khối tư liệu hiện vật quý giá quan trọng trong việc nghiên cứu, công bố ấn chương Việt Nam. Những quả ấn này có chất liệu, trọng lượng, hình thức, niên đại và nội dung văn khắc khác nhau và được chia thành hai loại. Loại thứ nhất sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn được đem dùng luôn. Loại thứ hai sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn phải qua công nghệ đúc mới được dùng. Giá trị lớn nhất của hiện vật ấn chương là tính chân thực của niên đại được khẳng định ở hiện vật: Có những ấn gốm hoa văn đã đạt tới hơn 3.000 năm tuổi. Cùng với các cổ vật khác, chúng gắn liền với những nền văn hoá cổ xưa của dân tộc Việt Nam như văn hoá Hoa Lộc - Thanh Hoá, văn hóa Óc Eo - Nam bộ. Chúng rất có ý nghĩa trong nghiên cứu khảo cổ học, sử học cũng như bảo tàng học sau này. Song, thực trạng hiện vật ấn chương hiện còn với số lượng quá ít sẽ không bao quát hết toàn bộ hệ thống ấn chương các loại, cũng chưa đủ đại diện cho ấn chương mỗi triều đại, do đó việc nghiên cứu hiện vật ấn chương tuy quan trọng những cũng chỉ thể hiện một mặt trong nghiên cứu ấn chương nói chung. Vả lại mỗi một quả ấn cho ra đời một hình dấu - tức một văn bản cô đọng ngắn gọn; nó thể hiện nét đặc thù riêng của loại hình ấn tín: lượng thông tin trong tự thân văn bản có một số hạn chế nhất định. Việc nghiên cứu ấn chương bắt buộc phải mở rộng đến các văn bản Hán Nôm mang hình dấu ấn, đó là mảng tư liệu phong phú, đa dạng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu ấn chương.

Văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu có hai dạng khác nhau: Thứ nhất là dạng văn bản có chất liệu bằng giấy hoặc vải lụa, người ta dùng ấn thấm mực đóng trực tiếp lên trên. Dạng văn bản thứ hai là những hiện vật bằng đá, gỗ, kim loại, gốm sứ được khắc lại trực tiếp hình dấu, hoặc được khắc, vẽ lại hình dấu rồi qua công nghệ đúc, nung mà thành. Trong đó dạng văn bản thứ nhất - văn bản giấy chiếm số lượng tối đa và giữ vai trò chính trong việc nghiên cứu ấn chương.

Văn bản giấy có nhiều loại khác nhau như thư tịch sách vở, tài liệu hành chính, thư pháp tranh ảnh, tấu sớ bùa chú v.v… Trong đó mảng tài liệu hành chính công văn giấy tờ là còn lưu nhiều hình dấu quan ấn (ấn công) nhất. Đó là những sắc, chiếu, chế, cáo, chỉ, dụ; mảng tài liệu quan trọng này gắn với Hoàng đế và bộ phận hành chính thân cận nhà vua. Hình dấu trên đó được đóng ra từ những Bảo Tỉ của vua hoặc những ấn chương khác có ý nghĩa quốc gia trọng đại. Bên cạnh đó là khối lượng lớn các văn thư hành chính khác được làm ra từ các nha môn thuộc các cơ quan trung ương ở kinh đô như hệ thống lục bộ, lục tự, giám sát v.v… với mấy loại văn bản khác nhau theo các con đường đi khác nhau. Loại văn bản gửi lên Hoàng đế qua văn phòng nhà vua, loại văn bản gửi đến các cơ quan ngang cấp hay tới các chính quyền địa phương, quân doanh đơn vị ngoài kinh đô, và một loại văn bản gửi cho thuộc viên cấp dưới. Các văn bản đó đều được đóng các con dấu khác nhau vào nơi quy định của trưởng nha môn hoặc người được thẩm quyển dùng dấu. Đối với các chính quyền địa phương, lực lượng quân đội và cơ quan dân sự ngoài kinh đô thì cũng dùng các hình thức văn bản có tính chất tương tự. Tất cả các loại văn thư hành chính này đều có tên gọi riêng như sớ, tấu tập, tư (tư di, tư trình), sức, chiếu hội v.v… Ở mỗi loại văn bản có cùng một nội dung được lập ra để giải quyết công việc theo hình thức hàng dọc mà gọi theo ngôn ngữ văn bản học Hán Nôm là bản chính, bản phó hay bản lục v.v… được xếp chung gọi là các dạng văn bản. Mỗi dạng văn bản có khi được làm hai hoặc vài ba bản dùng để gửi đi và lưu chiểu, đối chiếu. Ở mỗi loại văn bản, dạng văn bản đều có dấu tích công nhận khác nhau đóng ở những chỗ quy định như dòng ghi niên hiệu, chỗ tên riêng, chỗ quan trọng, chỗ tẩy xoá và nơi giáp phùng.

Ở một số loại sách như địa bạ, sách riêng của dòng họ, sách in chúng ta có thể tìm thấy thưa thớt một số hình dấu nhỏ, đơn giản. Trên các tác phẩm nghệ thuật thư pháp, tranh họa, bản giao kèo mua bán và ở các lá sớ, bùa chú chúng ta cũng tìm thấy nhiều hình dấu lớn nhỏ khác nhau. Đó là những hình dấu tư ấn (ấn riêng) thuộc lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, thương mại và tôn giáo tín ngưỡng.

Cũng như ấn chương Trung Quốc và các nước khu vực dùng chữ khối vuông, ấn chương Việt Nam thể hiện rõ những chức năng riêng biệt của ấn chương nói chung và ở mỗi loại ấn chương nói riêng. Từ ý nghĩa biểu tượng của pháp chế quyền lực đến chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực, ấn chương Việt Nam không chỉ mang tính pháp lí hành chính mà còn thể hiện rõ tính văn hoá - xã hội. Bắt đầu từ những Bảo Tỉ của Hoàng đế dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đến những quả ấn nhỏ xíu của một thường dân là cả một hệ thống ấn chương hoàn chỉnh, có tên gọi và cách dùng riêng biệt. Qua nghiên cứu thống kê ta có thể phân loại ấn chương Việt Nam thành nhiều loại khác nhau là Kim ngọc Bảo Tỉ, ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Kiềm ấn, Đồ kí, Kiềm kí, Tín kí - Kí và mảng ấn tín tư nhân. Đồng thời ở đây cũng phân chia rõ rệt hai hệ thống quan ấn và tư ấn; trong đó quan ấn mang tính pháp lí hành chính nhà nước có quy chế nhất định, còn tư ấn thể hiện tính tự do ngoài khuôn khổ qui định.

Tương ứng với ý nghĩa nội dung của mỗi loại ấn, người ta đã đặt ra những quy ước hình thức cho việc chế tác ấn chương từng loại riêng biệt. Những hình thức được chạm khắc ở núm ấn đầu tiên phải kể đến những con vật thiêng theo ý niệm tôn giáo như long, li, quy, phượng, hoặc là loài mãnh thú như hổ, sư tử. Những hình muông thú khác cùng các hình thể đơn giản như tay quai, chuôi vồ v.v… được chạm, khắc, đúc ở mỗi loại ấn khác nhau đã dựng nên bức tranh nghệ thuật sinh động của ấn chương Việt Nam.

Hình thức mặt đế ấn là điều quan trọng nhất trong việc chế tác ấn chương. Chính nó sẽ cho ra đời một hình dấu trên văn bản có nội dung trọn vẹn, bao hàm cả ý nghĩa biểu tượng của hình thể ấn mỗi loại. Chúng ta sẽ tìm thấy nhiều hoạ tiết đường viền khác nhau vành ngoài đế ở một số loại ấn mà chủ yếu trong Bảo Tỉ của Hoàng đế, Hoàng tộc và nội cung. Nó không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng cho loại ấn mà còn hàm chứa lượng thông tin cao đối với người tiếp nhận khi nhìn thấy hình dấu trên văn bản. Nhưng cái chính ở đây là nội dung văn khắc trên mỗi con dấu khác nhau. Với số lượng chữ, thể chữ, bố cục sắp xếp không giống nhau, mỗi hình dấu đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa nội dung của một con dấu, nó được coi là một văn bản hoàn chỉnh, cô đọng và nhiều khi khá sâu sắc.

Không có tham vọng biên soạn thành một cuốn sách chuyên khảo lí luận về ấn chương Việt Nam, ở đây chúng tôi chỉ dựa trên cơ sở tư liệu, thực trạng hiện vật ấn và hình dấu trên văn bản để mô tả giới thiệu ấn chương dưới góc độ của người sưu tập và nghiên cứu. Thực tế tư liệu ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng tìm được quá ít, nên việc giới thiệu chắc chắn không đầy đủ và bao quát hết được ấn chương những giai đoạn này. Vì vậy bố cục cuốn sách chúng tôi cố gắng sắp xếp cân đối trong việc phân chia chương mục.

Ấn chương từ thời Lê sơ đến Tây Sơn được tập hợp vào chung phần thứ nhất, trong đó ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng với số tư liệu chỉ đủ để giới thiệu một cách khái quát và sơ lược. Riêng thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng tư liệu về cơ bản đã bao quát được ấn chương của vương triều này. Ở phần I, bối cảnh lịch sử của ấn chương được trình bày như một lời dẫn nối gắn với thực trạng ấn chương của mỗi triều đại. Người đọc chắc sẽ cảm thấy thiếu vắng, sơ sài, song thực tế tư liệu không cho phép chúng tôi đi xa hơn khi chưa có đủ căn cứ chắc chắn.

Ấn chương Việt Nam thời Nguyễn ở phần II được giới thiệu nhiều và chi tiết hơn các thời kì trước. Tư liệu thời kì này khá phong phú song cũng chưa thể đại diện đầy đủ hết mọi phương diện của ấn chương giai đoạn này, nhất là xét về hiện vật ấn chương. Từ Kim ngọc Bảo Tỉ của hoàng đế đến ấn tín tư nhân thời Nguyễn, chứng tôi đã cố gắng dựng lại bức tranh ấn chương thời Nguyễn tương đối hoàn chỉnh để qua đó có thể ít nhiều hình dung ra phần nào ấn chương các triều đại trước đó.

Chúng tôi tuyển chọn giới thiệu 223 hình ấn và dấu minh họa trong bộ sưu tập mà chúng tôi thu thập được. Ảnh minh họa gắn với nội dung giới thiệu mô tả của mỗi quả ấn hay hình dấu trên văn bản và được sắp xếp theo trật tự triều đại từ thời xưa đến cuối thời Nguyễn. Mỗi quả ấn, hình dấu được đánh số thứ tự riêng. Hiện vật ấn được minh họa dưới các hình thức sau:

Nếu có 4 kiểu thì được ghi là: mặt trên ấn (a), núm ấn (b), mặt đế ấn (c) và dấu (d).

Nếu có 3 kiểu thì ghi là: núm hoặc mặt trên ấn (a), mặt đế ấn (b) và dấu (c).

Nếu có 2 kiểu thì ghi là: núm ấn hoặc mặt trên ấn (a) và dấu hoặc mặt đế ấn (b).

Ảnh minh họa gồm hiện vật, hình dấu,văn bản lẫn hình dấu được ghi là H. (hình), thứ tự từ H.1 đến H.233. Kích cỡ to nhỏ của ảnh minh họa làm theo hình thức bố cục cân đối phù hợp với mỗi trang sách phần mục riêng, không phụ thuộc vào kích cỡ thật của hiện vật, hình dấu và văn bản.

Hiện vật ảnh minh họa được gọi chung là ấn, không gọi kiểu cách phân loại loại hình như Quan phòng, Đồ kí, Kiềm kí v.v… Tên ấn hoặc dấu được đặt theo cách gọi của nội dung văn khắc chữ Triện ở chính văn.

Hình dấu có thể đứng độc lập hoặc nằm trong một văn bản Hán Nôm khác. Nếu hình dấu nằm trong một văn bản khác sẽ được ghi liền với niên đại của văn bản và chỉ viết hoa chữ ghi niên hiệu.

Về việc viết hoa tên ấn, dấu, nhân danh, địa danh, niên hiệu, can chi và tên chức quan trong nội dung văn khắc ấn, dấu, chúng tôi tạm theo một quy định riêng, xin giới thiệu vắn tắt dưới đây để bạn đọc tiện theo dõi.

- Phần chính văn: đối với chữ Hán khắc ở mặt trên ấn, chữ Triện ở mặt đế ấn (đối với hiện vật) và nội dung chữ trong hình dấu (đối với dấu trong văn bản) khi phiên âm, chỉ viết hoa đối với chữ niên hiệu, địa danh, nhân danh và không viết hoa tên chức quan. Khi dịch, viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh, can chi và tên chức quan.

Chú thích ảnh: Tên ấn và dấu (gọi theo phiên âm) viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh; không viết hoa tên chức quan.

Để công tác in ấn được thuận lợi, chúng tôi không in ảnh màu minh họa xen kẽ trong phần nội dung mà chọn 32 trang ảnh màu để ở phần phụ lục cuối sách. Trong đó những ảnh nào trùng lặp với ảnh đen trắng thì xếp ở trước và ghi số thứ tự ảnh giống như ở nội dung sách. Còn số ít ảnh màu thêm vào dùng để tham khảo thì xếp ở phía sau và cuối phần phụ lục.

Ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX được hoàn thành, chúng tôi hi vọng đó là sự khởi đầu cho bộ môn ấn chương học Việt Nam và mong muốn sẽ có nhiều người tham gia với những bài viết và công trình kế tiếp.

Trong quá trình biên soạn công trình, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều học giả, đồng nghiệp trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hán Nôm, từ Hà Nội qua Huế tới Sài Gòn - Nam Bộ, từ những ý kiến mang ý nghĩa học thuật đến việc cung cấp một vài hình dấu tư liệu cụ thể. Nhân đây chứng tôi xin được bày tỏ lòng tri ân với tất cả, đặc biệt là GS. Hà Văn Tấn người đã cho chúng tôi nhiều ý kiến quý báu trong việc hoàn thành công trình.

Thực hiện công trình, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo và cán bộ ở các cơ quan như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, Trung tâm Lưu trữ trung ương II - thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là Toyota Foundation của Nhật Bản - đơn vị đã tài trợ cho việc biên soạn và xuất bản cuốn sách này. Nhân đây chúng tôi xin được bày tỏ lời cám ơn sâu sắc nhất.

Quá trình biên soạn công trình chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, tuy đã cố gắng hết sức song chắc chắn còn không ít thiếu sót, chúng tôi xin được lĩnh giáo ý kiến xây dựng bổ sung của quý độc giả để khi tái bản cuốn sách được sửa chữa hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn.



NGUYỄN CÔNG VIỆT
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:21

PHẦN MỞ ĐẦU

KHÁI QUÁT VỀ ẤN CHUƠNG HỌC VÀ ẤN CHUƠNG VIỆT NAM


I. Khái luận về ấn chương và ấn chương học

Trên thế giới, ở các quốc gia, các dân tộc có lịch sử văn hiến cũng đều tồn tại hệ thống ấn chương. Lịch sử xuất hiện ấn chương ở mỗi quốc gia khác nhau có nhiều điểm khác biệt, song tựu trung điểm thống nhất cơ bản là sự gắn bó mật thiết giữa lịch sử ấn chương với sự hình thành và phát triển của lịch sử thành văn.

Trung Quốc, cái nôi của văn hóa Đông phương có lịch sử thành văn đã mấy nghìn năm, sự ra đời của ấn chương cũng gắn liền với sự hình thành và phát triển của lịch sử thành văn Trung Quốc. Ấn chương Trung Quốc gọi là “Tỷ” 璽, tương truyền ấn chương xuất hiện từ thời Hoàng Đế (khoảng năm 2500 TCN). Cổ tịch Trung Quốc mà tác giả sống thời Hán đã ghi lại về sự xuất hiện rất sớm của ấn tỷ trong sách Xuân thu vận đẩu khu: “Hoàng Đế thời hoàng long phụ đồ trung hữu tỷ chương”[6] (Thời Hoàng Đế có con rồng vàng đội bức địa đồ trong đó có tỷ chương). Sách Hậu Hán thư - Tế tự trí hạ ghi lại về nguồn gốc của ấn chương “Thời Tam Hoàng không có văn tự, cai trị bằng tết thừng, từ Ngũ Đế trở về sau có thư khế văn tự, đến đời Tam Vương (Hạ Kiệt, Thương Thang, Chu Văn Vương và Võ Vương) tục hóa Triện văn, sau mới có tỷ ấn…”[7]. Trong sách Dật Chu thư - Ân chúc giải cũng ghi rằng khi vua Thành Thang đuổi Kiệt, đại hội chư hầu, Thành Thang đã nhận được ngọc tỷ và lên ngôi Thiên tử.

Về sự xuất hiện của Tỷ ấn gắn liền với việc chính thức phát minh và sử dụng văn tự trong quá trình phát triển xã hội Trung Quốc cổ trên mọi lĩnh vực. Văn giáp cốt thời Ân - Thương được người ta coi là những văn tự tượng hình sớm nhất ở Trung Quốc nhưng bản thân nó lại bị giới hạn về nội dung và phạm vi sử dụng, nên nó không thể bao quát hết được văn tự nói chung của thời kỳ Ân - Thương. Những phát hiện khảo cổ học tìm thấy chứng tích thời Ân ở An Dương - Hồ Nam cũng không giúp cho việc khẳng định nguồn gốc ấn chương thời cổ một cách chính xác. Có ý kiến cho rằng đó là những di vật thời Tây Chu trên mặt có khắc hình văn tự hoặc phù hiệu nhưng không thể đọc nhận biết chính xác được và trong đó không có gì liên quan đến ấn chương. Người khác lại cho rằng trong đó có tín hiệu về ấn chương Trung Quốc. Tương tự trong khai quật mộ táng thời Tây Chu tuy không phát hiện ấn tỷ, nhưng có chứng tích về phù tiết của một chủng thị tộc thuộc đất nước Trung Hoa. Có ý kiến cho rằng “Tiết” (節) có nhiều loại dùng và tên gọi, ấn chương gọi là Tỷ tiết trên khắc quan danh, tên họ dùng làm tín vật…

Có thể tin rằng khởi nguyên của Tỷ ấn ở Trung Quốc vào thời Xuân Thu. Sách Quốc ngữ - Lỗ ngữ chú rằng “… Tỷ, ấn dã; Tỷ thư, ấn phong thư dã” (Tỷ là ấn, tỷ thư là sách có ấn niêm phong). Thời đó người Trung Quốc vẫn dùng thẻ tre và vỏ cây làm giấy viết văn thư cả việc công lẫn việc tư khi gửi đều dùng dây buộc lại, chỗ nút buộc người ta dùng đất bùn đánh dấu lên trên để làm tin. Khi tiếp nhận chỗ đất đánh dấu còn nguyên hoặc không có vết nghi ngờ thì công việc truyền tin đó coi như đã hoàn thành. Dần dần những chỗ đánh dấu bằng đất bùn đó được làm cẩn thận, kỹ thuật hơn và có những ký hiệu truyền tin riêng biệt để tránh sự giả mạo. Có thể nói đó là lịch sử xuất hiện của ấn chương Trung Quốc, hoặc nói một cách khác ấn chương sau này đã tiếp thu tinh thần đánh dấu bằng bùn đất và người ta đã làm ra loại hình văn ấn gọi là “Nê phong”, hoặc “Phong nê”, tức là vẽ, viết chữ tượng hình trên khuôn đất bùn để đánh dấu làm tin.

Trải qua quá trình phát triển, ấn chương đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và văn hóa nghệ thuật, có vị trí một khoa học độc lập gọi là ấn chương học.

Ấn chương học: Sigillographie - Theo cách gọi của giới nghiên cứu cổ sử. Ấn chương học: Sphragistics - Theo cách gọi của các nhà nghiên cứu Ngữ văn học. Ấn chương (印章) theo cách giải thích của các nhà nghiên cứu Trung Quốc đương đại thì chữ “ấn” (印) có chữ gốc từ chữ “ức” (抑) nghĩa là ấn xuống dưới. Tượng hình chữ là một bàn tay to ấn mạnh xuống một người nhỏ bé đang quỳ. Về sau mở rộng nghĩa thành chữ ấn (là ấn chương) mà ngày nay người ta gọi là con dấu, vì khi đóng dấu cần động tác ấn mạnh xuống. Chương (章) nghĩa gốc là đánh dấu, sau này cũng như chữ “ấn” nó biểu tượng cho con dấu khi động độc lập và là tên gọi của một bộ môn khoa học khi đi liền với chữ “ấn” gọi là ấn chương học.

Ở các nước phương Tây, ấn chương học tồn tại với ba chức năng chính:

1. Sự kết thúc (clore).

2. Khẳng định quyền sở hữu (propriété).

3. Khẳng định tính chân thực (authentifier).

Ở nhiều trường hợp ba chức năng này tồn tại độc lập, tách rời nhau, nhưng nhiều khi chúng cũng phải kết hợp với nhau trong một loại hình văn bản hoàn thiện đa năng.

Ở các nước phương Đông mà điển hình là Trung Hoa, ấn chương ngoài những chức năng trên còn một chức năng quan trọng nổi bật là biểu tượng của pháp chế quyền lực, thể hiện rõ nét chế độ pháp quyền quân chủ chuyên chế phong kiến phương Đông.

Sự hình thành, tồn tại và phát triển của ấn chương gắn bó chặt chẽ với chế độ xã hội trên mọi lĩnh vực chính trị, tôn giáo, quân sự, kinh tế v.v… Khi xã hội có sự biến động, thay đổi, phân chia giai cấp, đẳng cấp rõ ràng hơn đã xuất hiện các loại hình ấn chương khác nhau. Ấn chương không chỉ mang ý nghĩa đánh dấu tín vật làm bằng chứng mà còn thể hiện rõ chức năng biểu thị quyền lực, pháp chế, tăng thêm tính pháp quyền của giai cấp thống trị. Đây là lý do cơ bản cho việc tồn tại, phát triển và hoàn thiện hệ thống ấn chương từ những thời kỳ đầu chế độ phong kiến.

Nói đến quyền lực pháp chế của giai cấp thống trị ở xã hội phương Đông xưa là phải nói đến Hoàng đế. Hoàng đế giữ quyền tối cao định đoạt tất cả mọi việc, thay trời hành đạo, trị vì thiên hạ. Chính vì vậy, việc chế tác và sử dụng ấn chương của Hoàng đế được đặc biệt chú trọng, và đôi khi nhuốm cho nó màu sắc tôn giáo siêu hình. Từ việc chọn chất liệu quý như ngọc để tạo tác, đến việc khắc chữ, chạm hình rồi đặt tên, tế lễ v.v… cho ấn ngọc, ấn vàng. Như ở Trung Quốc ấn của vua được gọi là Tỷ rồi Bảo, nó được coi là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho Đế quyền. Là Thiên tử, Hoàng đế nhận mệnh của Trời, nên họ đã cho chế tác ấn quý khắc chữ có nội dung “Vua nhận mệnh Trời” để dùng làm ấn truyền quốc. Ví dụ như Ngọc tỷ Thụ mệnh vu thiên ký thọ vĩnh xương (Nhận mệnh ở Trời được sống lâu thịnh vượng)[8], Đại Tống thụ mệnh chi bảo (Bảo ấn của Đại Tống nhận mệnh ở Trời)[9], Hoàng đế phụng thiên chi bảo (Bảo ấn của Hoàng đế phụng mệnh Trời)[10] v.v…

Tính pháp quyền của ấn chương còn được thể hiện rõ ở hệ thống ấn chương trong tổ chức chính quyền từ trung ương đến địa phương, từ lực lượng quân đội đến cơ quan dân sự. Vua và triều đình đặt cấp, phong chức trao quyền cho văn quan võ tướng, đồng thời là việc ban cấp ấn tín để sử dụng trong công vụ. Đó là biểu tượng của pháp chế quyền lực, mà bản thân người được giao nhận ấn tín và đối tượng liên quan phải chấp hành nghiêm cẩn, cấp dưới hay binh lính cũng như quảng đại quần chúng phải tuân thủ tuyệt đối khi nhìn thấy hình dấu in trên văn bản mà không cần phải trông thấy sự hiện diện của một quả ấn cụ thể nào. Mỗi một loại ấn tín đều có cách sử dụng riêng được dùng cho một hay vài loại văn bản chỉ định, đó là những quy định bất biến được lập thành pháp luật mà bản thân người nhận quyền dùng ấn phải chịu trách nhiệm. Đối với quan lại tướng lĩnh đánh mất ấn tức là đánh mất chức vụ quyền lực, đối với Hoàng đế và triều đình để mất Tỷ, Bảo truyền quốc tức là để mất ngôi mất nước.

Trong thời kỳ đầu xã hội phong kiến ở các quốc gia phát triển với nền kinh tế ngày một hưng thịnh, giao lưu thương trường gia tăng, các đô thị mới hình thành. Ấn chương lúc này không chỉ còn là đặc trưng của cơ cấu quyển lực quốc gia nữa, mà nó đã phát triển ra ngoài xã hội gắn với kinh tế thị trường, trở thành biểu tượng trong hoạt động và sinh hoạt xã hội thường ngày của tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội. Từ những ký hiệu đánh dấu đến hình dấu mang ý nghĩa tín vật làm bằng chứng phát triển thành con dấu, ấn chương gắn với giao lưu thương phẩm hàng hóa. Đa số các gia tộc lớn tham gia sản xuất hàng hóa và buôn bán trên thương trường đều có ấn tín riêng. Đó là những quả ấn nhỏ được làm nhiều kiểu khác nhau được dùng đánh dấu vào một số loại hàng hóa, đóng dấu vào bản giao kèo mua bán, vào giấy làm tin v.v… Ấn tín này thể hiện rõ những chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực của hàng hóa vật phẩm sản xuất và việc buôn bán trao đổi vật phẩm hàng hóa đó. Đó là những thứ mà cả xã hội phương Đông và phương Tây từ cổ chí kim đều phải sử dụng như dược liệu, vải vóc, quẩn áo, đồ trang sức và văn hóa phẩm v.v… không ít cổ vật trang sức có in hình dấu ấn còn được lưu giữ đến ngày nay.

Trong lịch sử phát triển, ấn chương không chỉ còn gắn bó riêng với quyền lực luật pháp hay hoạt động sinh hoạt xã hội nữa mà đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được của nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ, hội họa, thư pháp. Điều này thấy rõ ở những quốc gia lớn có nền văn minh sớm như Trung Quốc. Nghệ thuật điêu khắc chạm trổ nhìn từ góc độ ấn chương ở Trung Quốc thật hoàn mỹ và phong phú. Núm ấn đa phần được làm theo hình thú vật mà chủ yếu là con thú trong tôn giáo tín ngưỡng hay biểu tượng của chúa tể trong loài vật như rồng, phượng, hổ, sư tử, rùa, lân, lạc đà v.v… Đó là những hình tượng sống động tượng trưng cho cái cao cả, uy quyền của bậc đế vương, cho cái đẹp rực rỡ uy nghi của Hoàng hậu, cái mạnh mẽ hùng tráng của Đại tướng quân v.v… Đối với ấn tín tự do ngoài xã hội thì tính sáng tạo ngày một được nâng cao với sự đa dạng và hoàn mỹ. Từ những chất liệu thiên tạo có sẵn như ngọc, đá, sừng, xương thú, các nghệ nhân đã tạo tác ra các quả ấn nhiều dáng vẻ khác nhau. Đó là những tác phẩm nghệ thuật sinh động góp phần không nhỏ trong sự phát triển đi lên của nghệ thuật điêu khắc chạm trổ ở mỗi quốc gia, dân tộc. Điều này không riêng gì Trung Quốc mà còn thấy ở một số nước phương Tây và Hồi giáo.

Cũng như điêu khắc, hội họa và thư pháp Trung Quốc hầu như không tách rời ấn chương. Trên những bức tranh và thư pháp không chỉ thấy một mà nhiều hình dấu đóng ở các vị trí khác nhau, nó là sự hình thành phong cách đặc biệt “Thi thư ấn họa” chỉ có trong hội họa và thư pháp Trung Quốc. Ấn chương đã góp phần đưa hội họa và thư pháp Trung Quốc lên đỉnh cao giá trị nghệ thuật.

Sự thành công của ấn chương dẫn đến việc thưởng thức nghệ thuật khắc ấn cùng “Thi thư ấn họa”, rồi từ đó nó trở thành thú tiêu khiển của tầng lớp trí thức, quan lại quý tộc và thương gia giàu có đương thời. Thậm chí không ít vị Hoàng đế Đông phương cũng đã bỏ nhiều thời gian, tiền bạc cho việc chế tác, sử dụng và thưởng thức ấn chương cùng “Thi thư ấn họa”. Người ta gọi đó là “Tư chương” và “Nhàn chương”, mà đối với các vị Hoàng đế và quan lại, trí thức hay chữ, nó là những vật dụng thân thiết luôn mang theo bên mình.

Nghệ thuật khắc ấn ngày một tinh mỹ, đa dạng, hình thành các trường phái riêng biệt với nhiều Triện khắc gia nổi tiếng, còn ấn chương nói chung dần dần trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều cá nhân, nhiều trường phái; rồi từ đó xuất hiện những bài viết và tác phẩm về ấn chương. Qua nhiều giai đoạn lịch sử dưới các triều đại phong kiến khác nhau, chỉ tính riêng Trung Quốc đã có hàng mấy trăm tác gia và tác phẩm tiêu biểu viết về ấn chương học.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:21

II. Khái lược về ấn chương học Trung Quốc

Sự xuất hiện của ấn chương Trung Quốc gắn liền với sự phát triển của
lịch sử thành văn Trung Quốc. Bên cạnh Cổ tiền học (Numismatics) và Minh
văn học (Epigraphics), ấn chương học (Sphragistics) là viên đá lớn
trong nền móng của lịch sử thành văn Trung Quốc giúp ích cho công tác
nghiên cứu lịch sử ngôn từ.

Qua nhiều công trình nghiên cứu về ấn chương từ cổ đến nay, các nhà khoa
học Trung Quốc đã khẳng định ấn chương Trung Quốc đã có từ thời Xuân
Thu - Chiến Quốc (770 - 255 TCN).

Thời Xuân Thu, nền nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp của
các nước chư hầu lớn đã phát triển mạnh, giao lưu thương phẩm phồn
thịnh, công nghệ tạo đúc đồng xanh tiến bộ, nhu cầu trong kinh tế xã
hội đòi hỏi dẫn đến việc sản sinh ra ấn tỷ làm tín vật bằng chứng. Giai
đoạn này đã xuất hiện việc chế tạo ấn chương bằng đồng và bằng đất nung.
Các thời kỳ sau đó, việc làm và sử dụng ấn chương ngày một thịnh, cho
đến bây giờ người Trưng Hoa còn lưu giữ được những hiện vật và tài liệu
về ấn chương từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc. (H.1&2)[11]





Tỷ là cách gọi của ấn chương Trung Quốc trước thời kỳ Tần Thủy Hoàng
thống nhất lục quốc tức là thời Tiên Tần, giai đoạn này từ vương công
quý tộc đến thứ dân đều dùng Tỷ không phân biệt. Chữ Tỷ ấn văn đương
thời lúc đó có nhiều kiểu viết chữ, có chữ thì chỉ quả ấn có chất liệu
bằng bùn đất, có chữ thì chỉ loại ấn có chất liệu thuộc kim loại. Ban
đầu Tỷ ấn đều được làm từ đất bùn và Tỷ ấn bằng kim loại thì được làm ở
giai đoạn sau, khi mà xã hội đã phát triển.

Thời Tiên Tần, cơ cấu chính quyền ngày một hoàn thiện, vai trò của ấn
chương bắt đầu định hình với chức năng tín vật làm bằng chứng và tượng
trưng của quyền lực. Đương thời quốc thư của trung ương vương thất và
các nước chư hầu cùng các khế ước của cấp dưới đến thứ dân đều đóng dấu
ấn chương, kiềm cái coi là tín vật bằng chứng của tín ước. Cơ cấu quyền
lực các cấp cần tuyên bố chính lệnh, chính sách cho dân chúng đều dùng
ấn làm tín vật quyền uy. Chính phủ trao quyền mệnh cho quan lại cấp dưới
cũng phải ban cấp ấn chương coi đó là tiêu chí của chức vụ cấp bậc
trong hoạt động công vụ.

Trong hoạt động kinh tế chức năng ấn chương được coi là tiêu chí vật
chứng trong các việc thu thuế, quản lý chợ quan, kiểm nghiệm thương
phẩm, cấm hoặc không các loại vật phẩm lưu thông ở thương trường.

Giai đoạn này công nghệ tạo đúc đồng phát triển, một số ít ấn chương
được dùng là ấn phôi tức là loại ấn chưa qua đúc, nhưng được khắc chữ
trực tiếp lên ấn còn đại đa số là ấn đúc, tức là khắc chữ lên ấn rồi qua
công nghệ đúc mới đưa vào sử dụng. Công nghệ chế đúc ấn chương thời kỳ
này ngày một tiến bộ và tinh mỹ.

Ấn văn trên cổ tỷ của các nước ở giai đoạn này về thể mạo đều giống
nhau gọi là “Lục quốc cổ văn” theo thể chữ Đại Triện, hình thành một
phong cách riêng. Nhìn tổng thể công nghệ tạo đúc khắc hình thể và ấn
văn thời Tiên Tần đã đạt những thành tựu lớn, ảnh hưởng nhiều đến quá
trình phát triển của ấn chương các giai đoạn sau này.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:21

1. Ấn chương thời Tần - Hán

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc xây dựng quốc gia trung
ương tập quyền, xây dựng cải cách chế độ trên nhiều lĩnh vực trong đó có
quy định về việc chế tác và sử dụng ấn chương. Quy định ấn chương của
Hoàng đế sử dụng là phải lấy ngọc thạch của nước Sở để điêu khắc và
phải gọi là Tỷ (璽), quan lại và người bình thường dùng ấn thì gọi là ấn
(印) và Chương (章), còn đặt ra loại “phù tiết hợp thừa” dùng cho cơ cấu
chuyên môn, thực thi chế độ giám quản ấn tỷ, cấm việc lạm dụng chế tác
ấn chương không theo quy định.

Ngọc Tỷ của Hoàng đế từ giai đoạn này được coi là báu vật của quốc gia
và tượng trưng cho hoàng quyền, việc sử dụng và quản lý giữ gìn Ngọc Tỷ
được thực hiện theo quy chế nghiêm cẩn, mất Ngọc Tỷ tức là đã tượng
trưng của việc mất nước.

Thời Tần, ấn chương của quan viên và trăm họ về hình thể cũng tương tự
như ấn chương thời Chiến Quốc, nhưng chủ yếu dùng nguyên liệu bằng đồng
để đúc, núm ấn thường làm đơn giản. Tư ấn được tạo tác tinh mỹ cẩn thận
hơn, núm ấn thường làm theo hình thú vật.





Khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi Hoàng đế đã sai quan Lý Tư chế định ra chữ
Tiểu Triện trên cơ sở chữ Đại Triện có quy chỉnh và giản hóa hơn. Hình
chữ Tiểu Triện thường khuôn theo hình vuông, kiểu chữ điền (田) nét chữ
linh hoạt, đẹp đẽ hơn, tuy khuôn vuông nhưng vẫn thể hiện nét mềm mại
uyển chuyển. Chữ Tiểu Triện gần như 100% được dùng làm thể chữ khắc trên
các loại Tỷ, ấn, chương và danh từ ấn triện xuất hiện từ đây để chỉ tất
cả các loại ấn khác nhau có khắc chữ Triện. Danh từ này tồn tại đến
ngày nay và truyền sang các nước khu vực qua giao lưu văn hóa trong đó
có cả Việt Nam. (H.3 & 4)

Sang thời Hán, xã hội Trung Quốc phát triển trên các lĩnh vực, mọi điển
chương chế độ được thực thi cơ bản theo điển chương chế độ thời Tần. Văn
hóa nghệ thuật phát triển mạnh, xuất phát từ thực tế công tác chữ Lệ
thư ra đời do sự sáng tạo của một số thư lại trong các nha môn ở trung
ương cộng với một số học giả quan lại, Lệ thư chính thức nhập vào rừng
nghệ thuật thư pháp Trung Quốc.

Ấn chương thời Hán sơ có đặc điểm quy chế hình thức giống như thời Tần,
giai đoạn này sự phát triển hưng thịnh của ấn chương có những điểm cũng
gần như thư pháp, tuy nhiên nó vẫn mang nét đặc thù riêng biệt của thể
loại ấn chương. Mặc dù chữ Lệ đã ra đời nhưng trong ấn chương vẫn dùng
chữ Triện làm thể chữ khắc trên ấn, chỉ có một ít ấn được khắc kiểu
Triện - Lệ theo phong cách thư pháp, chủ yếu dùng trong giới nghệ thuật
thư pháp mà không sử dụng trong công tác hành chính.

Ấn chương thời Hán phần lớn được tạo đúc kiểu “Bạch văn” (白文) tức là
khắc hoặc làm khuôn mà khi đóng dấu thì sẽ cho ra đời một hình dấu có
nền màu mực và nét chữ sẽ là những nét trắng nên gọi là “Bạch văn”.

Phong cách văn tự trên ấn chương rất phong phú, chủ yếu và đặc sắc là
những kiểu dáng “vuông vức ngay thẳng”, “đoan trang đầy đặn”. Thể văn
khắc trên ấn chương rất sinh động với đường nét cong khuôn vòng vừa
phải, nét đậm không to quá, nét nhỏ không mảnh quá, chỗ mau chỗ thưa
nhưng vẫn giữ được sự cân đối hài hòa, bố cục tự nhiên nhưng vẫn theo
quy tắc nhất định.

Hình thức ấn chương thời Hán rất đa dạng với nhiều dạng kiểu hình vuông,
tròn, chữ nhật. Núm ấn được làm theo hình thú vật mà chủ yếu là con thú
trong tôn giáo tín ngưỡng Trung Quốc như thanh long, bạch hổ, huyền vũ,
chu tước và đồ hình tứ linh long, ly, quy phượng. Ngoài ra núm ấn cũng
được khắc chạm một số loại thú khác như sư tử, lạc đà, ngựa, chim v.v…
nó biểu tượng sự tốt đẹp hùng tráng với nhiều động tác cách điệu sinh
động, nó khẳng định sự sáng tạo của các nghệ nhân khắc ấn thời Hán.

Bút họa khắc ấn văn ngoài thể chữ Triện và Triện - Lệ, các nghệ thuật
gia thời Hán đã biến hóa cách điệu thành hình các muông thú khác như
loài chim, loài cá, loài trùng hình thành phong cách “Điểu trùng thư
ấn”.

Văn khắc trên ấn ngoài những đặc điểm cơ bản như trên người ta thường
dùng những câu cát ngữ như “Lợi nhật”, “Xuất nhập đại cát”, “Nhật hữu
thiên vạn” v.v…



Điển hình ấn chương thời Hán vẫn là Ngọc Tỷ của Hoàng đế, khi Hán Cao Tổ
Lưu Bang diệt Tần tiến quân vào Hàm Dương, vua Tần phải buộc dây Ngọc
Tỷ truyền đời vào cổ dâng quốc gia cho Lưu Bang và Lưu Bang đã phong
ngọc tỷ đó là Truyền quốc tỷ. Thời Hán còn làm thêm một số ngọc tỷ khác
dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đó là Hoàng đế hành tỷ, Hoàng đế tín
tỷ, Thiên tử hành tỷ, Thiên tử tín tỷ, v.v… thường gọi là “Lục tỷ”. Các
ngọc tỷ này đều được làm rất công phu có núm hình rồng, hổ, hoa văn
chạm khắc tinh xảo và văn khắc đều dùng thể chữ Tiểu Triện. Ấn chương
thời Hán đã khẳng định sự phát triển đi lên và chiếm vị trí huy hoàng
trong truyền thống lịch sử văn hóa nghệ thuật Trung Quốc. Ngày nay người
Trung Quốc vẫn còn lưu giữ được một số ấn chương giai đoạn này. (H.5
& 6).
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:22

2. Ấn chương thời Đường - Tống

Chế độ ấn chương đến đời Đường - Tông ngày một hoàn bị hơn các thời kỳ
trước, việc chế tác chạm khắc ấn, hoa văn và thể chữ cũng có những quy
định rõ ràng. Đến đời Võ Tắc Thiên nhận thấy chữ Tỷ (璽) đồng âm với chữ
Tức (息) tượng trưng cho sự chết chóc, cho nên năm Diên Tái nguyên niên
(năm 694) đổi Tỷ thành Bảo (寶) và quy định các loại ấn chương về hình
thức, kích thước lớn nhỏ, dầy mỏng v.v… đều có tiêu chí nhất định. Giai
đoạn này số lượng quan ấn tăng gấp bội (do cải cách, tăng thêm chức quan
?), quy định quan ấn nhất luật dùng “Chu văn” (朱文). “Chu văn” còn được
gọi là “Dương văn” (陽文) tức là nét chữ được khắc nổi khi áp vào mực son
đóng xuống văn bản thì nét chữ sẽ có màu đỏ và khoảng trống là màu
trắng.

Đến đời Đường Trung Tông không theo cách của Võ Tắc Thiên lại đổi Bảo
thành Tỷ như cũ, sang đời Đường Huyền Tông đổi lại gọi là Bảo và từ đây
về sau ấn chương của Hoàng đế thống nhất cách gọi là Bảo.

Thời Đường - Tống phương thức tạo tác có khác thời Tiên Tần và Hán,
“Bạch văn” đã được thay thế bằng “Chu văn”. Bố cục nét chữ trên mặt dấu
được chú trọng, tiết diện mặt dấu của ấn chương trước đây còn để nhiều
khoảng trống, đến đây đã xuất hiện thể chữ mới lấp khoảng trống trên mặt
dấu. Tức là thể chữ khắc trên dấu được kéo dài ra hơn uốn khúc nhiều
lần hình thành một thể chữ gọi là Thượng phương Đại Triện (尚方大篆).

Giai đoạn này văn hóa nghệ thuật phát triển đồng thời với sự gia tăng
hoàn thiện của ấn chương nên đã xuất hiện các quan chức chuyên thu tàng
ấn chương trên cơ sở thu tàng thư pháp, hội họa và nghệ thuật phẩm ở
cung đình. Hoàng đế thường xem các công trình sưu tập ấy (thư, thi, họa)
ban lời khen rồi đóng Tư chương của mình lên. Thi, thư, họa và ấn cùng
phát triển tạo thành sự kết hợp một tác phẩm hoàn mỹ nên từ đó câu “Thi
thư ấn họa” thường đi liền nhau để chỉ một tác phẩm nghệ thuật đã hoàn
thiện. Bên cạnh việc viết chữ, vẽ tranh, làm thơ là việc chế tác ấn
chương. Từ mục đích sáng tác nghệ thuật đã dẫn đến mục đích kinh tế và
từ đây đã hình thành nghệ thuật khắc ấn. Nghệ thuật khắc ấn phát triển,
đồng thời xuất hiện những bài viết và tác phẩm về ấn chương.

Thời Bắc Tống (960 - 1126) những tác giả khắc ấn viết về thi thư ấn họa
nối tiếng đầu tiên phải kể đến Âu Dương Tu[12] (歐陽修). Năm 1061 ông soạn
bộ Tập cổ lục (集古錄) gồm 10 quyển, và năm 1066 ông phụng mệnh làm Bảo ấn
Hoàng đế tôn hiệu chi bảo. Tiếp theo là Tăng Củng[13] (曾鞏) là người đã
tổ chức công trình lớn Kim thạch lục (金石錄) trên cơ sở Triện khắc cổ kim
gồm trên 500 quyển. Tiếp nữa là Mễ Phấn[14] (米粉) là một thư pháp gia
kiêm ấn chương triện khắc gia nổi tiếng đương thời. Một tác gia khác
cũng được sách sử Trung Quốc nhắc tới là Dương Khắc Nhất (陽克一), năm 1107
ông đã soạn sách Tập cổ ấn cách (集古印格) 1 quyển.





Thời Nam Tống (1127 - 1279) có Nhan Thúc Hạ (顏叔夏) soạn Cổ ấn phả (古印譜) 1
quyển. Khương Quỳ (姜葵) làm sách Khương thị tập cổ ấn phả (姜氏集古印譜) gồm 4
sách. Còn phải kể đến Trương Đồng (張同) đã khắc ấn Trương Đồng chi ấn
(張同之印) trên 4 cạnh của trống đồng cổ. Đây là một trong những hình ấn
chương trên trống đồng sớm nhất còn giữ được đến nay, là một trong những
sáng tạo đầu tiên của dòng Triện thư khắc vào trống ở Trưng Quốc. (H.7,
8 & 9)
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:22

3. Ấn chương thời Nguyên (1279 - 1368)

Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt sau khi định đô đã tuyên bố quy định việc
dùng văn tự Bát Tư Ba của đế quốc Nguyên Mông khắp đất nước Trung Hoa.
Quy định tất cả ấn chương của các quan lại ở các cấp chính quyền đều
phải khắc theo thể chữ Bát Tư Ba. Đương thời tầng lớp quý tộc Mông Cổ
làm ấn riêng cũng dùng thể chữ Bát Tư Ba khắc tên vào ấn có tác dụng như
phù hiệu chuyên môn riêng biệt của dân tộc mình. Do đó ấn chương thời
Nguyên đã xuất hiện một hình thức độc đáo mới là “Hoa giáp” (花鉀). Ấn Hoa
giáp đều là Chu văn (朱文) hình thức thường làm hình hồ lô hoặc hình tỳ
bà. Trên mặt ấn văn thì dùng chữ Hán thể Khải thư khắc tên họ, phía
trước thì khắc tên Hoa giáp, loại này còn được gọi là “Nguyên giáp” (元鉀)
và rất thịnh hành vào thời Nguyên.

Tuy nhiên, Hoa giáp hoặc ấn văn Bát Tư Ba chi lưu hành ở trong quan lại,
tướng lĩnh và tầng lớp quý tộc Mông Cổ, còn tư ấn của quan viên và
quảng đại dân chúng người Hán vẫn dùng ấn chương văn khắc theo thể Triện
thư.



Thời Nguyên văn hóa nghệ thuật vẫn duy trì theo truyền thống cũ, sự kết
hợp thi thư ấn họa đã hun đúc nên không ít những con người tài hoa của
lĩnh vực này. Tiêu biểu là Tiền Tuyển (錢選) năm 1279 đầu thời Nguyên ông
đã làm sách Tiền thị ấn phả (錢氏印譜). Ngô Khâu Diễn (呉丘衍) cuối năm 1287
làm sách Cổ ấn thức (古印式). Ngô Phúc Tôn (呉福孫) năm 1311 làm sách Cổ ấn sử
(古印史) , Ngô Duệ (呉睿) năm 1322 làm sách Ngô Mạnh Tư ấn phả (呉孟思印譜), và
sách Hán Tấn ấn chương đồ phả (漢晉印章圖譜). Chu Khuê (朱珪) năm 1359 làm sách
Ấn văn tập khảo (印文集考). (H.10)

4. Ấn chương thời Minh - Thanh (1368 - 1911)

Thời Minh - Thanh xã hội Trung Quốc phát triển đến mức đi lên đỉnh điểm
của thời kỳ phong kiến với rất nhiều biến động. Các lĩnh vực phát triển
mạnh và tập trung chủ yếu ở thành thị. Ngoài Bắc Kinh và Nam Kinh còn
xuất hiện hơn 30 thành thị mới. Nơi đây hội tụ khá đầy đủ tinh hoa của
văn hóa nghệ thuật Trung Quốc đồng thời trong đó có không ít các Triện
khắc gia và các nhà nghiên cứu ấn chương cả người Hán và người dân tộc
khác.

Ấn chương thời Minh - Thanh chia làm hai xu thế thực dụng và nghệ thuật.
Trong giao lưu quan hệ xã hội và kinh tế xu thế ấn chương thực dụng
ngày một được chú trọng hoàn thiện phát triển. Trong sinh hoạt xã hội và
hoạt động văn hóa nghệ thuật nhu cầu dùng ấn chương cũng cao hơn, phong
phú hơn trước; khắc ấn không còn là công tác nghệ thuật hoặc thú tiêu
khiển nữa mà đã trở thành một nghề thủ công nghiệp, làm kế mưu sinh của
không ít người.

Thời kỳ này việc chế tác quan ấn đều theo quy cách chế độ khá hoàn bị.
Đối với quan ấn có quy định rõ về chất liệu, hình thể, thể chữ khắc ấn
v.v… Như quan ấn từ Hoàng đế đến các quan lớn trong triều dùng chất liệu
bằng ngọc, vàng, bạc thể chữ dùng theo thể Thượng phương Đại Triện, ấn
Tướng quân có chất liệu bằng đồng, thể chữ dùng lối Tiểu Triện v.v…

Quy định chế độ ấn chương nhà Thanh áp dụng như nhà Minh và sử dụng các
thể văn tự Hán, Mãn, Mông và Tạng làm văn khắc ấn, trong đó hai loại văn
tự Hán và Mãn được sử dụng để khắc quan ấn. Từ Bảo Tỷ của Hoàng đế đến
ấn chương của quan lại và tướng lĩnh các cấp đều có quy định chế tác về
chất liệu, hình thể, kích cỡ, thể văn tự, họa tiết nhất định. Như các
Bảo Tỷ của Hoàng đế làm cỡ lớn, núm làm hình rồng chất liệu bằng vàng và
ngọc. Buổi đầu khắc cả chữ Hán và chữ Mãn, chữ Hán khắc thể Triện thư,
chữ Mãn khắc nguyên dạng văn tự Mãn. Đến năm 1749 vua Càn Long cho đổi
khắc lại hơn hai mươi Bảo Tỷ vẫn để hai dạng văn tự Hán, Mãn trong một
con dấu nhưng chữ Mãn được khắc uốn theo lối chữ Triện, còn một số Bảo
Tỷ truyền quốc thì vẫn giữ nguyên như cũ.

Nghệ thuật Triện khắc thời Minh - Thanh phát triển mạnh ngày càng khẳng
định đỉnh cao nghệ thuật của ấn chương Trung Quốc. Nghệ thuật hội họa,
thư pháp ngày một tinh mỹ có tác động mạnh đến sự phát triển của nghệ
thuật Triện khắc.

Người khắc ấn không chỉ là người tạo tác công nghệ sản phẩm, không chỉ
làm các dụng cụ làm tín vật nữa mà đã trở thành những con người sáng tạo
nghệ thuật phẩm, lưu thông văn hóa phẩm. Tác phẩm Triện khắc được xã
hội thừa nhận, lưu truyền, từ đó hình thành phong cách nghệ thuật Triện
khắc. Ở các địa khu kinh tế phát triển, số lượng các Triện khắc gia
nhiều và tập trung hơn các nơi khác nên có sự giao lưu và kế tục, từ đó
đã hình thành các trường phái Triện khắc gia ở mỗi địa khu. Những người
khai sáng trường phái Triện khắc đồng thời còn là những nhà thư pháp,
họa sĩ, nghiên cứu tài giỏi; họ đã đóng góp không nhỏ trong sự phát
triển của ấn chương học nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung.



Thời Minh (1368 - 1664) có không ít tác giả, tác phẩm viết về ấn chương,
hàng trăm tác giả nổi tiếng với mấy trăm tác phẩm ra đời trong giai
đoạn này. Tiêu biểu là Lã Chấn (呂震) soạn Lịch đại tỷ ấn phả (歷代璽印譜) năm
1428; Dương Nguyên Tường (楊元祥) soạn Dương thị tập cổ ấn phả (楊氏集古印譜) năm
1587; Trương Học Lễ (張學禮) soạn Khảo cổ chính văn ấn loại (考古正文印類) năm
1589; Lai Hành Học (來行學) soạn Tuyên Hòa tập cổ ấn sử (宣和集古印史) 8 sách năm
1596; Tô Tuyên (蘇宣) soạn Tô Tuyên ấn sách (蘇宣印册) năm 1605 và Tô thị ấn
lược (蘇氏印略) năm 1617; Chu Giản (朱簡) soạn Ấn phẩm (印品) gồm 5 sách năm
1611; Hà Thông (何通) soạn Ấn sử (印史) năm 1623 ; Hạ Thụ Phương (夏樹芳) soạn
Diễn lộ đường ấn thưởng (演露堂印賞) 8 sách năm 1633. Riêng năm Sùng Trinh
thứ 14 (1641) đã có 11 tác giả với 11 tác phẩm viết về ấn chương, đồ sộ
hơn cả là Kim Thân Chi (金申之) soạn bộ Kim thị khảo định ấn phả (金氏考定印譜)
gồm 8 đầu sách.

Sang thời nhà Thanh (1644 - 1911) việc nghiên cứu ấn chương mới thật rực
rỡ với mấy trăm tác gia tác phẩm khác nhau. Nổi bật là các tác gia Hồ
Chính Ngôn (胡正言) với 3 bộ Ấn sử sơ tập (印史初集) làm năm 1645, Ấn tồn sơ
tập (印存初集) năm 1646 và Ấn tồn huyền lãm (印存玄覽) hoàn thành năm 1660. Hứa
Dung (許容) soạn Hứa Mặc công ấn phả (許默公印譜) năm 1674, Thuyết Triện (說篆)
năm 1675, Ấn lược (印略) và Ấn giám (印鑑) năm 1689. Uông Cảo Kinh (汪鎬京)
soạn Hồng thuật hiên ấn tồn (紅術軒印存) năm 1683, và Hoàng Sơn ấn triện
(黄山印篆) năm 1696. Ba anh em Trương Tại Tân, Trương Tại Ất, Trương Tại Mậu
soạn Trương thị nhất gia ấn tồn (張氏一家印存) năm 1720 và Triện tâm ấn pháp
(篆心印法) năm 1738. Cao Phong Hàn (高風翰) soạn Tây viên ấn phả (西圓印譜) năm
1734, Chương Tông Mẫn (章宗閔) soạn Triệu Phong Phu tiên sinh ấn phả
(趙風夫先生印譜) 8 quyển năm 1735 và hoàn thành bộ sách này vào năm 1745 với 12
quyển tiếp.

Chỉ tính riêng đời Quang Tự đã có 54 bộ sách của 45 tác giả viết về ấn
chương. Tiêu biểu là Diêu Cẩn Nguyên (姚鄞元) với Hán ấn ngẫu tồn (漢印偶存) và
Diêu thị ấn tồn (姚氏印存), Dương Thủ Kính (楊守敬) với Ấn lâm (印林) và Dương
thị gia tàng đồng ấn phả (楊氏家藏銅印譜). Ngô Xương Thạc (呉昌碩) với Triện vân
hiên ấn tồn (篆云軒印存). Riêng bộ Ấn lâm của Dương Thủ Kính có tới 14 đầu
sách, trong đó có 3 sách nói về quan ấn với 115 hạng mục gồm 690 ấn, 8
sách nói về Tư ấn với 330 hạng mục gồm 2028 ấn, còn lại 3 sách với 192
hạng mục gồm 786 ấn, tổng cộng tất cả là 3504 ấn được nói tới.

Không riêng các nhà nghiên cứu, văn hóa mà cả giới tăng lữ Trung Quốc
cũng viết về ấn chương. Thời Minh có hòa thượng Thích Long Thái (釋隆彩)
soạn bộ Cổ kim ấn thưởng (古今印賞) năm 1627, Thích Tính Không (釋性空) soạn Ấn
chương tiểu tập (印章小集) năm 1628. Đời Thanh có Hòa thượng Thích Tục Hạnh
(釋續行) soạn bộ Mặc hoa thiền ấn cảo (墨花蟬印鎬) năm 1734 gồm 5 quyển và làm
tiếp 1 sách của bộ này vào năm 1745. Hòa thượng Thích Trúc Thiền (釋竹蟬)
soạn bộ Du hý tam muội (游戲三昧) in năm Quang Tự nguyên niên (1875) gồm 46
sách khảo chứng về 156 hạng mục ấn. (H.11, 12, 13 & 14)
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:22

5. Ấn chương Trung Quốc thế kỷ XX

Trung Hoa Dân Quốc được thành lập năm 1912 và tồn tại đến năm 1949. Đây
là thời kỳ chiến tranh, nội chiến kéo dài trên đất nước Trung Hoa, nó đã
hạn chế rất nhiều sự phát triển của văn hóa nghệ thuật nói chung và ấn
chương học nói riêng. Tuy vậy ấn chương Trung Quốc vẫn tồn tại và không
ngừng đi lên với hàng trăm tác gia và tác phẩm mới. Tiêu biểu là các tác
gia La Chấn Ngọc (羅振玉) soạn nhiều tác phẩm lớn Khánh thất sở tàng tỷ ấn
tục tập (磬室所藏璽印續集) năm 1912, Tề Lỗ phong nê tập tồn (齊魯封泥集存) năm 1927 ,
Ngô Ẩn (呉隱) soạn Tùy Am Tần Hán cổ đồng ấn phả (隨庵秦漢古銅印譜) năm 1914, Tùy
Am ấn học tùng thư (隨庵印學叢書) năm 1920, La Phúc Di (羅福頤) soạn Đãi thời
hiên ấn tồn (待時軒印存) 18 sách năm 1927, và 15 sách năm 1932; Ấn phả khảo
(印譜考) năm 1931, La Phúc Thành (羅福成) soạn Thượng phù tỷ cổ ấn tập tồn
(尚符璽古印集存) năm 1921, Kính ái sơn phòng ấn tồn (敬愛山房印存) năm 1942, Cao Thời
Ngạc (高時鶚) soạn Nhạc chỉ thất cổ tỷ ấn tồn (樂只室古璽印存) và Nhạc chỉ thất
ấn phả (樂只室印譜) năm 1944.

Nghiên cứu ấn chương giai đoạn hiện đại ở Trung Quốc có không ít tác
gia, tác phẩm, trong đó tên tuổi của La Phúc Di sáng chói trong giới ấn
chương học Trung Quốc. Các tác phẩm Ấn chương khái thuật (印章概述) năm 1963
, Hán ấn văn tự trưng (漢印文字徵) năm 1978, Bắc Nguyên quan ấn khảo
(北元官印考), Tây Hạ quan ấn vựng khảo (西夏官印匯考), Cổ tỷ ấn khái luận (古璽印概論),
Cổ tỷ văn biên (古璽文編) và Cổ tỷ vựng biên (古璽匯編) năm 1981. Cận bách niên
lai đới cổ tỷ ấn nghiên cứu chi phát triển (近百年來戴古璽印硏究之發展) và Hán ấn văn
tự trưng bí di (漢印文字徵祕遺) xuất bản năm 1982.

Ngoài ra còn các tác gia khác như Hàn Thiên Hành (韓天衡) soạn chung sách
Tân ấn phả (新印譜) năm 1973, Thư pháp khắc tác (書法刻作) năm 1975, Trung Quốc
triện khắc nghệ thuật (中國篆刻藝術) năm 1980, Ngũ bách niên lưu phái ấn
chương nghệ thuật xuất tân đàm (五百年流派印章藝術出新談) năm 1982, Trung Quốc ấn
học niên biểu (中國印學年表) năm 1987, Mã Quốc Quyền (馬國權) soạn bộ Triện khắc
kinh điển đồ thích (篆刻經典圖釋) năm 1983. Từ Ngân Sâm (徐銀森) biên soạn Trung
Quốc triện khắc (中國篆刻) năm 1994. Lưu Nhất Văn (劉一聞) soạn sách Ấn chương
(印章) năm 1995. Tào Tề (曹齊) soạn Triện khắc chi mĩ (篆刻之美) năm 1996. Nhiệm
Kế Dũ (任繼愈) soạn Trung Quốc đích ấn chương dữ triện khắc (中國的印章與篆刻) năm
1997. Tôn Úy Tổ (孫慰祖) soạn sách Ấn chương (印章) năm 1998 v.v…



Cho đến ngày nay Trung Quốc vẫn còn nhiều tác gia và trường phái nghiên
cứu về ấn chương, Nhà nước và tư nhân vẫn lưu giữ cẩn trọng hiện vật ấn
chương cổ xưa và các loại hình khác có liên quan đến ấn dấu. Nghệ thuật
khắc ấn và phong cách “Thi thư ấn họa” vẫn còn lung linh khắp đô thị
Trung Quốc như khẳng định tính vĩnh cứu của lĩnh vực này. (H.15 &
16)
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:22

III. Khái quát về ấn chương Việt Nam

1. Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ xưa đến nay ít được các học giả chú ý tới. Tuy nhiên việc nhìn nhận đánh giá về vai trò, giá trị của ấn chương trong thể chế phong kiến đứng đầu là Hoàng đế của mỗi triều đại đã được Nhà nước phong kiến Việt Nam đặc biệt chú trọng. Hầu hết các bộ chính sử của nước ta tản mạn đều ghi về việc chế tác và sử dụng Bảo Tỷ, ấn chương của vua và triều thần. Việc ghi chép này thường sơ lược và mang ý nghĩa lịch sử như một số sự kiện khác mà sử quan phải làm.

Thời Nguyễn, các thành viên ở nội các đã hoàn thành bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đồ sộ, trong đó quyển 83 và 84 ghi khá rõ về Bảo Tỷ, ấn triện các loại thời Nguyễn. Đây được coi là phần ghi chép đầy đủ nhất về ấn chương trong các bộ sách sử. Nội dung chủ yếu ở đây là những lời chỉ, dụ, chuẩn tấu, chuẩn nghị của vua và những quy định về việc chế tác, ban cấp, sử dụng, định lệ của mỗi một loại Bảo Tỷ, ấn, Chương, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Ký, Triện. Tuy nhiên, đây cũng chỉ được coi là một số quy định và ghi chép sơ lược về ấn chương thời Nguyễn chứ chưa phải là một phần của công trình nghiên cứu ấn chương. Chúng tôi đã tìm được ở đây một tài liệu quý giá chuẩn xác trong việc nghiên cứu so sánh đối chiếu, trích dẫn tư liệu ấn chương thời Nguyễn.

Cuối thời Nguyễn một học giả Pháp là Pierre Daudin đã giới thiệu đề tài này trong Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises[15]. Mặc dù ở thời điểm thuận lợi nhưng tác giả không trình bày sâu về ấn chương mà ông chỉ giới thiệu sơ lược một vài loại hình ấn như Kim ngọc Bảo Tỷ, Tín ký và thống kê các chức vụ phẩm hàm của quan lại trong triều đình nhà Nguyễn. Cách đánh giá của ông thể hiện sự nhìn nhận tổng thể của một học giả châu Âu đối với vương triều Nguyễn lúc đó. Tuy nhiên chúng tôi cũng đánh giá cao học giả này và coi đây là tài liệu tham khảo có giá trị, so với tất cả các bài viết của các tác giả khác về ấn chương thời Nguyễn.

Sau Pierre Daudin, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã công bố một số tài liệu có in hình dấu thời Tây Sơn trong cuốn La Sơn phu tử[16]. Tuy tác giả không trình bày sâu về ấn chương Tây Sơn, nhưng việc giới thiệu một số văn bản và hình dấu cũng giúp ích nhiều cho chúng tôi về việc so sánh nghiên cứu ấn chương giai đoạn này.

Một học giả nổi tiếng quen biết chúng ta là Giáo sư Trần Kinh Hòa. Ông là người đầu tiên khai thác kho Châu bản quý giá triều Nguyễn và làm sách Mục lục Châu bản triều Nguyễn - Triều Gia Long[17]. Tác giả trình bày sơ lược một số Bảo Tỷ thời Nguyễn triều Gia Long nằm trong phần đầu giới thiệu Châu bản và Nội các. Đoạn nói về Bảo Tỷ tuy sơ lược, nhưng chúng tôi xem đó là tài liệu tham khảo có giá trị bên cạnh Pierre Daudin.

Mấy chục năm qua cũng có số ít tác giả đã giới thiệu về ấn chương Việt Nam trong những bài viết đơn lẻ. Đáng chú ý là những bài như Một số ấn đồng thời Lê Thánh Tông mới phát hiện tại Hà Nội[18], và bài Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được ở nước ta của Nguyễn Văn Huyên. Trong bài viết tác giả chỉ giới thiệu số ít ấn đồng cổ trước thời Nguyễn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và có những nhận xét chung.

Nhiều năm qua trên báo chí công luận lẻ tẻ cũng có ít bài giới thiệu một vài quả ấn mới phát hiện được ở địa phương. Nhìn chung các tác giả trên cơ sở số ít hiện vật ấn chương ở một số Bảo tàng, hoặc những ấn mới tìm thấy, đã giới thiệu đơn lẻ từng quả ấn dưới góc độ của các nhà khảo cổ, bảo tàng và nghiên cứu lịch sử. Như vậy, cho đến nay có rất ít bài nói về ấn chương và chưa có một tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu ấn chương Việt Nam thành một đề tài có hệ thống.


Được sửa bởi ôngBảy ngày 14/2/2010, 15:23; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:23

2. Hiện vật ấn chương - khối tư liệu hiện vật quý giá, quan trọng
trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam


Tháng 3 năm 1974 Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Ty Văn hóa Thanh Hóa
đã tiến hành khai quật tại hai địa điểm Hoa Lộc và Phú Lộc nằm ở ven
biển huyện Hậu Lộc - Thanh Hóa. Đây là những địa điểm được xác định có
di tích hậu kỳ thời đại đồ đá mới. Tại đây đã phát hiện nhiều hiện vật
là công cụ sản xuất, đồ trang sức bằng đá và một số cổ vật bằng gốm
trong đó đặc biệt đã tìm thấy các con dấu hoa văn bằng đất nung. Ở địa
điểm Hoa Lộc đã tìm thấy 11 con dấu hoa văn, còn ở Phú Lộc đã tìm thấy
14 con dấu hoa văn khác cùng 5 mảnh vỡ nhỏ của các con dấu nữa bị vỡ.

Năm 1977 hai nhà khảo cổ học Phạm Văn Kỉnh và Quang Văn Cậy đã giới
thiệu các con dấu hoa văn trên dưới góc độ khảo cổ trong sách Văn hóa
Hoa Lộc. Theo các nhà khảo cổ học thì: “Đây là loại hiện vật được làm
bằng đất nung là loại đất sét pha trộn cát giống như chất liệu làm đồ
gốm cùng tồn tại với chúng. Độ nung khá cao, rất rắn và màu sắc không
hoàn toàn giống nhau. Căn cứ vào sự cấu tạo hình dáng và những đường nét
khắc trên mặt của chúng, có thể đó là những vật dùng để in hoa văn.

Hình dáng của những dấu in này rất khác nhau và kích thước cũng không
đều nhau. Một số chiếc có mặt in hình chữ nhật, một số hình bầu dục, một
số có hình tròn và một số có hình vuông. Mặt in hơi lồi ra một chút và
trên đó có khắc nhiều họa tiết rất khác nhau và cũng rất phức tạp. Lưng
nổi cao lên như hình mu rùa mà ở giữa lưng trong đa số trường hợp đều có
những núm nhỏ hình chóp hoặc hình bầu dục dẹt vừa cầm ở các đầu ngón
tay, loại núm hình bán khuyên tương đối hiếm.

Những họa tiết trên mặt những con dấu này được khắc lõm khá sâu và đều
đặn. Tất cả đều là những hoa văn hình kỷ hà rất phức tạp và cũng rất kỳ
lạ nhưng không giống nhau giữa các tiêu bản. Không thấy có hoa văn hình
người, động vật và cây lá.

Nhìn chung đó là những vật không được trau chuốt cẩn thận, cầu kỳ, hình
dáng đơn giản, chất liệu thông dụng; ít tốn kém. Bởi vậy, chỉ có thể coi
những hiện vật này là những đồ dùng bình thường trong sinh hoạt hàng
ngày, không thể coi là những vật thiêng hoặc tượng trưng cho uy quyền
nào đó.

Tuy vậy, chúng tôi cũng chưa xác định công dụng của những vật này một
cách cụ thể. Tạm thời chúng tôi cho rằng đây không phải là những dấu in
hoặc những bàn dập hoa văn trên đồ gốm, bởi vì trên tất cả các đồ gốm
cùng tồn tại với nó không thấy có những hoa văn giống như các họa tiết
trên mặt nhũng con dấu này. Dựa theo tài liệu dân tộc học, có thể đây là
những con dấu dùng để in hoa văn trang trí trên nền vải hoặc trên người
theo những phong tục có tính chất nghệ thuật hoặc tôn giáo nào
đó…”[19].

Qua nghiên cứu xác định bằng các-bon phóng xạ tất cả các hiện vật trong
đó có các con dấu in hoa văn trên, các nhà khảo cổ học đã ước định được
niên đại của chúng sớm nhất trong khoảng thế kỷ XV - XVI (TCN). Hai nhà
khảo cổ học còn khẳng định “Với văn hóa Hoa Lộc, chúng ta đã phát hiện
được những di tích đầu tiên của những bộ lạc sinh tụ trên miền ven biển
thuộc miền Bắc tỉnh Thanh Hóa trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ II
(TCN), họ đang sống trong giai đoạn cuối cùng của thời đại đồ đá và
chuẩn bị bước sang thời đại kim khí. Đó là những bộ lạc mà về mặt văn
hóa và cũng có thể cả về mặt thân tộc có những quan hệ với những bộ lạc
khác cùng thời đại sinh tụ trên miền Bắc nước ta. Những mối quan hệ đó
đã phản ánh những phong cách văn hóa trong những di vật tìm thấy ở
đây”[20]. Hơn 24 con dấu mà trên mặt được khắc hình họa tiết rất đẹp và
phức tạp đều có mang những ý nghĩa nhất định. Song những ý nghĩa này
chúng ta không thể biết được, chỉ đoán định đưa nó gắn với văn hóa tinh
thần của người Hoa Lộc cổ xưa. Đây không phải là những tín vật làm bằng
chứng, cũng không phải là bàn dấu in trên đồ gốm mà có thể nó là những
con dấu dùng để in hoa văn màu trên vải hoặc trên thân thể người theo
phong tục có ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng hoặc nghệ thuật. Nhận xét này
của các nhà khảo cổ là hợp lý. Đây có thể được coi là tiền thân của ấn
chương xuất hiện tại Việt Nam. (H.17 & 18)




Sự ra đời của ấn chương Việt Nam gắn liền với việc sử dụng chữ Hán trong
giao lưu văn hóa giữa các dân tộc. Ở nước ta, chữ Hán đã có mặt từ đầu
thế kỷ thứ nhất TCN, khi Triệu Đà đã hoàn thành việc thôn tính Việt Nam
(thế kỷ II - TCN) chữ Triện đã được sử dụng trên đất nước Việt Nam. Sau
này nước ta giành được quyền độc lập, chữ Hán, tiếng Hán (đọc theo âm
Hán Việt) vẫn được tiếp tục sử dụng để xây dựng quốc gia độc lập và phát
triển văn hóa dân tộc.

Việc phát hiện 6 chiếc ấn cổ nhỏ trong 6 ngôi mộ cổ ở Thiệu Dương -
Thanh Hóa cũng được coi là chứng tích của ấn chương xuất hiện tại Việt
Nam. Theo các nhà khảo cổ thì đây là những chiếc ấn được đúc và lưu hành
vào khoảng cuối đời Tây Hán đến đầu thời Đông Hán, tương đương với
triều Thục An Dương Vương (Khoảng từ 257 - 147 TCN ở nước ta). Các nhà
khảo cổ học Việt Nam còn tìm thấy một loại ấn cổ gọi là Phong nê ở tỉnh
Quảng Nam. Phong nê này được xác định niên đại cũng vào khoảng thời Hán
cùng thời kỳ của các ấn đồng cổ ở Thiệu Dương - Thanh Hóa trên.

Di chỉ văn hóa Óc Eo thuộc huyện Thoại Sơn - Nam Bộ cũng đã được các nhà
khảo cổ khai quật và công bố. Trong số cổ vật được giới thiệu có 22 con
dấu khác nhau bằng mã não và chì thiếc và chỉ có 4 con dấu là có khắc
chữ. Những con dấu này đã được xác định niên đại vào khoảng từ năm 270
đến năm 530 SCN, nhưng chưa được giới thiệu chi tiết và giải mã văn tự
trên dấu[21]. Năm 1996 Giáo sư Hà Văn Tấn đã công bố việc giải mã 2 con
dấu bằng chì thiếc có khắc văn tự trong số các con dấu trên trong Những
phát hiện mới về khảo cổ học năm 1996.

Theo GS. Hà Văn Tấn: “… Con dấu thứ nhất… Tôi có thể nhận ra chữ ở trên
con dấu là “Apramada”. Đây là chữ viết theo văn tự Pallaca Nam Ấn. (Nếu
viết theo Devanagari hiện nay, ta có ()… Từ này trong tiếng Sanskrit có
nghĩa là “chú ý”. Theo Malleret: “chữ Apramadam khá phổ biến trên các
bùa của chúng ta, người ta biết rằng nó là một trong những từ chủ chốt
của Phật giáo biểu đạt khái niệm cảnh giác vốn rất cần bên ngoài cả các
khái niệm tôn giáo hay triết học mà ngay trong cách ứng xử của cuộc
sống” (Malleret 1960: 332).



Về con dấu thứ hai, GS. Hà Văn Tấn khẳng định: “Đó là từ “Raksanya”
trong ngôn ngữ Sanskrit và được viết bằng chữ Pallava (nếu viết theo
Devanagari hiện nay, ta có (). Từ này có nghĩa là “được che chở, bảo
vệ”, có lẽ là một từ cầu xin với thần linh, có tính chất tôn giáo, như
nhiều từ gặp trên các con dấu khác ở Óc Eo”. (H. 19a & 19b)

Các triều đại phong kiến Việt Nam từ Lý, Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung
hưng, Tây Sơn đến Nguyễn. Thời gian tuy chưa phải là xa lắm nhưng vì
binh hỏa triền miên nên những hiện vật quý giá như ấn chương hầu hết bị
chôn vùi, thất thoát.

Trong một chuyến công tác đến Quảng Tây - Trung Quốc, GS. Hà Văn Tấn đã
tìm thấy dấu tích quả ấn đồng thời Trần của Việt Nam hiện lưu lạc ở đất
Quảng Tây. Quả ấn này được tìm thấy ở núi Lộng Lạc, thuộc công xã Nghĩa
Vu, huyện Điền Đông, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc năm 1983. Đến năm 1999
trên cơ sở bài Khảo về ấn của thổ quan phát hiện ở Quảng Tây của học giả
Nhật Bản Taniguchi Fusao[22], GS. Hà Văn Tấn đã viết bài Về một quả ấn
Việt Nam thời Trần tìm thấy ở Quảng Tây Trung Quốc. Phần cuối ghi rõ:
“Quả ấn có mặt hình vuông, mỗi chiều 50mm, dày 10mm, núm ấn cao 26mm.
Mặt ấn khắc 6 chữ theo lối triện “Bình Tường thổ châu chi ấn”, chia
thành 2 dòng mỗi dòng 3 chữ. Mặt lưng, hai bên núm ấn, có khắc chữ. Bên
phải núm ấn là chữ “Đại Trị ngũ niên”, bên trái núm ấn là 5 chữ “Nhâm
Dần tứ nguyệt chú”.

Đại Trị là niên hiệu của vua Dụ Tông. Đại Trị ngũ niên là năm Đại Trị
thứ năm, tương đương với năm Chí Chính thứ 22 đời Nguyên Thuận Tông, tức
năm 1362 dương lịch. Năm đó cũng là năm Nhâm Dần. “Nhâm Dần tứ nguyệt
chú” là “Đúc tháng tư năm Nhâm Dần”. Nhìn kỹ ảnh chụp, tôi thấy ở đây
chữ “nguyệt” khắc thiếu một nét ngang, đúng với thể lệ viết húy thời
Trần.




Như vậy, đây là một con dấu đời Trần không nghi ngờ gì nữa. Thổ châu là
châu ở miền núi, trong vùng các dân tộc ít người, mà ở đây hẳn là người
Tày. Vấn để ta quan tâm là châu Bình Tường ở đâu?… Theo tôi, châu Bình
Tường chính là Bằng Tường hiện nay. Có một lý do mà người Việt Nam ai
cũng biết là các địa danh có từ Bằng ở vùng biên giới Việt Nam đều viết
chữ Hán là Bình, như Cao Bằng từ lâu đã được viết là Cao Bình”[23].

Cho đến ngày nay số lượng những quả ấn từ thời nhà Trần đến triều Tây
Sơn còn lại không nhiều. Hiện nay tại một số cơ quan Bảo tàng thuộc Bộ
Văn hóa còn lưu giữ được một số ấn đồng cổ, những ấn cổ này đã được xác
định niên đại một cách chính xác. Đầu tiên phải kể đến ấn Môn hạ sảnh ấn
được tạo năm Long Khánh thứ 5 đời Trần Duệ Tông (1377). Các ấn thời Lê
sơ là Thuần tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn đúc năm Hồng Đức thứ 24 đời
Lê Thánh Tông (1493), ấn Phụng mệnh tuần phủ đô tướng quân ấn tạo năm
Hồng Thuận thứ 6 (1514) và ấn Đề thống tướng quân chi ấn được đúc năm
Hồng Thuận thứ 7 (1515).

Ba quả ấn thời Mạc còn bảo quản được là Hoành hải hậu sở chi ấn đúc năm
Đại Chính thứ 5 (1534), ấn Thanh tái tá sở chi ấn đúc năm Cảnh Lịch thứ 2
(1549) và ấn Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn được tạo năm Thuần
Phúc thứ 3 (1564).

Hiện vật ấn chương thời Tây Sơn còn lại là 4 quả ấn đồng được lưu giữ ở
những địa phương khác nhau, trong đó có 3 ấn tướng lĩnh quân đội và một
ấn hành chính cấp huyện. Đó là ấn Suất trung lương nhị vệ tam hiệu trung
lang tướng, Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu đô ti, Tây kỳ phủ trung tín
nhất vệ hộ quân sứ vinh hoa hầu và Bằng Tuyên huyện quản lý. Các ấn đồng
này được tạo cùng một thời gian là năm Tân Hợi 1791 niên hiệu Quang
Trung.

Số lượng hiện vật ấn chương phong phú và đa dạng với nhiều loại hình,
chất liệu, kích cỡ là những quả ấn thuộc thời Nguyễn qua hàng chục đời
vua từ Gia Long đến Bảo Đại. Hiện được bảo quản tại những Bảo tàng lớn ở
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế và nhiều địa phương trong cả nước,
số hiện vật ấn chương thời Nguyễn lên tới hàng mấy trăm đơn vị ấn khác
nhau. Giá trị hơn cả là những Kim Ngọc Bảo Tỷ của các vua Nguyễn có chất
liệu bằng ngọc, vàng, bạc, đồng dát vàng, dát bạc, đá cùng ngà quý; và
đơn giản là những quả ấn gỗ được lưu giữ tại các đền, chùa ở nhiều địa
điểm khác nhau.

Hiện vật ấn chương thời Nguyễn và các triều đại trước Nguyễn là khối tư
liệu hiện vật quý giá rất đáng tin cậy. Mỗi một quả ấn khi in xuống
giấy, lụa sẽ cho ra đời một văn bản Hán Nôm hoàn thiện, cô đọng. Những
dòng chữ Hán khắc trên mặt ấn sẽ giúp ích cho việc xác định niên đại, cơ
quan và địa chỉ tạo ấn, trọng lượng của ấn và nhiều khi giúp cho việc
Chân hóa chữ Triện được chuẩn xác. Hiện vật ấn chương đóng vai trò quan
trọng trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam và xây dựng bộ môn ấn
chương học của chúng ta hiện nay.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:24

3. Hình dấu trên văn bản, văn khắc Hán Nôm - mảng tư liệu phong phú, đa dạng đóng vai trò chủ yếu trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam

Những tư liệu Hán Nôm có in hình con dấu các loại là cơ sở tư liệu quan trọng và chủ yếu trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam. Đáng tiếc vì nạn binh hỏa, thiên tai bao thế kỷ đã làm thất thoát nhiều tư liệu Hán Nôm quý, nhất là những tư liệu cổ. Mảng tư liệu này hiện nay một phần nằm trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một phần nằm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, một phần nằm ở nhiều cơ quan Văn hóa trong cả nước và một phần còn lại còn rải rác trong dân gian trên phạm vi toàn quốc.

Văn bản Hán Nôm có niên đại cổ lưu hành ấn dấu chỉ tồn tại trong loại hình văn bản hành chính như sắc phong, chiếu, dụ, lệnh chỉ, bằng cấp, chứng nhận v.v… Văn bản cổ nhất có niên đại từ năm Đại Hòa thứ 9 (1451) đời Lê Nhân Tông là một bằng chứng nhận về ruộng đất. Trên văn bản còn lưu hình dấu kiềm của một chức nhỏ thuộc Tán trị Thừa chính sứ ty của châu Hóa lộ Thuận Hóa. Hiện nay văn bản này được lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế.

Một văn bản cổ nữa có hình dấu ấn còn giữ được nguyên vẹn đến nay có niên đại ghi ngày 15 tháng 11 năm Hồng Đức thứ 19 (1488) đời Lê Thánh Tông. Đây là bản sắc chỉ của bộ Lại xét cấp phong chức Phòng ngự Thiêm sự cho một viên quan giữ châu Tàm, phủ Thanh Đô. Dòng niên đại còn lưu hình dấu son lớn Lại bộ chi ấn, và giữa sắc chỉ có in nửa hình dấu Lại bộ chi ấn này để đánh dấu đây là loại văn bản gọi là “Bằng Khám hợp” ở thời Lê sơ. Văn bản hiện được lưu giữ ở Cục lưu trữ Nhà nước tại Hà Nội.

Nghiên cứu dấu trên sắc phong, chúng tôi đã tìm thấy các dấu sắc phong thần ở hai điểm di tích khác nhau thuộc hai tỉnh Thái Bình và Hà Tây. Các sắc phong này có niên đại thuộc các năm Minh Đức nguyên niên (1527), Quảng Hòa sơ niên (1540), Sùng Khang cửu niên (1547) và Cảnh Lịch sơ niên (1548) thời Mạc, với hình dấu son Sắc mệnh chi bảo in trên dòng ghi niên đại. Bảo ấn Sắc mệnh chi bảo này được làm từ thời Lê Thái Tông mà sử cũ đã ghi lại “Năm Thiệu Bình thứ 2 (1435) Lê Thái Tông cho đúc 6 ấn vàng dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại”. Như vậy, ta thấy loại hình sắc phong đi liền với hình dấu Sắc mệnh chi bảo, định lệ này trải qua nhiều đời vua Lê và khi nhà Mạc nắm chính quyền vẫn dùng Bảo ấn Sắc mệnh chi bảo đóng trên sắc phong.

Loại văn bản lệnh chỉ có in hình dấu ấn mà bản cổ nhất chúng tôi đã in chụp được là Lệnh chỉ Bình An vương lệnh chỉ ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ghi niên đại năm Quang Hưng thứ 22 (1599) đầu đời Lê Trưng hưng, có hình dấu son với 4 chữ Triện Bình an vương tỷ đóng ở dòng ghi niên đại và chỗ giáp lai. Đây là dấu Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh Tùng in trên bản Lệnh chỉ gửi cho xã Vũ Liệt huyện Thanh Chương, Nghệ An.

Thời Lê Trung hưng chúng tôi còn tìm thấy một số hình dấu của các chúa Trịnh in trên những văn bản Hán Nôm khác như dấu của Thanh Đô vương Trịnh Tráng ở văn bản đời Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), Tây vương Trịnh Tạc ở văn bản đời Vĩnh Trị thứ 5 (1680), An Đô vương Trịnh Cương ở văn bản Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709), Uy Nam vương Trịnh Giang trên văn bản năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), Minh vương Trịnh Doanh ở đời Cảnh Hưng thứ 2 (1741), Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm vào năm Cảnh Hưng thứ 28 (1768), Đoan vương Trịnh Tông năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) và Cảnh Hưng thứ 46 (1785).

Qua các hình dấu của các chúa Trịnh trên chúng tôi thấy, theo điển chế của các triều đại trước đời Lê Thế Tông thì chỉ có Hoàng đế mới được dùng Bảo, Tỷ đóng trên các chiếu văn, sắc phong, lệnh chỉ, lệnh dụ. Ở đây các chúa Trịnh mà bắt đầu từ Trịnh Tùng đã được dùng Tỷ ấn đóng trên bản lệnh chỉ của mình ban xuống, việc này mang ý nghĩa lịch sử quan trọng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Mở đầu cho một thời kỳ thống trị mới của triều đình thời Lê Trung hưng tồn tại cả vua và chúa mà thực trạng quyền hành nằm trong tay nhà chúa.

Ấn chương không chỉ in hình lại trên tư liệu thành văn giấy lụa mà còn lưu tích lại trên các tư liệu hiện vật như bia đá, ma nhai. Trên phiến đá ở động Tuyết Sơn, chùa Hương, Hà Tây còn lưu giữ hai hình dấu lớn Ngự bút và Vạn cơ thanh hạ khắc dưới bài thơ Đăng Tuyết sơn hữu hứng của chúa Trịnh Sâm. Trên tấm bia Thự bút ngự tứ hiện còn ở xã Phương Triện, Gia Bình, Bắc Ninh có khắc hình Ngự tiền chi bảo dưới dòng ghi niên đại thời Lê Cảnh Hưng.

Thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng ấn chương giai đoạn này khá đa dạng và còn không ít tư liệu với nhiều loại văn bản khác nhau có in hàng chục loại dấu khác nhau. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã có công sưu tầm, lưu giữ những tài liệu quý giá này và tặng lại cho nước nhà mà chúng tôi đã may mắn chụp được nguyên bản tài liệu gốc. Những hình dấu các dạng còn in lại trên văn bản Hán Nôm điển hình như dấu Quảng vận chi bảo và Ngự dụng chi bảo trên chiếu thư đời Thái Đức, Quang Trung. Dấu Tiên nhu chi bảo, Sắc mệnh chi bảo in trên sắc phong thời Cảnh Thịnh; dấu Triều đường chi ấn của triều đình Tây Sơn trên một tờ truyền, dấu Nghệ An trấn phủ chương của chức Trấn thủ trấn Nghệ An trong chính quyền địa phương thời Tây Sơn.

Từ các hình dấu trên văn bản mà tìm lại được tên tuổi của các nhân vật lịch sử thời Tây Sơn như dấu Hoàng thái tử thủ tín của Nguyễn Quang Toản in năm Quang Trung thứ 3 (1790) khi còn làm Thái tử. Dấu Khâm sai tiết chế hữu khang kiêm dân thứ vụ chi ấn của Khang Công Nguyễn Quang Thùy khi lãnh chức Khâm sai Tiết chế thủy bộ chư doanh kiêm Tổng binh dân thứ vụ in năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797). Dấu Đại tư mã chi ấn của Đại Tư mã Nguyễn Văn Tứ in năm Bảo Hưng thứ 2 (1802).

Hình dấu góp phần trong việc khẳng định bút tích của các nhân vật lịch sử thời Tây Sơn như dấu Trung thư lệnh chi chương của Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ có niên hiệu Quang Trung thứ 2 (1789), dấu Nghệ An trấn phủ chương và Nghệ An trấn ký của Trấn thủ Nghệ An Nguyễn Văn Thận trên hai văn bản đời Thái Đức thứ 11 (1788) và đời Quang Trung thứ 2 (1789).

Một số dấu kiềm nhỏ in kèm cùng với các hình dấu lớn chính trên văn bản từ đời Thái Đức đến Bảo Hưng như dấu Tiểu ấn, Tín ấn, Quang hầu, v.v… góp phần quan trọng trong công tác văn bản và nghiên cứu, đồng thời cũng chứng minh cho sự đa dạng của ấn chương thời Tây Sơn.

Thời Nguyễn với số tư liệu hiện vật ấn chương còn giữ được khá phong phú và khối tư liệu thành văn Hán Nôm đồ sộ có in nhiều hình dấu ấn là cơ sở tư liệu chủ yếu quan trọng trong việc nghiên cứu ấn chương. Trước tiên phải kể đến Kim Ngọc Bảo Tỷ của các hoàng đế triều Nguyễn, đó là những quả ấn được làm bằng ngọc (Ngọc Tỷ) được đúc bằng vàng, bạc (Kim Bảo Tỷ). Ấn vàng làm từ đời Chúa Nguyễn Phúc Chu được coi là ấn truyền quốc nhà Nguyễn có tên gọi Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo hiện còn lưu tích trên tấm bia đá chùa Thiên Mụ (Huế). Thời Gia Long làm ra các Bảo Tỷ là Chế cáo chi bảo, Quốc gia tín bảo, Sắc chính vạn dân chi bảo, Thảo tội an dân chi bảo, Ngự tiền chi bảo, Mệnh đức chi bảo, Văn lý mật sát, Phong tặng chi bảo, Trị lịch minh thời chi bảo và Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành.

Minh Mệnh lên ngôi song song với công cuộc cải cách hành chính là việc chế tác và hoàn thiện các loại Bảo Tỷ ấn triện. Điển hình là những Kim Ngọc Bảo Tỷ: Hoàng đế tôn thân chi bảo, Sắc mệnh chi bảo, Minh Mệnh thần hàn, Hoàng đế chi tỷ, Hành tại chi tỷ. Năm 1839 khi đổi quốc hiệu là Đại Nam, Minh Mệnh cho khắc ấn ngọc Đại Nam thiên tử chi tỷ để sánh với nhà Đại Thanh Trung Quốc.

Đến đời Thiệu Trị và Tự Đức có làm thêm một số Bảo Tỷ nữa như Đại Nam hoàng đế chi tỷ, Đại Nam hiệp kỷ lịch chi bảo và đặc biệt là Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ được coi là ấn truyền quốc của nhà Nguyễn.

Các Kim Ngọc Bảo Tỷ trên đều được dùng cho một loại văn thư chỉ định như Bảo Chế cáo chi bảo dùng đóng trên tờ huân giới chiếu lệnh thăng giáng cấp bậc, sai phái quan tướng; Quốc gia tín bảo dùng đóng trên văn kiện triệu tập các tướng lĩnh, phát động binh sĩ nhập ngũ v.v… Hầu hết các hình dấu Kim Ngọc Bảo Tỷ trên hiện nay vẫn được lưu giữ trong nhiều loại văn bản thời Nguyễn ở kho Châu bản, ở một số thư viện, bảo tàng lớn và trong dân gian.

Những cơ quan trung ương thời Nguyễn có liên hệ mật thiết đến ấn chương đầu tiên phải kể đến Nội các với chức năng gắn liền với Kim Ngọc Bảo Tỷ và các loại hình ấn chương khác. Với chức năng Văn phòng của Hoàng đế, Nội các chịu trách nhiệm tiếp nhận, xem xét, duyệt đóng dấu, chuyển và lưu giữ các loại hình văn bản: phiến, phiếu, chỉ dụ, tấu sớ v.v… Hiện nay một số văn bản trong kho Châu bản thời Nguyễn còn lưu hình các dấu Văn thư phòng quan phòng, Sung biện nội các sự vụ quan phòng và Nội các đã minh chứng cho vấn đề này.

Hệ thống lục Bộ thời Nguyễn với nhiều chức quan có con dấu riêng còn lưu lại trên văn bản Hán Nôm; đứng riêng từng Bộ như dấu Lễ bộ đường chi ấn (đời Gia Long), Hình bộ chi ấn (đời Minh Mệnh); in chung trong các cuộc họp liên như dấu Hình bộ thượng thư quan phòng, Binh bộ tả tham tri quan phòng, Lại bộ hữu thị lang quan phòng v.v… Các dấu này đều đi liền với chức danh tên tuổi cơ quan của chủ sở hữu của con dấu. Tìm hiểu ấn chương ở hệ thống lục Bộ chúng tôi còn phát hiện những hình dấu trên văn bản dùng khi cấp Bộ xuất hành ngoài kinh như dấu Binh bộ hành ấn, Hình bộ hành ấn và đồng thời với chức quan cấp Bộ là chức hàm Đại học sĩ với những hình dấu như Cần Chánh điện đại học sĩ quan phòng của Thượng thư bộ Binh Trương Đăng Quế.

Những dấu tích về quân đội thời Nguyễn chủ yếu nằm ở kho Châu bản thuộc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. Trong các tập tấu đời Minh Mệnh, Thiệu Trị chúng tôi đã in sao được một số hình dấu của các tướng tá ở nhiều đơn vị, binh chủng và khu vực khác nhau. Dấu Trấn tây tướng quân chi ấn trong một bản tấu trình gửi về kinh của các quan tướng trấn Tây thành. Một loạt dấu Quan phòng khác nhau của các tướng lĩnh in trên văn bản ở quyển Minh Mệnh 18 là dấu Chưởng trung quân quan phòng, dấu Thần sách hữu doanh quan phòng và dấu Hữu thống chế quan phòng. Các dấu Tiền quân đô thống phủ quan phòng, và Hổ oai thống chế quan phòng được in trên văn bản đời Thiệu Trị thứ 5 (1845). Hai dấu Thống đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng và Tham tán quân vụ quan phòng in liền nhau trong một bản tấu ghi niên đại Tự Đức thứ 13 (1860) v.v…

Ấn dấu Đồ Ký được dùng cho các chức đơn vị quân đội cấp thấp, như dấu Loan giá vệ đồ ký, Nam hưng đồ ký, Cẩm y túc trực đồ ký, Kinh tượng nhất vệ đồ ký v.v… đều được lưu tích trong quyển 53 đời Minh Mệnh thứ 9.

Hình dấu ấn chương trong các cấp chính quyền địa phương thời Nguyễn còn lưu lại nhiều ở các tập Công văn cổ chỉ, Công văn cựu chỉ và trong Châu bản, địa bạ. Giai đoạn quân quản Gia Long chia nước thành ba khu vực đặt cấp thành quản các trấn, doanh, đạo cho các tướng đứng đầu mỗi địa phương. Các hình dấu Bắc thành tổng trấn chi ấn, Gia Định thành tổng trấn chi ấn, Thanh Hoa trấn thủ chi chương, đi liền với một số nhân vật tên tuổi như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Nhân gắn với một số sự kiện lịch sử đương thời.

Minh Mệnh lên ngôi đã tiến hành công cuộc cải cách hành chính, bãi bỏ cấp thành và đổi các trấn thành tỉnh và đặt các chức vụ cấp bậc mới v.v… Những hình dấu Quảng Nam Quảng Ngãi tổng đốc quan phòng, Ninh Bình tuần phủ quan phòng, Hưng Hóa bố chính sứ ty chi ấn, Hà Nội án sát ty chi ấn, Quốc Oai phủ ấn, Quốc Oai phân phủ đồ ký, An Lập huyện ấn, Nà Bôn thổ châu đồ ký, Quỳnh Côi huấn đạo đồ ký v.v… và một số dấu kiềm đi kèm và chứng minh cho cải cách chính quyền địa phương thời Minh Mệnh.

Các dấu Kiềm ký như Đại quân môn thủ hộ kiềm ký, Cần Giờ hải khẩu tấn thủ kiềm ký v.v… thể hiện tính đa dạng của ấn chương thời Nguyễn. Hình dấu Đồng Xuân tổng cai tổng ký, Đồng Xuân phường lý trưởng ký v.v… chứng minh sự hoàn thiện của ấn chương cấp chính quyền địa phương thời Nguyễn.

Những ví dụ về dấu Tín ký và Ký như Trần Lễ Nghi tín ký, Trần Tố ký, Hậu bổ Hồ Trọng Phiên v.v… đã tăng số lượng về loại hình ấn chương Việt Nam lên một bậc nữa.

Giới thiệu ấn chương Việt Nam không thể không nói tới ấn tín tư nhân trong xã hội phong kiến Việt Nam xưa. Tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực thương mại, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng, tư liệu ấn tín tư nhân chúng tôi sưu tầm được có niên đại số ít ở thời Hậu Lê còn chủ yếu là ở thời Nguyễn.

Ấn dấu tư nhân trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật rất đa dạng và phong phú, không chỉ là những quả ấn nhỏ hay vừa với nhiều kiểu dáng khác nhau mà nhiều hình dấu còn được chạm khắc trên nhiều hiện vật gốm sứ, kim loại hay đồ gỗ. Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã chụp ảnh được một số ấn tín có nội dung ghi tên hiệu người như ấn dấu Lan Sương, Tùng Tuyết Trai ghi lại hay ý đẹp như Ca vịnh thái bình, Thuận cát, Tường hợp v.v…

Một số dòng họ nổi danh đều có ấn tín vuông đánh dấu vào sách vở và hiện vật gia tộc như dấu Danh gia tàng thư của dòng Ngô gia văn phái, dấu Danh gia hội tuyển của dòng họ Bùi Huy Bích v.v…

Thời Nguyễn các nhà tàng bản xuất hiện ngày càng nhiều, trên những ấn bản có in hình dấu riêng của mỗi nhà, như nhà tàng bản Đa văn đường còn lưu lại hình con dấu Đa Văn đường; các dấu kiểu này còn tìm thấy nhiều trong một số sách in ở cuối thời Nguyễn.

Trong lĩnh vực thương mại ấn tín tồn tại gắn liền với những chức năng cơ bản của ấn chương là khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực. Tại một số đô thị lớn thời trước như Hội An chúng tôi đã in, chụp được ấn tín của một số cửa hàng người Việt gốc Hoa như ấn dấu Diệp Khải Minh ấn, Diệp Truyền Anh chương, Diệp Đồng Xuân của các thương nhân họ Diệp. Ấn dấu Quảng Đông di xương âm của hiệu kim hoàn, dấu Miên Xương của hiệu bông vải sợi và Quảng Đông Nhị Thiên đường của hãng dầu Nhị Thiên đường nổi tiếng vẫn giữ và tồn tại đến nay; nó là những minh chứng sống động về chức năng tín thực của ấn tín tư nhân trong lĩnh vực thương mại, mà ngày nay rất nhiều hiệu kim hoàn và cửa hàng y dược còn duy trì v.v…

Ở lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng, ấn tín tồn tại phát triển khá phong phú. Trong lòng các ngôi chùa cổ và nhất là những ngôi đền, điện thờ thuộc Đạo giáo và thậm chí cả ở tư gia của một số thầy pháp ở nước ta hiện nay còn bảo lưu rất nhiều ấn tín thuộc lĩnh vực này. Đó là những quả ấn gỗ, đôi khi là ấn đồng có ngoại hình tạo tác đơn giản nhưng với nhiều kiểu dáng khác nhau. Chỉ tính riêng một ngôi điện thờ đức Thánh Trần cách Hà Nội hơn 30km chúng tôi đã tìm thấy gần 30 quả ấn gỗ khác nhau có niên đại cách ngày nay trên dưới 200 năm.

Giá trị của những quả ấn thuộc lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng không phải là ngoại hình với nhiều kiểu chạm khắc như ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật mà là nội dung văn khắc trên một con dấu. Đó là những hình dấu khác nhau trên các loại văn bản tấu, sớ, bùa chú có nội dung khác nhau. Ở Phật giáo là những lá sớ mà dưới chữ “Thiên vận” hoặc “Tuế thứ” bao giờ cũng có hình dấu vuông in bốn chữ Phật pháp tăng bảo. Ấn dấu Phật pháp tăng bảo được tìm thấy ở nhiều ngôi chùa khác nhau với kích cỡ, bố cục tự dạng khác nhau nhưng đều có chung nội dung bốn chữ như trên.

Đạo giáo Việt Nam bao năm nay tồn tại bên cạnh Phật giáo, hòa trộn cùng Phật giáo với tiền Phật hậu Thánh, tiền Thánh hậu Phật. Sự đa dạng của Đạo giáo là các ngôi đền, điện thờ đức Thánh Trần, công đồng tam, tứ phủ cùng chư vị Thánh mẫu v.v… đã được hiện vật ấn tín chứng minh. Những ấn dấu lớn về Trần Hưng Đạo như Cửu thiên vũ đế Trần triều Hưng Đạo đại vương chi ấn, Trần Hưng Đạo vương ấn. Về Điện súy Phạm Ngũ Lão như Trần triều điện súy, Trần triều điện súy thượng tướng quân quan nội hầu chi ấn. Về công đồng như Tam phủ công đồng ấn và Nam tào bắc đẩu, Thiên lôi thần tướng v.v… Tất cả đã vẽ nên bức tranh tôn giáo tín ngưỡng sinh động, đượm màu sắc văn hóa dân gian Việt Nam tồn tại qua bao thế kỷ.

Có thể nói rằng sự đa dạng phong phú của ấn tín tự do trong các lĩnh vực thương mại, văn hóa nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng thục sự sẽ trở thành mảng đề tài không nhỏ trong ấn chương học. Nhìn từ góc độ khoa học xã hội và văn hóa nói chung thì công tác nghiên cứu ấn chương cũng như một số lĩnh vực khác như bia ký, minh văn v.v… đòi hỏi ở mỗi người nghiên cứu một tri thức liên ngành. Ngoài gốc cơ bản chữ Hán Nôm, những tri thức rất cần thiết bên cạnh ngữ văn học là lịch sử, triết học, tôn giáo, văn hóa dân gian và cả khảo cổ học nữa. Nghiên cứu ấn chương Việt Nam cũng góp phần chứng minh cho công tác Hán Nôm - Một khoa học liên ngành, một dạng văn hóa học trong nền tảng khoa học và văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:24

IV. Hình thức và tính chất các loại hình ấn và dấu Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX

A. CÁC LOẠI HÌNH VÀ CÁC KIỂU HÌNH THỂ ẤN CHUƠNG

1. Tên gọi các loại hình ấn chương

Theo thống kê thì có các loại hình ấn chương sau: Tỷ, Bảo, ấn, Kiềm ấn, Chương và Tín chương, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Tín ký, Ký, Ký triện hay Triện. Ở đây chúng tôi xin trình bày một cách khái quát, có hệ thống và định nghĩa sơ lược mỗi loại hình ấn chương từ Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế xuống đến Ký triện của Tổng, Lý cấp tổng, xã.

* Kim ngọc Bảo Tỷ 金玉寶璽

Kim ngọc Bảo Tỷ là những ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại. Ấn được làm bằng ngọc gọi là “Ngọc Tỷ”, được đúc bằng vàng, bạc gọi là “Kim Bảo Tỷ”.

* Ấn 印

Ấn là ấn lớn của cơ quan từ trung ương xuống đến địa phương cấp huyện, châu và trong quân đội một số tướng lĩnh cũng được sử dụng loại ấn này.

Phân biệt từ “ấn” ở đây là danh từ riêng chỉ loại hình ấn lớn mà cơ quan dùng. Ấn ở đây cũng như “Tỷ”, “Bảo” là chữ đứng cuối cùng ở dòng chữ trong dấu, khác với từ “ấn” 印 là danh từ chung chỉ tất cả những loại hình ấn khác nhau.

* Kiềm ấn 鈐印

Là ấn nhỏ của cơ quan, đi liền cặp với ấn lớn của cơ quan và Quan phòng lớn của các quan chức lãnh đạo, thường gọi là bộ ấn kiềm. Kiềm ấn còn gọi là kiềm hay dấu kiềm chỉ loại ấn rất nhỏ, khác với Kiềm ký.

* Chương 章 và Tín chương 信章

Chương và Tín chương là ấn dùng cho quan đứng đầu cấp doanh, trấn, đạo (tức chính quyền địa phương cấp tỉnh, dưới tỉnh) và một số đơn vị chức vụ tương đương tồn tại từ trước đời Gia Long đến Minh Mệnh thứ 13 (1802-1832).

* Quan phòng 關防

Quan phòng là ấn chức vụ của các quan chức, tướng lĩnh, thường gọi là Quan phòng chức vụ. Quan phòng chức vụ bắt đầu dùng từ thời Nguyễn.

* Đồ ký 圖記

Đồ ký là ấn dùng cho các quan dưới chức quan lớn chính ngạch, thường là các quan nhỏ phụ trách phân phủ, phụ trách giáo dục ở phủ, huyện v.v… Trưởng quan các Ty, Sở và sĩ quan đứng đầu các Vệ, Cơ, Thuyền của quân đội. Đồ ký ra đời và sử dụng ở thời Nguyễn.

* Kiềm ký 鈐記

Kiềm ký là ấn dùng cho chức chỉ huy ở cửa thành, cửa khẩu, cửa biển, đồn trạm v.v… những đơn vị nhỏ có tính chất riêng biệt.

* Tín ký 信記

Tín ký là ấn riêng cho tất cả các quan viên, văn, võ trong triều ngoài kinh từ đại thần, vương công đến hàng bát, cửu phẩm.

* Ký 記

Ký là loại ấn nhỏ dùng cho các lại thuộc ở cơ quan như Thư lại, Vị nhập lưu thư lại, những người chưa có phẩm hàm hoặc phẩm hàm thuộc hàng thấp nhất.

* Triện 篆 hay Ký triện 記篆

Triện hay Ký triện là loại ấn nhỏ của Cai tổng (Chánh tổng) và Lý trưởng - những người đại diện cho chính quyền địa phương ở cấp thấp nhất.

* Ấn tín tư nhân 私印

Ấn tín tư nhân là tất cả những quả ấn của cá nhân dùng với tính chất tự do trên mọi lĩnh vực trong xã hội. Thường gọi là “Tư ấn” (私印) để phân biệt với “Quan ấn” (官印).
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:24

2. Hình thể các loại hình ấn chương

Hình thể các loại hình ấn chương từ Bảo Tỷ của Hoàng đế đến Triện của Tổng, Lý rất đa dạng phong phú và được làm theo đúng quy chế mà vua ban hành.

* Bảo, Tỷ

Những Bảo, Tỷ của vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại núm thường làm theo hình rồng với những kiểu dáng khác nhau: Rồng cuốn, rồng ngồi, rồng đứng, rồng đi. Có ấn lại làm hai con rồng cuốn nhau. Số ít Bảo Tỷ dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại thì làm theo hình kỳ lân.

* Ấn

Ấn lớn thì có ngoại hình đa dạng hơn. Đa số ấn của các triều đại đều làm kiểu núm chuôi vồ. Riêng triều Nguyễn ấn Đình thần Đình thần chi ấn núm được chạm con rồng có sừng. Ấn ở lục Bộ và Tôn nhân phủ núm chạm kỳ lân. Ấn tướng lĩnh cao cấp, ấn trường thi và ấn các doanh, trấn núm chạm hình hổ hoặc hình sư tử, ấn có núm hình lạc đà là ấn của một viện hoặc ấn gia phong cho các nước Vạn Tượng, Cao Miên. Ấn lưu kinh làm theo hình núi. Ấn ở lục Tự, chư nha, ấn quan Bố chánh, Án sát và cấp phủ, huyện, châu được làm theo kiểu chuôi vồ (núm thẳng).

* Quan phòng

Quan phòng chức vụ các cấp ngành có hình thể không kém phần đa dạng. Quan phòng của Đại học sĩ, Thượng thư, lục Bộ, Tả hữu Đô ngự sử núm chạm hình lạc đà. Các tướng lĩnh chức Đô thống, Đô thống chế, Thống chế, các Tào (cấp thành), Quản lý Thương thuyền và Quốc tử giám đều có Quan phòng núm hình sư tử. Quan phòng của Kinh lược, Tham tán, Khâm sai, Khâm phái đại thần, Thanh tra và Tham tri, Thị lang lục Bộ, Tổng đốc, Tuần phủ, Đề đốc, Lãnh binh, Thị vệ có núm hình chuôi vồ. Quan phòng của Thái y viện, Văn thư phòng chạm hình rau tảo. Quan phòng của Nội các lại có núm hình tay quai (vòng tròn).

* Đồ ký, Kiềm ký, Tín ký, Ký, Triện và Ký triện

Các loại hình ấn này đều có hình thể đơn giản. Đồ Ký cấp Cơ, Vệ trong quân đội và cấp Phân phủ thì núm làm hình tay quai còn tất cả các loại ấn còn lại có núm chuôi vồ, dài hoặc ngắn tùy theo chức vụ.

* Kiềm ấn

Có ngoại hình đơn giản nhất theo kiểu hình tháp bằng đầu.

* Ấn tín tự do trong dân gian tùy tiện nhưng không kém phần rực rỡ. Có ấn làm rất cầu kỳ (lĩnh vực nghệ thuật), có loại rất đơn giản (trong thương trường).

Hình thể ấn chương các loại rất đa dạng phong phú, không chỉ phần núm chuôi ấn được chạm khắc mà dưới mặt dấu ở viền vòng ngoài cũng được khắc rất tinh xảo. Là hình lưỡng long chầu nhật, nguyệt, hình họa tiết hoa lá, hình môtíp uốn khúc kiểu cung đình. Đặc biệt là những Ngọc Tỷ của Hoàng đế triều Nguyễn được những nghệ nhân đương thời trổ hết tâm lực, giũa khắc hình rồng, lân ở nhiều thế khác nhau. Tiêu biểu là Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ với hình rồng uốn khúc cao hơn 4 tấc được coi là một trong những báu vật truyền quốc quý nhất triều Nguyễn.

Kỹ thuật đúc Bảo Tỷ, ấn, Chương bằng vàng, bạc và đồng cũng như việc chạm khắc ấn bằng chất liệu đá quý, ngà và gỗ là chứng minh sống động cho sự đa dạng và phong phú của mỹ thuật điêu khắc chạm trổ Việt Nam từ thế kỷ XV đến XIX.

Theo thống kê thì trọng lượng và thể tích của ấn chương tỷ lệ thuận với cơ quan, đơn vị, chức vụ quan lại các cấp. Hình thể Bảo Tỷ của vua đa phần có khối lượng và trọng lượng lớn hơn các loại hình ấn khác.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:24

3. Chất liệu của các loại ấn chương

Chất liệu để làm ra Kim ngọc Bảo Tỷ và tất cả các loại ấn từ thời Lê sơ đến thời Nguyễn đều phải theo quy chế của Hoàng đế và triều đình. Những quy chế này mang tính kế thừa, rập khuôn các vương triều trước đồng thời mô phỏng theo quy chế ấn chương của Trung Quốc. Những chất liệu đó là ngọc, vàng, bạc, ngà quý và ngà thường, đá quý, cẩm thạch, gỗ quý và thuỷ tinh.

Tỷ của Hoàng đế bao giờ cũng được làm bằng ngọc, cho nên loại hình này có tên là Ngọc Tỷ. Có loại ngọc thường, có loại ngọc tốt, thường là hai loại ngọc xanh và ngọc trắng. Loại Ngọc Tỷ chủ yếu được làm từ thời Nguyễn sơ, vì chất liệu quý hiếm nên số Ngọc Tỷ ít hơn nhiều so với Kim Bảo Tỷ.

Những hòn ngọc lớn và đẹp thường được các Hoàng đế coi trọng và chọn làm Ngọc Tỷ quý giá nhất. Như vua Thiệu Trị được dâng ngọc quý làm thành Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ. Có khi không có ngọc phải đúc ấn vàng và khắc chữ “Tỷ” 璽 lên mặt ấn vàng.

Kim Bảo Tỷ của Hoàng đế được đúc bằng vàng, bằng bạc. Qua thư tịch Hán Nôm, chúng tôi thống kê triều Nguyễn có tới hàng trăm quả, có quả nặng tới 395 lượng vàng như Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo.

Bên cạnh số ít Ngọc Tỷ quý, tất cả Bảo Tỷ của Hoàng đế dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại được đúc bằng vàng. Ngoài ra những lễ tấn phong cho Hoàng Thái hậu, lễ sách lập Hoàng hậu, Thái tử đều được ban ấn đúc bằng vàng, bằng bạc. Tuổi của vàng đúc mỗi loại ấn cũng được quy định rõ ràng.

Những Bảo ấn dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại ghi ý riêng của vua, hoặc ban cho các cung, điện, lâu, tạ v.v… làm bằng ngà quý; ấn sách phong cho Hoàng thân, chư công, Hoàng tử, Hoàng tôn được đúc bằng bạc dát vàng. Tư chương hoặc Nhàn chương của vua khắc những câu, ý thánh hiền v.v… đều làm bằng cẩm thạch và bằng ngà.

Đại thần, tướng lĩnh, chức quan cao cấp như Thượng thư v.v… được dùng ấn, Quan phòng, Kiềm ấn có chất liệu bằng bạc; chức vụ phẩm hàm kém hơn một vài bậc nữa như Thị lang, Thống chế v.v… thì ấn, Quan phòng được làm bằng ngà tốt và bằng đồng pha; chức vụ phẩm hàm thấp nữa của một số đơn vị, cơ quan thì Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ấn làm bằng ngà thường và bằng đồng.

Ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Đồ ký, Kiềm ký được đúc bằng đồng chiếm tỷ lệ cao trong số lượng ấn chương. Hình thể, trọng lượng, thể tích mỗi hạng khác nhau để phân biệt chức vụ, cấp bậc cao thấp.

Quan lại cấp thấp như Giáo thụ, Huấn đạo sử dụng Đồ ký và hầu hết Kiềm ký đều dùng loại gỗ tốt để làm. Những Kiềm ấn của các quan nhỏ cũng làm bằng gỗ.

Triện hay Ký triện của Tổng, Lý cấp tổng xã bao giờ cũng được làm bằng gỗ.

Riêng loại Kiềm ký hay Ký thì làm theo nhiều loại chất liệu, nhất là từ thời Nguyễn Gia Long trở về trước khi quy chế chưa ổn định. Kiềm ký hay Ký làm bằng ngà, đá, đồng, gỗ, tùy theo chức tước phẩm cấp quan lại. Nói chung các quan lớn thì dùng chất liệu quý hơn, các lại thuộc thường dùng gỗ làm Ký.

Chất liệu làm ấn ít được dùng nhất là thủy tinh. Cũng như Bảo ấn bằng cẩm thạch, ấn thủy tinh có số lượng rất ít với nội dung ý đẹp lời hay kiểu “Ký thọ vĩnh xương”.

Riêng loại hình ấn tư nhân, vì là ấn tự do nên không theo quy định chung, ai thích làm chất liệu gì thì làm. Tuy nhiên cũng tạm phân loại ấn ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật thì chất liệu tốt hơn như ngà, đá, đồng, còn thương nhân dùng ngà và chủ yếu là gỗ, các thầy pháp dùng ấn bằng gỗ cho công việc của mình.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:25

B. CÁC KIỂU HÌNH DẤU, CÁC DẠNG DẤU QUA BỐ CỤC CHỮ TRONG DẤU

1. Các kiểu hình dấu

Hình ấn dấu cũng đa dạng phong phú không kém hình thể của ấn chương, gồm hình: vuông, tròn, chữ nhật, lục giác, bát giác và bầu dục, chủ yếu là tập trung vào hình vuông và hình chữ nhật.

* Dấu hình vuông

Tất cả các Bảo Tỷ của Hoàng đế, ấn lớn của quan, kiềm ấn nhỏ, Chương và Tín chương, một số Tín ký mặt dấu đều làm theo hình vuông. Chỉ có một số Bảo Tỷ viền vòng ngoài dấu mới khắc họa tiết như lưỡng long chầu nhật nguyệt v.v… còn tất cả viền ngoài đều trơn.

* Dấu hình chữ nhật

Tất cả những Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Triện hay Ký triện, một số Tín ký mặt dấu được làm theo hình chữ nhật. Ngoại trừ một số ít Bảo ấn dùng ngoài ý nghĩa trọng đại cũng được làm hình chữ nhật.

* Dấu hình tròn

Số ít Bảo ấn của vua dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại, Bảo sách phong cho Hậu, Hoàng tử, thân vương hoặc ấn ban cho các cung điện, lâu, tạ trong nội cung, hoặc ấn tín tự do dấu mới làm theo hình tròn. Viền vòng ngoài thường khắc hình lưỡng long chầu nhật, nguyệt.

* Dấu hình bát giác

Dấu làm khuôn kiểu hình thoi có 6 cạnh vuông góc, 2 cạnh ở giữa lõm hình vòng cung, viền ngoài có đường họa tiết uốn theo hình dấu. Loại hình này chủ yếu thấy ở Ký của các lại điển trong các cơ quan. Một số hậu, phi, quan lớn làm ấn tín tự do cũng làm theo hình này.

* Dấu hình bầu dục

Hình bầu dục hiếm thấy trong ấn chương Việt Nam. Riêng thời Nguyễn cũng chỉ có một vài ấn như Bảo ấn Ngự tiền chi bảo có hình bầu dục.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:25

2. Các dạng dấu qua bố cục chữ trong dấu

a. Dấu hình vuông



Loại 4 chữ: Xếp theo chiều vương góc của hình dấu. Một số Bảo Tỷ của vua
- và ấn cơ quan đều thuộc dạng này. Đây là loại dấu có số lượng nhiều
nhất trong các loại hình dấu.

a2. Loại 4 chữ: Xếp theo kiểu chữ “Thập” 十 với 2 dạng sau:




a3. Loại 5 chữ: Xếp theo hình dấu nhân X với 2 dạng sau:



a4. Loại 2 chữ: Loại kiềm ấn duy nhất thuộc dạng này



a5. Loại nhiều chữ: Xếp theo 2, 3 hoặc 4 cột dọc



b. Dấu hình chữ nhật

b1. Loại xếp theo 2 hoặc 3 cột dọc:



Loại này là Quan phòng chức vụ và Đồ ký, có số lượng nhiều sau ấn cơ
quan.



b2. Loại phần nhỏ chữ xếp chiều ngang, phần dưới xếp theo 2 hoặc 3 cột
dọc:

Loại này chỉ có trong Đồ ký và Kiềm ký.

c. Dấu hình tròn và hình bầu dục

Chữ đều xếp theo cột dọc và theo khuôn hình bầu dục hay hình tròn của
dấu. Số ít Bảo ấn và ấn tư có dạng dấu này.

c1. Dấu hình tròn:



c2. Dấu hình bầu dục



* Dấu hình bầu dục lõm cạnh



d. Dấu hình bát giác

d1. Xếp theo 1 cột dọc



d2. Xếp theo 2 cột dọc



Dấu của lại điển và số ít quan lại dùng tùy tiện.

e. Loại dấu 1 chữ



Loại dấu này rất hiếm thấy, cùng xếp vào loại Kiềm ấn nhỏ nhất, như dấu
chữ Tín.

g. Loại dấu nhiều chữ

Dấu có từ 12 chữ trở lên tạm xếp vào loại nhiều chữ, số lượng dấu ở dạng
này cũng rất ít, chỉ nằm trong loại dấu hình vuông, hình tròn, và hình
chữ nhật.



Tóm lại, việc phân chia các dạng hình dấu ấn là việc làm cần thiết, chỉ
cần nhìn qua văn bản có dạng hình dấu gì ta có thể biết tổng thể ngay
loại văn bản đó như thế nào, quan trọng hay không quan trọng. Hình dấu
Bảo Tỷ của vua sẽ phải khác hẳn dấu Triện của Lý trưởng cả về hình thức
màu sắc và giá trị của dấu đó. Đối với công cuộc cải cách tổ chức hành
chính các cấp thì quy chế về việc phân loại kiểu dạng hình dấu có giá
trị thực tiễn cao hơn nhiều lần so với quy định về hình thể và chất liệu
của ấn.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:25

PHẦN THỨ NHẤT

ẤN CHUƠNG VIỆT NAM TỪ THỜI LÊ SƠ (1428-1527) ĐẾN THỜI TÂY SƠN (1778-1802)


CHƯƠNG I

ẤN CHƯƠNG VIỆT NAM THỜI LÊ SƠ - MẠC (1428 - 1592)


I. Ấn chương Việt Nam thời Lê sơ (1428 - 1527)

1. Bối cảnh lịch sử

Sau khi chiến thắng quân Minh năm 1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh[24], cải niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt, đại xá cho thiên hạ, đóng đô ở Đông Kinh. Trước đó ông đã cho đại hội các tướng và các quan văn võ để xét công phong thưởng theo từng thứ bậc khác nhau, lấy Thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu, Tư đồ Trần Nguyên Hãn làm Tả Tướng quốc, Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái bảo… Đối với các địa phương, Lê Lợi áp dụng chế độ quân quản, chia nước làm năm đạo, đạo đặt vệ quân, vệ đặt chức Tổng quản đứng đầu; ở mỗi đạo còn đặt thêm chức Hành khiển để giữ sổ sách ghi chép cả về quân sự và dân sự. Những năm sau đó việc phong chức đặt quan vẫn được tiến hành rải rác đối với từng người và từng cấp đơn vị, địa phương khác nhau. Đồng thời với việc xây dựng chính quyền trung ương, địa phương, đặt quan, phong chức tước cấp bậc thường là việc làm và ban cấp ấn tín. Song vấn đề này đời Lê Lợi không thấy chính sử ghi chép cụ thể.

Việc đúc ấn vàng, ấn bạc dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại thời Lê sơ chính thức được bắt đầu từ triều Lê Thái Tông. Sự kiện này đã được chính sử ghi vào năm Thiệu Bình thứ 2 (1435) đã hoàn thành việc chế tác sáu quả ấn quý.

“Tháng 3 ngày mồng 6 ấn báu đã đúc xong. Sai bọn Hữu Bật Lê Văn Linh[25] đến Thái miếu làm lễ tấu cáo. Sáu ấn đều làm bằng vàng bạc. Ấn Thuận thiên thừa vận chi bảo 順天承運之寶 thì cất đi không dùng, chỉ khi nào truyền ngôi mới dùng. Ấn Đại thiên hành hóa chi bảo 大天行化之寶 khi nào đi đánh dẹp mới dùng. ấn Chế cáo chi bảo 制告之寶 thì dùng khi ban chế chiếu. Ấn Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶 thì dùng khi có sắc dụ và hiệu lệnh thưởng phạt, cùng các việc lớn. Ấn Ngự tiền chi bảo 御前之寶 thì dùng đóng vào giấy tờ sổ sách. Ấn Ngự tiền tiểu bảo 御前小寶 thì dùng khi có việc cơ mật. Nhưng chính sự thì còn dùng ấn bằng ngà, chưa dùng đến ấn mới đúc”[26]. Nhìn từ góc độ lịch sử cho thấy Lê Thái Tông đã tiến hành củng cố và xây dựng chính quyền từ trung ương đến địa phương với những cố gắng tích cực, được sách sử đánh giá cao: “Vua tư chất sáng suốt… trọng đạo, chuộng Nho, đặt khoa thi chọn kẻ sĩ, chế lễ nhạc, rõ chính hình; văn vật rực rỡ đủ cả, đáng khen là vua hiền”[27]. Ông còn cho tổ chức thi Hương (ở các đạo) và thi Hội (ở Kinh) và dựng bia ghi tên các Tiến sĩ v.v… Việc cho đúc các Bảo ấn vàng để dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại cũng nằm trong “chính hình rõ ràng” của Thái Tông khi ông lên ngôi mới được hai năm.

Trong 6 bảo ấn vàng mà chính sử nêu thì chứng tích còn lại ngày nay chỉ tìm thấy ở các ấn Sắc mệnh chi bảo in trên sắc phong và Ngự tiền chi bảo còn khắc in trên bia đá, những ấn khác không còn dấu tích gì. Về ấn Thuận thiên thừa vận chi bảo sau này được nhắc tới trong một vài cuốn sách với mục đích để nâng cao vai trò vị trí của ấn quý, gươm báu của một vương triều có công đuổi xâm lược giành lại đất nước.

Triều đình Lê sơ từ Lê Thái Tổ (1428-1433) bắt đầu xây dựng chính quyền, đến đời Lê Thái Tông (1433-1442), Lê Nhân Tông (1442-1459) rồi Lê Nghi Dân (1459-1460) đã tiếp tục xây dựng và củng cố chính quyền. Mô phỏng thể chế phong kiến Lý - Trần, tham bác thể chế nhà Đường - Tống Trung Quốc, nhà Lê sơ đặt Tể tướng[28], lập tam Sảnh[29] gồm Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh và Môn hạ sảnh. Đây là những cơ quan cao nhất có quyền hạn rất lớn, có tổ chức và ấn tín riêng. Nhà Lê sơ còn đặt cơ quan Hoàng môn sảnh là nơi giữ Bảo ấn của vua và phụ giúp Môn hạ sảnh, đồng thời còn đặt cơ quan kiểm sát gồm lục Khoa và Ngự sử đài[30] cùng Nội mật viện[31], nhưng cơ cấu chính quyền trung ương giai đoạn này không đặt hệ thống lục Bộ. Lê Thái Tổ chỉ đặt ra 3 Bộ là bộ Lại, bộ Lễ và bộ Dân (tức bộ Hộ), trải đến đời Lê Nghi Dân (1460) mới lập lục Bộ là: bộ Lại, bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình, bộ Công và đặt chức Thượng thư đứng đầu mỗi Bộ.

Tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn này cũng được coi trọng, cả nước được chia làm 5 đạo, 6 trấn và 14 lộ. Được cấp đạo, trấn là chính quyền cấp lộ, dưới lộ là châu, dưới châu là huyện và cấp cơ sở dưới huyện là xã. Giai đoạn này chế độ hành chính đã dần dần thay thế chế độ quân quản: Văn bản cổ có niên đại năm Đại Hòa thứ 7 (1449) đời Lê Nhân Tông có ghi tên chức quan Tán trị thừa Chánh sứ ty của châu Hóa, lộ Thuận Hóa có hình dấu kiềm được giới thiệu ở mục sau là tư liệu quý hiếm nói về giai đoạn đầu Lê sơ.

Năm 1460 Lê Thánh Tông lên ngôi bắt đầu cho một triều đại thịnh trị của giai đoạn phong kiến Lê sơ. Với công cuộc cải cách hành chính quy mô và đồng bộ từ trung ương xuống địa phương, từ lực lượng quân đội đến các cơ quan dân sự, nhà nước trung ương tập quyền vương triều này đạt đến mức hoàn bị. Về lập pháp, đây là triều đại cho ra đời bộ luật Hồng Đức nổi tiếng có nhiều điểm tiến bộ nhất trong lịch sử luật pháp thời phong kiến nước ta.

Không như các vị Hoàng đế khác, Lê Thánh Tông đã mạnh dạn phê phán một số chủ trương đường lối ngay cả của các tiên đế mình, lời dụ của ông có câu rằng: “… Đến Lê Thái Tông đề cao Tể tướng, trọng Cơ mật viện cho gồm cả lục Khoa, đặt tam Sảnh mà bỏ cả lục Bộ…”[32].

Công cuộc cải cách có liên quan đến việc chế tác, thay đổi bổ sung, hoàn thiện ấn chương cho các cấp các ngành, cả với Bảo ấn dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại. Năm Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466) Lê Thánh Tông sai đúc tiếp ấn vàng lớn khắc sáu chữ Triện mặt dấu là Hoàng đế thụ mệnh chi bảo 皇帝受命之寶 để dùng vào các việc trọng đại. Sự kiện này đã được chính sử ghi lại: “Ngày 16 đem việc khắc ấn Hoàng đế thụ mệnh chi bảo tấu cáo Thái miếu, ngày hôm ấy mưa gió to…” và “… ấn báu đúc xong sai Thái sư Đinh Liệt tấu cáo Thái Miếu…”[33].

Lê Thánh Tông đã sai phong khóa Bảo ấn Thuận thiên thừa vận chi bảo coi đó là biểu tượng của các Bảo ấn, là ấn truyền quốc của nhà Lê sơ. Bảo ấn Hoàng đế thụ mệnh chi bảo được mang ra dùng thay cho Bảo ấn Thuận thiên thừa vận chi bảo được cất lưu.

Lê Thánh Tông cho tổ chức lại toàn bộ hệ thống hành chính từ trung ương xuống địa phương bắt đầu từ những cơ quan văn phòng bên cạnh Hoàng đế gồm có Hàn lâm viện[34], Đông các[35], Trung thư giám[36], Hoàng môn sảnh và Bí thư giám[37]. Điểm nổi bật là nhà vua đã bãi bỏ chức Tướng quốc (Tể tướng) thân chinh nắm quyền cai trị điều khiển triều đình. Chế độ tam Sảnh vẫn tồn tại nhưng vai trò quan trọng đã giảm dần, chỉ còn chức năng văn phòng Hoàng đế bên cạnh Hàn lâm viện và tòa Đông các. Hoàng môn sảnh từ thời Lê Thánh Tông vẫn là cơ quan chuyên trách giữ Bảo ấn của nhà vua, do Hoàng môn Thị lang đứng đầu và không phải kiêm nhiệm chức năng phụ giúp Môn hạ sảnh như trước nữa.

Dưới thời Lê Thánh Tông hệ thống lục Bộ được chú ý đặc biệt, năm Quang Thuận thứ 6 (1465) ông cho đổi lục Bộ làm lục Viện và một năm sau (năm 1466) ông lại đổi lại lục Viện thành lục Bộ. Đứng đầu mỗi Bộ là chức Thượng thư rồi đến Tả, Hữu Thị lang, dưới có các chức Lang trung và Viên Ngoại lang phụ trách Thanh lại ty, là cơ quan chuyên trách của mỗi Bộ.

Song song với việc lập lục Bộ, Thánh Tông cho chế tác và ban cấp ấn tín cho mỗi Bộ. Sử cũ ghi lại việc tháng 4 năm Quang Thuận thứ 7 (1466) thiết lập hệ thống lục Bộ đặt chức Thượng thư đứng đầu mỗi Bộ, dưới là chức Tả, Hữu Thị lang… và đến tháng 10 (năm 1466) việc chế tác ấn tín mới xong, Lê Thánh Tông mới lệnh ban cấp ấn tín cho các Bộ[38]. Bản sắc chỉ còn in hình dấu Lại bộ chi ấn có niên đại năm Hồng Đức thứ 19 (1488) được giới thiệu ở mục 2 dưới đây sẽ minh chứng cho ấn dấu cấp Bộ thời Lê Thánh Tông.

Ở hệ thống lục Bộ, thì bộ Lễ ngoài các chức năng nhiệm vụ khác thì phải chịu trách nhiệm chế tác các loại ấn tín. Mỗi loại ấn từ ngoại hình kích cỡ cao thấp, to nhỏ, kiểu hình núm ấn, họa tiết viền ngoài đến thể thức kiểu viết khắc chữ Triện… Bộ Lễ phải thực hiện theo đúng quy chế, quản lý việc đúc và sử dụng ấn nghiêm cẩn theo luật định, không để việc đúc và dùng ấn tùy tiện. Ngoài ra, bộ Lễ còn chịu trách nhiệm tổ chức lễ phong khóa Bảo ấn, lễ khai ấn, lễ giao và tiếp nhận ấn đối với các ấn tín quan trọng của cơ quan lớn và ấn tướng quân trong lực lượng quân đội.

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) Lê Thánh Tông thiết lập lục Tự gồm Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự và Thái bộc tự với chức năng nhiệm vụ là thừa hành công việc của hệ thống lục Bộ giao cho. Trong đó Thượng bảo tự là cơ quan chịu trách nhiệm đóng dấu Hội thí và quyển thi của các thí sinh dự kỳ thi Hội do triều đình mở.

Đối với hệ thống kiểm sát ngay từ tháng 8 năm 1465 Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách. Ở lục Khoa, ông cho đổi Trung thư khoa làm Lại khoa, Hải khoa làm Hộ khoa, Đông khoa làm Binh khoa, Tây khoa làm Hình khoa, Bắc khoa làm Công khoa và Nam khoa làm Lễ khoa.

Tiến hành cải cách chính quyền địa phương, tháng 6 năm 1466 Lê Thánh Tông chia nước làm 12 đạo Thừa tuyên là Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Bắc Giang, Quốc Oai, An Bang, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn và Thái Nguyên. Đồng thời nhà vua cho đổi lộ thành phủ và trấn làm châu[39]; song song là việc thay đổi bổ nhiệm chức quan địa phương cùng việc ban cấp ấn tín. Sử ghi: “Tháng 6 năm 1466 Lê Thánh Tông lại cho đặt 12 đạo Thừa tuyên… rồi cho đổi lộ thành phủ, trấn làm châu, Chuyển vận sứ làm Tri huyện, Tuần sát làm Huyện thừa, Xã quan làm Xã trưởng… Ban ra ấn Tri phủ, bỏ không cấp ấn An phủ nữa…”[40].

Năm Hồng Đức nguyên niên (1470) vua Chiêm Thành là Trà Toàn phản nghịch mang quân cướp phá đất Hóa Châu - Thuận Hóa. Lê Thánh Tông hạ chiếu điều động tướng soái, huy động 26 vạn quân thân đi chinh phạt Chiêm Thành. Trong quá trình chinh phạt, Lê Thánh Tông có lệnh ban sắc phong cho một số tướng soái chỉ huy các đạo quân Nam tiến. Trong đó có sắc phong cho phụ chính Tham tướng Phạm Như Tăng làm Trung quân Đô thống tạm quyền lãnh ấn tiên phong chỉ huy mười đạo binh tiến đánh Chiêm Thành. Trên sắc phong đó có đóng dấu Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo lưu ở dòng ghi niên hiệu Hồng Đức năm thứ 2 (1471)[41]. Quân Lê sơ tiến đến thủ phủ Chiêm Thành công phá thành Đồ Bàn[42], bắt sống Trà Toàn. Việc bình Chiêm thành công[43], Lê Thánh Tông hạ chiếu lấy vùng đất mới Nam Trung bộ lập ra Thừa tuyên Quảng Nam đặt quan tướng cai trị, sáp nhập vào lãnh thổ nước ta thành 13 đạo Thừa tuyên. Đến tháng 4 năm Hồng Đức thứ 21 (1490) Thánh Tông đổi Thừa tuyên làm Xứ và đặt thêm một xứ trực thuộc Kinh sư (tức phủ Phụng Thiên) gọi là Trung đô.

Về tổ chức quân sự thời Lê Thánh Tông, quân đội toàn quốc được đặt dưới quyền thống lĩnh của 5 phủ là Trung quân phủ, Đông quân phủ, Tây quân phủ, Nam quân phủ và Bắc quân phủ. Tổng tư lệnh quân đội là Thái úy nhưng trực tiếp chỉ huy là chức Tả, Hữu Đô đốc Ngũ phủ. Mỗi phủ đặt 6 Vệ, một Vệ có 5 hoặc 6 Sở, mỗi Sở có 400 quân chia làm nhiều Ngũ. Mỗi Phủ đặt chức Tả, Hữu Đô đốc, Đô đốc Đồng tri và Đô đốc Thiêm sự. Cấp Vệ đặt chức Tổng tri, Đồng Tổng tri và Thiêm Tổng tri. Cấp Sở đặt chức Quản lãnh, Chánh Võ úy và Phó Võ úy. Mỗi Ngũ đặt một chức Tổng kỳ. Quân ngũ ở Kinh sư được chia làm nhiều Vệ, mỗi Vệ lại có khoảng 5 Sở hoặc Ty, dưới cấp Sở, Ty là Đội. Trong đó có các Vệ chính là Cẩm Y, Kim Ngô, Điện Tiền và Kim Quan lực sĩ mà các vệ dưới có biên chế quân ngũ theo. Ví dụ như Cẩm Y vệ có 4 vệ Thuần tượng là Tiền vệ, Tả vệ, Hữu vệ và Hậu vệ; mỗi Vệ này quản 5 Sở. Ngoài ra Cẩm Y vệ còn có một vệ Mã Nhàn chỉ huy 5 Sở nữa. Mỗi một Sở đều có tên riêng như Hậu vệ có 5 sở là Tựu Lăng, Cầm Chí, Thành Nhạc, Cảng Hà và Bào Lâm. Đứng đầu mỗi Vệ dưới là chức Chỉ huy sứ có các chức chỉ huy Đồng tri và Chỉ huy Thiêm sự làm phó. Mỗi một chức đứng đầu từ cấp Sở trở lên đều được ban cấp ấn tín sử dụng. Ví dụ như chỉ huy sở Bào Lâm Hậu vệ được ban ấn khắc là Thuần tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn (Ví dụ này sẽ được giới thiệu ở mục 2 tiếp sau).

Thời Lê sơ mỗi đạo Thừa tuyên đặt một Đô ty để quản lý quân vụ, đứng đầu là Đô Tổng binh sứ, phó Tổng binh Đồng tri, Tổng binh Thiêm sự. Mỗi Đô ty có một số Vệ, đứng đầu là chức Chỉ huy sứ và phó là Chỉ huy sứ Đồng tri và Chỉ huy sứ Thiêm sự. Mỗi Vệ lại chia làm 5 sở Thiên hộ, mỗi sở Thiên hộ lại quản 10 sở Nhất bách hộ v.v…

Những quy định về việc sử dụng ấn tín thời Lê sơ không chỉ thực hiện ở những ấn quý dùng với việc trọng đại, mà mỗi loại ấn đều phải được dùng cho một cấp, ngành hoặc đơn vị riêng biệt, trên một số văn bản quy định. Như tháng 3 năm 1468 Lê Thánh Tông sắc chỉ cho các Nha môn: “Nếu tâu về việc công thì cho đóng ấn ở bản Nha môn, nếu là bản tâu của các quan viên quân sắc không có ấn tín thì đều do Ty Thông chánh sứ xét đóng dấu kiềm vào chỗ giáp phùng”[44]…
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:25

2. Thực trạng về ấn chương thời Lê sơ

a. Hiện vật ấn chương


Hiện nay chúng ta còn giữ được rất ít những quả ấn đồng mang niên đại
thời Lê sơ. Ngược dòng lịch sử đến cuối giai đoạn nhà Trần, chúng tôi đã
tìm thấy hiện vật ấn chương có liên quan đến nhà Lê sau đó. Việc giới
thiệu quả ấn đồng thời Trần Duệ Tông dưới đây, là mắt xích nối ấn chương
giữa hai giai đoạn Trần - Lê, và cũng là điểm nối lịch sử của hai giai
đoạn có tổ chức hành chính quan chế giống nhau, nhưng đã bắt đầu thay
đổi từ triều Lê Thánh Tông với công cuộc cải cách hành chính quy mô và
đồng bộ.

Trong số hiện vật ấn chương còn lưu giữ được tới ngày nay tại các cơ
quan Bảo tàng ở Việt Nam thì quả ấn đồng có tên gọi Môn hạ sảnh ấn ở
Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội được coi là quả ấn đồng cổ
nhất có niên đại rõ ràng ở nước ta[45].

Ấn có chất liệu bằng đồng, núm ấn làm theo hình mặt bia đá có đế tam
cấp. Ấn có chiều cao 8cm, phần rộng nhất tức là phần đế ấn là 7,3cm. Núm
cầm trên rộng 3,7 cm và dày 1,2 cm. Mặt ấn có hai dòng chữ Hán khắc ở
hai bên thành ấn ngay bậc thứ nhất. Bên phải là bốn chữ Môn hạ sảnh ấn
門下省印, chữ thứ ba tuy khá mờ nhưng có thể xác định rõ là chữ “sảnh”. Bên
trái là dòng chữ Hán có chữ đầu và ba chữ khác bị sứt mờ rất khó đọc.
Sau khi nghiên cứu, chúng tôi cho rằng đây là các chữ Long Khánh ngũ
niên ngũ nguyệt nhị thập tam nhật tạo 隆 慶 五 年 五 月 二 十 三 日 造.

Mặt dấu hình vuông có kích thước 7,3x7,3cm, văn khắc mặt dấu là bốn chữ
Triện, nét khắc uốn nhiều lần. Đó là bốn chữ Môn hạ sảnh ấn 門下省印 (H.20
a, b, c, d).

Như vậy niên đại của ấn được xác định rõ, ấn được đúc vào ngày 23 tháng 5
năm Long Khánh thứ 5 đời Trần Duệ Tông (1377). Dòng chữ khắc trên mặt
ấn và hình dấu Môn hạ sảnh ấn đã cho chúng ta biết đây là con dấu của
một chức quan thời Trần. Nhưng “Môn hạ sảnh” là cơ quan gì, chức năng
nhiệm vụ của nó như thế nào, ai là chủ sở hữu của quả ấn, đó là những
điều nan giải khi tài liệu thời Trần liên quan đến các vấn đề này cho
đến nay còn quá sơ sài, khiến chúng ta phải tìm từ cội nguồn của “Môn hạ
sảnh”.

Môn hạ sảnh là một cơ quan trung ương nằm trong bộ ba “Tam Sảnh” là
Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh và Môn hạ sảnh, ba cơ quan cao nhất ở
triều đình phong kiến thời cổ. Ở Trung Quốc ba cơ quan riêng biệt được
hình thành từ thời Đông Hán. Ban đầu lấy Thượng thư thay Thừa tướng,
tiếp đó lấy Trung thư thay thế Thượng thư, cuối cùng lấy Môn hạ để chia
quyền với Trung thư. Đến thời Tùy - Đường mới phát triển thành chế độ
Tam Sảnh. Từ Hải giải nghĩa “Tam Sảnh” theo sách Tân Đường thư, Bách
quan chí 1: “Thời Tùy - Đường, Tam sảnh là cơ quan cao nhất, trong đó
tòa Trung thư đóng vai trò quyết sách, tòa Môn hạ giữ vai trò thẩm nghị,
tòa Thượng thư có trách nhiệm chấp hành; trên thực tế, ba vị quan đứng
đầu ba tòa này cùng nhau phụ trách công việc của Trung khu”[46].

Ở Việt Nam nhà Trần xếp đặt quan chức chủ yếu dựa vào phép đặt quan của
nhà Lý, đồng thời có tham bác và mô phỏng theo quan chức chế của nhà
Đường - Tống Trung Quốc. Nhà Trần các vương công tôn thất đều ở phủ đệ
riêng nơi thôn dã, đến kỳ triều kiến thì mới vào Kinh. Khi nhậm chức thì
họ cũng chỉ nắm giữ những cái chính còn thực quyền thì nằm trong tay
quan Hành khiển. Nhà Trần thiết lập Thượng thư sảnh và Môn hạ sảnh.
Thượng thư sảnh có nhiệm vụ giúp Tể tướng quản lý các việc có liên quan
đến quan chức, chức Hành khiển Thượng thư đứng đầu. Môn hạ sảnh là cơ
quan thân cận của vua, có nhiệm vụ giữ Bảo ấn, chuyển lệnh của vua tới
các quan, nhận lời tấu lên vua và các công việc lễ nghi trong cung; chức
chưởng đều gắn với chức Hành khiển. Hành khiển là chức rất lớn, bao
trùm các chức Lệnh Thị lang, Tả Hữu ty, Lang trung[47].

Chức quan ở Môn hạ sảnh thời Trần đều do những đại thần tài giỏi đảm
nhiệm, như năm Khai Thái thứ 6 (1329) Trần Minh Tông phong Vũ Nghiêu Tá
làm Nhập nội Hành khiển Môn hạ Hữu ty Lang trung. Năm Khai Hựu thứ 11
(1339) Trần Hiến Tông lấy Trương Hán Siêu làm Môn hạ Hữu ty Lang trung
rồi sai Trương Hán Siêu cùng Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều
đại điển và khảo đính bộ Hình thư để ban hành[48]. Những thay đổi về
danh xưng ở Ty Hành khiển cũng không làm nó thay đổi về chức năng nhiệm
vụ, như năm Thiệu Phong thứ 4 (1344) Trần Dụ Tông đổi Thánh từ Hành
khiển ty làm Thượng thư sảnh, và Hành khiển ty vẫn để là Môn hạ sảnh như
cũ.

Các đại thần tài giỏi tuy đã làm ở Sảnh rồi vẫn được kiêm nhiệm chức vụ
khác, như Hành khiển Phạm Sư Mạnh năm Đại Trị thứ 5 (1362) được Trần Dụ
Tông phong thêm chức Tri khu mật viện sự. Cũng có người không vì tài cao
nhưng vì có công đối với nhà vua nên cũng được giữ chức Hành khiển như
Nguyễn Nhiên năm Thiệu Khánh thứ 1 (1370) được Trần Nghệ Tông trả ơn cho
làm Hành khiển Tả Tham tri chính sự. Sự kiện này về sau đã bị sử thần
Ngô Sĩ Liên phê phán ở chính sử.



Trở lại quả ấn đồng Môn hạ sảnh ấn, nó được đúc vào năm 1377 và được
dùng đóng trên những văn bản hành chính quan trọng từ đời Trần Phế Đế về
sau. Đáng tiếc về vấn đề này, như trên đã nói, không còn một văn bản
Hán Nôm thời Trần nào còn sót lại, cho nên việc tìm lại tên họ những đại
thần có gắn bó với quả Môn hạ sảnh ấn này may chăng là việc làm có ý
nghĩa.

Năm Thiệu Khánh thứ 3 (1372) Trần Nghệ Tông cho Đỗ Tử Bình làm Hành
khiển tham mưu quân sự, trải qua đời Duệ Tông đến thời Trần Phế Đế năm
Xương Phù thứ 2 (1378) Đỗ Tử Bình vẫn giữ chức Hành khiển như cũ. Đến
năm Xương Phù thứ 4 (1380) Đỗ Tử Bình lại được thêm chức Nhập nội Hành
khiển Tả Tham tri chính sự lãnh chức Kinh lược sứ Lạng Giang[49].

Sách Đại Việt sử ký tiền biên còn ghi rõ tên họ, năm tháng những đại
thần giữ chức Hành khiển: “Năm Xương Phù 5 (1381) cho Đào Sư Tích làm
Nhập nội Hành khiển Hữu ty Lang trung”. “Năm Xương Phù 8 (1384) sai Hành
khiển ty là Trần Nghiêu Dụ đốc thúc Vận sứ của các Lộ vận chuyển lương
đến đầu huyện Thủy Vĩ cấp cho quân…”. “Năm Xương Phù 12 (1388) cho Nhập
nội Hành khiển Tả ty là Vương Hữu Chu về hưu trí”[50].

Trong số những đại thần trên thì Trần Nghiêu Dụ mới có thể là người quản
lý và sử dụng Môn hạ sảnh ấn, vì Môn hạ sảnh chính là Hành khiển ty,
còn các chức Hành khiển khác thì chỉ liên quan đến Môn hạ sảnh thôi. Quả
ấn này được chế tác năm 1377 nhưng mãi đến năm 1384 thì Trần Nghiêu Dụ
mới được bổ nhiệm đóng dấu Môn hạ sảnh, còn trước năm 1384 và sau Trần
Nghiêu Dụ là ai thì chúng tôi cũng chưa tìm ra được.

Đầu thời Lê sơ, vua Lê Thái Tông mô phỏng quan chức chế nhà Trần để đặt
ra tam Sảnh. Thượng thư sảnh giữ sự vụ quan chức, Trung thư sảnh giữ
việc thượng lượng, bàn bạc mọi việc trọng đại của quốc gia. Môn hạ sảnh
giữ quyền thẩm tra kiểm duyệt mọi việc sau đó mới được ban bố thi hành.
Chế độ tam Sảnh đó còn mãi trong giai đoạn Lê sơ và ấn Môn hạ sảnh ấn
vẫn được sử dụng trong công vụ của cơ quan Môn hạ sảnh.

Đến đời Hồng Đức thứ 2 (1471) Lê Thánh Tông đã bãi bỏ chức vụ Tể
tướng[51] để quyền hành tập trung vào tay Hoàng đế. Với công cuộc cải
cách hành chính quy mô, Thánh Tông đã giảm dần quyền lực của tam Sảnh,
tam Sảnh thuần túy chỉ là chức năng văn phòng của Hoàng đế, rồi đặt chức
của chính quan các Sảnh này nằm dưới Thượng thư lục Bộ[52].

Hiện vật ấn chương thời Lê sơ được giới thiệu tiếp trong phần mục này là
ba quả ấn đồng được tìm thấy ở ba địa điểm khác nhau, hiện được lưu giữ
ở các cơ quan Bảo tàng khác nhau, chúng đều có chất liệu đồng, có niên
đại vào cuối thời Lê sơ và cùng là loại ấn của tướng lĩnh quân đội.

Quả ấn thứ nhất được tìm thấy ngay ở thôn Hào Nam thuộc quận Đống Đa Hà
Nội vào năm 1974[53]. Ngoại hình ấn làm kiểu núm chuôi vồ hình bầu dục
cao 8,2cm. Mặt ấn làm theo hình vuông dày 1,3cm. Cộng toàn chiều cao của
ấn là 9,5cm. Lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán kiểu Chân thư, bên phải là 9
chữ Thuần tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn 馴象後衞跑林後所印, và chữ Thượng bảo
ty tạo 尚寶司造. Bên trái là 8 chữ Hồng Đức nhị thập tứ niên nguyệt nhật
洪德二十四年月日. Mặt dấu hình vuông khắc 9 chữ Triện khuôn theo hình khối
vuông, là 9 chữ Thuần tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn. 9 chữ Triện này
trùng với 9 chữ Chân khắc trên lưng ấn. Đây là ấn của chức chỉ huy đơn
vị Hậu sở Bào Lâm thuộc Hậu vệ Thuần tượng thuộc Cẩm y vệ, lực lượng
quân đội bảo vệ Hoàng cung ở Kinh thành Thăng Long lúc đó. Sở Bào Lâm là
1 trong 5 sở ở Hậu vệ, một trong 4 vệ thuộc vệ Thuần tượng, đây là đơn
vị quản lý voi chịu sự chỉ đạo của các chức Chỉ huy sứ và phụ tá là Chỉ
huy sứ Đồng tri cùng Chỉ huy sứ Thiêm sự đứng đầu vệ Thuần tượng.
(H.21).

Quả ấn này là minh chứng quan trọng trong việc nghiên cứu binh chế quan
chức chế thời Lê sơ, nó khẳng định sở thứ 5 thuộc Hậu vệ Thuần tượng tên
là sở Bào Lâm chứ không phải là Quy Lâm như có sách đã biên soạn[54].

Trở lại dòng chữ Hán khắc trên lưng ấn, ngoài 9 chữ Thuần tượng hậu vệ
bào lâm hậu sở ấn như đã nêu, bốn chữ Thượng bảo ty tạo có ý nghĩa riêng
biệt, nó chỉ cơ quan đã chế tác nên quả ấn, Ty Thượng bảo là nơi chế
tạo ra quả ấn này. Chúng ta còn tìm thấy dòng chữ khắc tên Ty Thượng bảo
trên những quả ấn đồng giai đoạn sau đó và trên một số cổ vật thời Lê
sơ và Mạc.



Dòng chữ bên trái lưng ấn đã giúp ta biết được thời gian tạo tác quả ấn,
nó được làm năm Hồng Đức thứ 24 triều vua Lê Thánh Tông (1493).

Gần đây chúng tôi được ông Nguyễn Quốc Toàn ở Quảng Bình cung cấp tư
liệu về một quả ấn đồng có niên đại từ triều vua Lê Tương Dực thời Lê
sơ. Quả ấn này được phát hiện từ năm 1982 tại nhà ông Phi Tân ở thôn
Hoành Phổ, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, hiện được lưu giữ tại Bảo
tàng Quảng Bình đã 18 năm.

Ấn có chất liệu bằng đồng, hình thể tay cầm ấn hình con nghê đúc theo
khuôn đế hình vuông. Không tính thân nghê, ấn có chiều dày 2,5cm và nặng
3,6kg. Kích thước phần đế ấn là 11x11cm. Một góc ấn có dấu chặt do
người sưu tầm đồ cổ thử ấn là vàng hay đồng đen.

Mặt trên ấn thân nghê có hai dòng chữ Hán khắc chìm.

Dòng thứ nhất: Hồng Thuận lục niên thập nhất nguyệt thập lục nhật tạo
(洪順六年十一月十六日造).

Dòng thứ hai: Phụng mệnh tuần phủ đô tướng quân ấn (奉命巡撫都將軍印):



Mặt dấu hình vuông, kích thước 11x11cm, viền ngoài để cỡ 1cm. Bên trong
là 8 chữ Triện xếp theo 3 hàng dọc, hai chữ hàng giữa dài gấp rưỡi 6 chữ
hai hàng bên để cân đối với bố cục dấu. Đó là 8 chữ Phụng mệnh tuần phủ
đô tướng quân ấn.

Dòng chữ Hán thứ nhất trên thân nghê đã cho ta biết được niên đại của
ấn, ấn được đúc ngày 16 tháng 11 năm Hồng Thuận thứ 6 (1514) đời vua Lê
Tương Dực thời Lê sơ. (H.22).

Việc Chân hóa chữ Triện trong con dấu khá dễ dàng, những việc giải nghĩa
chức vụ của viên quan tướng trong con dấu này khá là khó khăn. Hiện nay
chúng ta vẫn chưa có được các từ điển, sách ghi về quan chức chế Việt
Nam thật đầy đủ qua các triều đại nhất là từ thời Lê sơ trở về trước
ngoài cuốn Từ điển chức quan Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Văn Ninh.
Một số sách sử ghi về thời Lê sơ cũng không thấy nói đến chức “Tuần phủ
Đô tướng quân”, tuy nhiên chức Đô tướng là chức võ quan đã có từ thời Lý
và tồn tại mãi đến thời Lê sơ[55]. Theo Từ điển chức quan Việt Nam thì
tháng 11 năm Tân Tỵ (1161) Tô Hiến Thành đã nhận chức Đô tướng, Đỗ An Di
làm phó…, và theo Trung Quốc quan chế đại từ điển, Đô tướng là chức võ
quan do nhà Kim lập, thuộc Vũ vệ quân Đô chỉ huy sứ ty[56]. Vua Lê Tương
Dực cũng đã phong chức Đô tướng cho hai ông Trịnh Duy Sản và Lê Phong.
Theo tổ chức quân ngũ ở ngoài các đạo (xứ) thời Lê sơ thì mỗi xứ đặt một
Đô ty trông coi toàn thể quân vụ trong xứ đó, có quan Đô Tổng binh sứ
đứng đầu và các quan giúp việc là Tổng binh Đồng tri, Tổng binh Thiêm
sự, phải chăng chức Đô Tổng binh sứ của Đô ty này có liên quan đến chức
Đô tướng (?).

Hai chữ “Tuần phủ” ở đây cũng nên hiểu là một chức vụ, nó khác hẳn chức
Tuần phủ (Tỉnh trưởng) được đặt ra ở thời Minh Mệnh thứ 12 (1531) khi
Minh Mệnh cho đổi các trấn làm tỉnh và đặt các chức Tổng đốc hoặc Tuần
phủ đứng đầu Liên tỉnh hoặc một tỉnh. Chức Tuần phủ ở quả ấn này đi liền
với chữ “Phụng mệnh” nên có thể hiểu đây là một chức không cố định và
rất ít được sử dụng, dành cho các quan tướng khâm sai, khâm phái, một
chức tạm thời đi thi hành công vụ.

Quả ấn thứ ba được tìm thấy ở xã Thiện Thuật huyện Bình Gia, tỉnh Lạng
Sơn và hiện nay được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà
Nội. Hình thức ấn với núm cầm có hình con nghê được làm toàn thân khá
đẹp. Thân nghê cao 6,10cm, dài 9,1cm. Đế ấn dày 2,5cm và đúc theo khuôn
hình vuông. Mặt trên đế cạnh con nghê khắc hai hàng chữ Hán Đề thống
tướng quân chi ấn và Hồng Thuận lục niên thập nhất nguyệt thập lục nhật
tạo, nghĩa là ấn của Đề thống tướng quân, đúc ngày 16 tháng 11 năm Hồng
Thuận thứ 5, đời vua Lê Tương Dực (1515)[57]. Mặt con dấu hình vuông cỡ
11x11cm, viền ngoài cỡ 1cm, bên trong khắc sáu chữ triện nét khắc nổi là
6 chữ Đề thống tướng quân chi ấn 提統將軍之印. Nội dung Triện văn trùng với
dòng chữ Hán khắc trên lưng ấn. Đây là ấn dấu của chức Đề thống tướng
quân (H.23 a,b,c,d).



Tuy nhiên tham khảo nhiều tài liệu sách vở giai đoạn này chúng tôi cũng
không tìm thấy chức Đề thống tướng quân, chỉ thấy ghi rằng theo tổ chức
quân đội thời Lê Thánh Tông thì lực lượng quân đội trú phòng ở các Đô ty
ngoài các đạo thuộc vào các Vệ, các Sở Thiên hộ, Nhất bách hộ đều có
thể là quân chiến đấu khi có chiến tranh, và lúc đó những vị quan võ
được phong hàm Tam thái, Tam cô, Thái úy hoặc Tả hữu Đô đốc Ngũ phủ sẽ
được lựa chọn giữ chức vụ Tướng quân hoặc Đại tướng quân để chỉ huy quân
đội chiến đấu. Như “Năm Hồng Đức nguyên niên (1470) khi vua thân chinh
đi đánh Chiêm Thành đã ra lệnh cho Thái sư Đinh Liệt và Thái bảo Lê Niệm
làm Chinh lỗ tướng quân thống lĩnh quân thủy trong các vệ thuộc ba phủ
Đông, Nam và Bắc[58]. Đến khi chiến tranh chấm dứt thì các vị Tướng quân
hay Đại tướng quân cũng chấm dứt luôn nhiệm vụ điều khiển quân đội theo
hệ thống chiến thuật trở lại chức vụ hành chính”[59].

Đôi khi một số võ quan giữ chức vụ tạm thời ở những nơi xung yếu như cửa
tấn, quan, thành, cảng, trại, những chức lớn đều gọi chung là Tổng binh
hay Trấn thủ, có người còn được phong thêm danh hiệu Tướng quân. Như
vậy, Tướng quân chỉ là danh từ chung dành cho các tướng lĩnh cao cấp
trong chiến đấu hay trong công vụ quan trọng, đặc biệt. Đề thống tướng
quân và Tuần phủ Đô tướng quân có lẽ cũng là danh hiệu phong tạm cho
viên tướng lớn có tính chất như khâm sai, khâm phái của lĩnh vực hành
chính chứ không phải là chức vụ, cấp bậc đẳng ngạch của binh chức chế
quân đội thời Lê sơ.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:26

b. Dấu ấn trên văn bản Hán Nôm

Chuyến công tác vào Huế gần đây chúng tôi được tiếp xúc một văn bản có
từ đầu thời Lê sơ. Văn bản này đã được ông Nguyễn Thế giới thiệu trong
Hội nghị về Di sản văn hóa Hán Nôm tại Huế năm 2003 và đã được xuất bản.
Đây được coi là văn bản Hán Nôm xưa nhất được tìm thấy ở Thừa Thiên
Huế. Tác giả đã trình bày chi tiết về đặc điểm và nội dung văn bản,
trong đó có cả phần phiên âm dịch nghĩa; đồng thời có những nhận xét về
hoàn cảnh nơi phát hiện văn bản và những giá trị về mặt nghiên cứu lịch
sử, nhận xét có tính thuyết phục.

Văn bản được viết trên giấy dó, khổ rộng 42x26,5cm. Mặt sau được dán bồi
thêm một lớp giấy khác có khổ rộng và dày hơn bản gốc. Phần nếp gấp ở
giữa bản gốc bị rách nên mất một số chữ và nét chữ, chỗ đó người đời sau
viết lại trên giấy bồi. Phần dưới văn bản chữ bị vết ố hơi khó đọc.

Phần chính văn có 20 dòng, 3 chữ “Hữu cấp phó” 右給付 ở đầu dòng thứ 20
được viết rất lớn, nét bút đại tự. Bên dòng đầu phần chính văn có 4 chữ
“Khám cấp Ma Nê” 勘給痲泥 có kiểu chữ, nét bút khác thể chữ trên văn bản.
Cách ngang dòng cuối 5cm là dòng ghi niên đại có 8 chữ Thái Hòa cửu niên
thập nhị nguyệt sơ bát nhật. Ở khoảng trống này có hình một dấu nhỏ,
dấu bầu đục lõm cạnh. Phía trên dấu có 2 chữ Hán viết theo lối Thảo thư
cách nhau 5cm. Toàn văn bản được viết bằng chữ Hán lối Chân thư dễ đọc,
hơi giống kiểu các văn bản do các thư lại thời Hậu Lê viết. Một số địa
danh và tên người được viết bằng chữ Nôm. (H. 24).



Xin tóm lược phần dịch và nhận xét của tác giả Nguyễn Thế:

“Lộ Thuận Hóa, châu Hóa Tán trị Thừa chánh sứ ty khám cấp ruộng hoang
lậu bãi nổi.

Ngày 5 tháng Chạp năm Đại Hòa thứ 7 (1449) căn cứ vào tờ trình của xã
trưởng xã Đa Cảm, huyện Trà Kệ, châu Hóa lộ Thuận Hóa là Lê Cạnh cùng
một số người khác xin được khẩn hoang canh tác ở xứ đồng Ma Nê khoảng
hơn trăm mẫu và nhận nộp thuế. Huyện quan huyện Trà Kệ đã chấp thuận và
phê duyệt.

Đến ngày 10 tháng 8 năm Đại Hòa thứ 9 (1451), Lê Cạnh cùng một số người
khác lại có tờ trình, quan Thừa ty và huyện quan đích thân đến xứ Ma Nê
xem xét đo đạc rồi phê chuẩn làm văn bản số ruộng đất này. Cấp cho nhóm
Lê Cạnh được quyền canh tác và được đăng ký vào sổ điền bạ của xã, được
quyền để lại cho con cháu canh tác, nộp thuế như lệ định. Kèm kê khai
diện tích số ruộng theo phân định mốc giới đông tây nam bắc.

Ngày thảo văn bản này là ngày 8 tháng 12 năm Đại Hòa thứ 9 (1451), người
chứng nhận tên là Trần Thăng chức Đối đồng lại.

Văn bản được phát hiện cùng một số văn tự, khế ước… khác (có niên đại từ
trên 2-3 trăm năm) tại nhà thờ họ Lê Văn, làng Mỹ Xuyên, xã Phong Hòa,
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đây là văn bản Hán Nôm xưa nhất được tìm thấy ở Thừa Thiên - Huế, niên
đại của văn bản được làm ngày 8 tháng 12 năm Đại Hòa thứ 9 (1451) cách
nay 552 năm. Điểm đặc biệt văn bản là niên hiệu vua Lê Nhân Tông được
ghi là Đại Hòa chứ không phải là Thái Hòa như các biên niên và sử liệu
ghi.

Lộ Thuận Hóa được đặt từ đầu thời Lê sơ đến năm 1466 mới đổi làm Thừa
Tuyên Thuận Hóa. Huyện Trà Kệ là một trong 7 huyện được đặt đầu tiên ở
châu Thuận Hóa, thời thuộc Minh năm Vĩnh Lạc thứ 2 (1404) đã thấy
ghi[60].

Xã Đa Cảm có tên từ thời Trần, thời Lê Trung hưng đổi làm Dũng Xuyên rồi
Dũng Cảm. Đến thời Nguyễn Gia Long đổi làm Mỹ Xuyên, tên Nôm là Làng
Hói. Ma Nê: Địa danh chính mà những người xã Đa Cảm do Lê Cạnh đứng đầu
đến khẩn hoang, đến nay địa danh này vẫn không thay đổi gọi là làng Ma
Nê, tên Nôm gọi là Kẻ Né. Số ruộng khai hoang trên trở thành ruộng Kỳ
tại của làng Mỹ Xuyên, từ xưa đến nay dân làng Mỹ Xuyên vẫn đến canh
tác.

Khởi sự việc khẩn hoang ở Ma Nê là từ ông Lê Cá (ông xã Gánh) cha của xã
trưởng Lê Cạnh. 24 người đứng tên đơn cùng Lê Cạnh thuộc 8 dòng họ: Lê,
Bùi, Đoàn, Võ, Nguyễn, Hồ, Phùng , Trần, Phan…”[61].

Trở lại vấn đề văn bản thì đây là một bản chứng nhận của một người tên
là Trần Thăng giữ chức Đối đồng lại thuộc Tán trị Thừa chánh sứ ty của
châu Hóa, lộ Thuận Hóa cấp cho xã trưởng Lê Cạnh (cùng một số người tham
gia) được quyền canh tác trên hai trăm mẫu ruộng ở xứ đồng Ma Nê, được
phép đăng ký vào sổ điền bạ xã và được quyền để lại cho con cháu cày cấy
nộp thuế. Văn bản này là giấy cấp làm bằng. Ông Trần Thăng viết tên
đóng dấu. Vì hình dấu quá mờ nên chúng tôi không đọc được, chỉ đoán chữ
dưới có thể là chữ “ký” 記 (?) Vị trí đóng dấu lại không đóng ở dòng ghi
niên hiệu mà đóng ở khoảng trống ngay dưới chữ nhật. Dấu có cỡ nhỏ, lõm
cạnh giống các dấu kiềm ở các thời kỳ sau. Cộng với tên chức có chữ lại
“吏” ở cuối, chúng tôi cho rằng đây là chức nhỏ phụ thuộc nha môn không
phải là chính quan. Có thể khẳng định đây là dấu Kiềm của chức Đối đồng
phụ trách bộ phận xem xét chứng thực về vấn đề ruộng đất - một trong các
nha môn của Thừa chánh sứ ty của châu Hóa, lộ Thuận Hóa đầu thời Lê sơ.
Chữ “Khám cấp Ma Nê” viết ở đầu văn bản với chữ “nê” 泥 viết có bộ chấm
thủy , còn chữ “nê” ở chính văn không có bộ thủy. Bốn chữ này đã được
viết thêm vào sau cùng với thời gian lời phê duyệt (viết thảo) và đóng
dấu, chứ không phải viết cùng loại chữ của phần chính văn (chữ của thư
lại).

Ba chữ “Hữu cấp phó” (cấp giao cho) ở dòng cuối là chữ đại tự nét đậm
chứng tỏ kiểu dùng chữ nhấn mạnh mang tính pháp lý mệnh lệnh theo quy
định đối với những văn bản chứng nhận làm bằng về vấn đề ruộng đất thời
Lê sơ.

Văn bản cổ thứ 2 là một bản sắc phong có niên đại Hồng Đức (1471) là
chứng tích của sự kiện lịch sử vua Lê Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành
năm 1470 - 1471. Bản sắc phong này là của Lê Thánh Tông phong cho phụ
chính Tham tướng Phạm Như Tăng tạm quyền lãnh ấn Tiên phong chỉ huy 10
đạo tinh binh tiến đánh Chiêm Thành. Con cháu nhiều đời Phạm Như Tăng
coi bản sắc phong này là của gia bảo truyền đời giữ gìn cẩn trọng. Đến
trước năm 1963 nó được lưu giữ ở Quế Sơn, Quảng Nam và đã được các nhà
khảo cổ Nam Bộ chụp ảnh nguyên bản lưu tại Viện Khảo cổ Sài Gòn. Năm
1963 Giáo sư Lê Kim Ngân đã công bố văn bản này trong Tổ chức chính
quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông có cả ảnh chụp sắc phong cùng
phần phiên âm và dịch nghĩa. Vì thời gian và qua chụp, in lại nên bản
sắc phong chữ Hán bị mờ; hình dấu Kim Bảo không được rõ. Tuy nhiên xem
kỹ văn bản này qua một số tiêu chí xác định văn bản như kiểu chữ, bố cục
chữ và bố cục văn bản, hình dấu vuông lớn dòng niên đại; chúng tôi thấy
việc khẳng định đây là bản sắc phong thời Hồng Đức là có cơ sở. Nhưng ở
dòng niên đại phần phiên âm ghi là Hồng Đức nhị niên tam nguyệt thập
bát nhật là đúng còn phần dịch lại ghi là “tháng 8” là nhầm. Còn ở dòng
cuối cả phần phiên âm và dịch nghĩa ghi tên hình con dấu là Chế mạng chi
bảo là đọc sai chữ “chế”. Thực ra nó là dấu Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶. Kim
bảo Sắc mệnh chi bảo được làm từ năm 1435 đời Lê Thái Tông và chuyên
dùng đóng trên sắc dụ và hiệu lệnh thưởng phạt. Chữ “Sắc” viết theo kiểu
Triện thư trông rất giống chữ “chế” 制, do đó đọc nhầm là chuyện bình
thường. Dưới đây chúng tôi xin được đăng nguyên văn công bố trang có
hình dấu của Giáo sư Lê Kim Ngân để cùng tham khảo[62]. (H. 25)

Hiện nay tại Cục Lưu trữ Nhà nước tại Hà Nội còn giữ được một bản sắc
chỉ đời Lê Thánh Tông. Văn bản này đã được ông Võ Văn Sạch phiên âm,
dịch nghĩa, giới thiệu trên Tạp chí Văn thư lưu trữ năm 1988[63]. Tuy
nhiên tác giả chưa đi sâu mô tả kỹ văn bản và phân tích các hình con dấu
trên văn bản. Ở đây chúng tôi muốn nói rõ hơn về vấn đề này.



Văn bản này có kích thước 60x61cm, chất liệu giấy dó đã cũ, vệt gập đôi
ngang có bị rách mép ngoài nhưng không bị mất chữ nào. Xung quanh vẽ
khung đường viền họa tiết hình sóng nước. Chữ Hán viết Chân, kiểu chữ
hành chính công văn của thư lại có nét ngang, mác, sổ kéo dài. Phần
chính văn có 11 dòng chữ Hán (kể cả dòng chữ viết nhỏ), với dòng đầu ghi
6 chữ 吏部爲試官事 Lại bộ vi thí quan sự. Dòng niên đại có 12 chữ
洪德十九年十一月二十一日 Hồng Đức thập cửu niên thập nhất nguyệt nhị thập nhất nhật.
Dưới chữ nhật có 6 chữ Đô lại Nguyễn Duy Ba thừa. Đầu dòng niên đại có
một dấu hình vuông, bên trong là 4 chữ Triện Lại bộ chi ấn 吏部之印 (ấn của
bộ Lại). Dấu có màu son đỏ, vị trí dấu được đóng mép trên đè lên nửa chữ
“Hồng” (洪).

Giữa sắc chỉ song song với hình con dấu trên là nửa hình dấu được đóng
quay nghiêng, nên trông thành hình tam giác. Xem xét nửa chữ Triện còn
lại với nửa chữ “bộ” 部 và nửa chữ “chi” 之 cùng chữ “ấn” 印 còn trọn vẹn
trong đó. Chúng tôi khẳng định nửa hình dấu trên là một nửa của dấu Lại
bộ chi ấn được đóng ra từ một quả ấn của bộ Lại. Hình thức của nửa hình
dấu này chúng tôi ít gặp ở các văn bản Hán Nôm có hình dấu ở các triều
đại sau. Nó giống như kiểu đóng dấu hiện nay, cơ quan chỉ có một con dấu
đóng cả chỗ giáp trang, chỗ sửa chữa và đóng ghép vào tờ văn bản khác
để lưu chiểu dùng đối chiếu làm tin sau này.

Trên bên trái góc văn bản cạnh dòng ghi niên đại có một dấu chữ Bộ 部,
kiểu chữ rất lớn. Trông bình thường như một đại tự, nhưng thực ra nó
cũng là hình một con dấu đóng trên văn bản. Dưới dấu chữ Bộ còn có hai
hình dấu hoa giáp khác, những dấu này chúng tôi tạm gọi là những dấu
phụ, với chức năng đánh dấu loại hình văn bản cấp bộ, phân biệt với các
loại hình văn bản khác trong công tác hành chính. Dấu chữ Bộ và hai dấu
hoa giáp trên có màu mực đen.

Nội dung văn bản:

Bộ Lại cấp bằng chứng cho việc thí quan.

Ngày 15 tháng 11 năm Hồng Đức thứ 19 (1488) bọn thần là Nguyễn Đôn chức
Hữu Giám thừa ty lễ giám vâng sắc mệnh, theo luật bộ Lại phụng chọn Phạm
Nam tạm chức Phòng ngự Thiêm sự Phòng ngụ sứ ty[64], để lo việc coi giữ
quân dân tại châu Tàm, phủ Thanh Đô. Khâm thử.

Phụng giao sắc chỉ đến bộ Lại ngày 22 tháng 11 cùng năm. Quan bản bộ đã
tới cửa điện Kính Thiên tâu đầy đủ việc này lên vua, điền vào chữ thí
quan này chữ số 6548, ban cấp bằng Khám hợp và giao cho bản quan làm
bằng cớ thi hành.

(ghi tiểu sử Phạm Nam và xuất xứ việc này).

Trên đây cấp bằng và giao tạm chức Phòng ngự Thiêm sự, Phạm Nam chuẩn
theo thi hành.

Ngày 21 tháng 11 năm Hồng Đức thứ 19 (1488).

Đô lại Nguyễn Duy Ba vâng lệnh thảo.



Qua nội dung văn bản ta biết được đây là một bản sắc phong thuộc quyền
của bộ Lại xét cấp phong tạm chức Phòng ngự Thiêm sự cho Phạm Nam. Văn
bản ghi rõ là “bằng Khám hợp”, từ đó cho ta hiểu rõ về nửa hình dấu in
trên văn bản. Thời đó “bằng Khám hợp” là loại văn bản hành chính bằng,
sắc mà cơ quan thảo văn bản phải ghi vào hai văn bản, một gửi đi một lưu
chiểu. Hai văn bản này được xếp liền và đóng một dấu chung, mỗi văn bản
lưu một nửa hình dấu. Khi kiểm tra đối chiếu ghép hai văn bản khớp
chung một hình dấu thì mới được coi là đúng. Vấn đề này cho ta suy nghĩ
có thể thời Lê sơ chưa sử dụng dấu Kiềm đi liền cặp với ấn lớn cơ quan
như thời Nguyễn sau này.

Đây là một trong những văn bản cổ nhất có hình dấu ấn còn giữ nguyên vẹn
đến nay ở nước ta. Dưới góc độ nghiên cứu ấn chương và một số tiêu chí
khác trong xác định văn bản, chúng tôi khẳng định văn bản này hoàn toàn
là văn bản gốc với hình dấu ấn thật, khác hẳn với một số sắc phong giả
có hình con dấu được vẽ hoặc in vào sau này[65]. (H. 26).
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:26

II. Ấn chương Việt Nam thời Mạc (1527 - 1592)

1. Bối cảnh lịch sử

Triều Mạc chính thức được thiết lập năm 1527 do Mạc Đăng Dung phế lật được nhà Lê sơ để rồi bắt đầu cho thời kỳ nội chiến kéo dài. Tuy tồn tại đến 150 năm, nhưng thực chất triều Mạc chỉ đóng đô được ở Thăng Long hơn 60 năm, thời gian còn lại chiếm cứ Cao Bằng cho đến khi bị tiêu diệt. Triều Lê Trung hưng đã coi nhà Mạc là “Ngụy triều” nên đã không có một bộ sử nào chính thức được thực hiện riêng về nhà Mạc. Đồng thời mấy thế kỷ qua với bao cuộc chiến cùng thiên tai đã chôn vùi hết các hiện vật ấn triện và thư tịch tài liệu về nhà Mạc; do đó viết về ấn chương triều Mạc chúng tôi chỉ căn cứ vào rất ít hiện vật và văn bản có in hình dấu giai đoạn này.

Tiếp thu tinh thần của các triều đại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam quốc gia là phải có Bảo Tỷ, nên ngay từ khi mới lên ngôi Mạc Đăng Dung đã cho tìm và lấy ngay 6 ấn Kim Bảo từ thời Lê Thánh Tông là Thuận thiên thừa vận chi bảo, Đại thiên hành hóa chi bảo, Chế cáo chi bảo, Sắc mệnh chi bảo, Ngự tiền chi bảo và Ngự tiền tiểu bảo. Việc này không thấy một sách sử nào ghi lại. Những vấn đề đại sự quốc gia được ban bố ra quốc dân thiên hạ như chiếu, chỉ, cáo, sắc v.v… thì nhà Mạc vẫn dùng theo cách của nhà Lê sơ, các văn bản này đều được đóng dấu Kim Bảo. Việc Mạc Đăng Dung lên ngôi năm 1527 ở Thăng Long phải chăng đã có tờ chiếu nhường ngôi được đóng dấu Kim Bảo Thuận thiên thừa vận chi bảo để ra mắt thiên hạ (?) Tiếp theo là Mạc Đăng Doanh và những người kế nghiệp vẫn dùng các loại văn bản có đóng dấu Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo được ban bố đến các địa phương. Chính sự lưu truyền rộng rãi trong dân gian các loại hình sắc phong đã giữ lại được cho chúng ta đến ngày nay chứng tích về dấu Kim Bảo này thời Mạc. Tại hai điểm di tích ở hai tỉnh khác nhau thuộc đồng bằng Bắc Bộ hiện còn lưu giữ được các sắc phong có niên đại năm Minh Đức nguyên niên (1527) đời Mạc Đăng Dung, Quảng Hòa năm đầu (1540) đời Mạc Đăng Doanh và năm Sùng Khang thứ 9 (1574) đời Mạc Mậu Hợp. Đó là những minh chứng cho việc Mạc Đăng Dung đã lấy được một số Kim Bảo ngay từ khi lên ngôi để sử dụng.

Chính quyền nhà Mạc về cơ bản vẫn duy trì tổ chức hành chính giống thời Lê sơ. Hệ thống lục Bộ là cơ quan hành chính quan trọng nhất trong chính quyền trung ương với các chức Thượng thư, Tả, Hữu Thị lang đứng đầu mỗi Bộ. Hệ thống Giám sát với Ngự sử đài và cơ quan Giám sát có các chức Đô Ngự sử, Phó Đô ngự sử, Thiêm Đô ngự sử, Giám sát Ngự sử các Đạo và Cấp sự trung lục Khoa kết hợp cùng lục Bộ. Hàn lâm viện và tòa Đông các là những cơ quan thiết yếu gần cạnh Hoàng đế thường là do các chức Thượng thư, Tả Hữu Thị lang kiêm nhiệm. Ở Hàn lâm viện là các chức Chưởng Hàn lâm viện, Thị độc, Thị thư, Đãi chế, Kiểm thảo. Ở Đông các người đứng đầu là Đại học sĩ tiếp đến Học sĩ rồi Hiệu thư. Nhà Mạc cũng lập Tôn nhân phủ và Quốc tử giám với cơ cấu tổ chức và hoạt động giống nhà Lê sơ. Sự hoạt động của các cơ quan trung ương thời Mạc gắn liền với ấn tín cùng các văn bản phải đóng dấu. Tòa Đông các tiếp nhận chương sớ, nhận cáo sắc đóng dấu, truyền lưu hoặc tấu lên vua. Những văn thư quan trọng phải đóng Kim Bảo thì phải có một Hội đồng gồm đại diện bộ Lễ, Giám sát Ngự sử, Đông các và Thị vệ cùng thực thi đóng dấu.

Mỗi cơ quan trung ương đều được ban cấp ấn tín riêng để sử dụng. Sáu Bộ phải có sáu ấn khác nhau của riêng Bộ mình do Thượng thư quản. Các chức Ngự sử và đứng đầu Khoa, Đạo ở hệ thống Giám sát đều có ấn tín riêng của cơ quan mình, các cấp dưới được dùng tín ký riêng trong cả việc công và việc tư.

Tổ chức chính quyền địa phương thời Mạc về cơ bản vẫn duy trì giống thời Lê sơ. Ngay năm lên ngôi Mạc Đăng Dung đã chia nước thành 13 đạo Thừa tuyên là các đạo Kinh Bắc, Sơn Nam, Sơn Tây, Hải Dương, Lạng Sơn, Ninh Sóc, Tuyên Quang, Hưng Hóa, An Bang, Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa và Quảng Nam. Mỗi đạo gồm ba bộ phận gọi là tam Ty: Thừa tuyên sứ ty (Thừa ty), Hiến sát sứ ty (Hiến ty), Đô chỉ huy sứ ty (Đô ty). Trong đó Thừa ty với chức Thừa chánh sứ đứng đầu là quan trọng hơn cả, có hai chức phó là Tham chính và Tham nghị phụ giúp. Đô ty có chức Đô chỉ huy sứ và Đồng tri, Thiêm sự. Đây là lực lượng quân sự địa phương của mỗi đạo có biên chế và tổ chức chặt chẽ.

Thời Mạc cấp phủ là đơn vị hành chính dưới đạo quản các huyện, châu. Tri phủ là chức đứng đầu một phủ và có Đồng Tri phủ làm phó phụ giúp. Dưới phủ là huyện có các chức Tri huyện cùng Huyện thừa cai quản. Châu cũng như huyện có chức Tri châu và Đồng Tri châu làm phó. Dưới huyện, châu là cấp phường xã mà ở châu còn có thêm cấp cơ sở động, sách. Ở mỗi đạo, các ty đều được phát công ấn để dùng, các chức phó cũng có các ấn nhỏ tín ký riêng. Các phủ, châu, huyện, mỗi cấp được ban ấn cơ quan sử dụng.

Phải nói rằng thời Mạc là giai đoạn chiến tranh khốc liệt giữa hai tập đoàn phong kiến Mạc - Lê Trung hưng mà sử cũ gọi là chiến tranh Nam - Bắc triều. Nhà Mạc thống trị vùng Bắc Bộ gọi là Bắc triều, nhà Lê - Trịnh chiếm cứ từ Thanh Hoa trở vào gọi là Nam triều. Chính vì vậy lực lượng quân đội nhà Mạc thời kỳ này được chú trọng đặc biệt. Quân đội được chia theo năm khu vực địa phương gọi là Ngũ phủ hay Ngũ quân: Đông quân, Tây quân, Nam quân, Bắc quân và Trung quân. Lấy kinh đô Thăng Long làm trung tâm, nhà Mạc đặt Trung quân, còn bốn trấn quanh kinh đô là Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam và Kinh Bắc đặt bốn quân còn lại lấy tên theo phương vị. Người đứng đầu Ngũ phủ (Ngũ quan) cũng tức là tổng chỉ huy quân đội nhà Mạc đều do các tước vương tài giỏi họ Mạc như Khiêm vương Mạc Kính Điển đảm nhiệm v.v… Đứng đầu mỗi Quân là một viên Tả Đô đốc, đều giao cho các đại tướng tâm phúc xuất chúng đảm nhận như Lê Bá Li Tả Đô đốc Nam quân, Mạc Ngọc Liễn Tả Đô đốc Tây quân v.v…

Triều Mạc dưới cấp Quân là cấp Vệ, Sở; Trung quân ở kinh đô được coi trọng hơn, đặt bốn Vệ lớn là Hưng Quốc, Chiêu Vũ, Cẩm Y và Kim Ngô. Dưới cấp Vệ lại có nhiều đơn vị Ty hợp thành, như vệ Cẩm Y có tới 18 Ty với tên gọi khác nhau như ty Phục Ba v.v… Bốn quân thuộc bốn trấn nằm trong Ngũ phủ cũng được lập các đơn vị Vệ, Sở, Ty chia các quan tướng coi giữ. Sử cũ ghi: “Đăng Dung sai bàn định phép binh, đặt bốn vệ: Hưng Quốc, Chiêu Vũ, Cẩm Y, Kim Ngô; các Vệ, Sở nội ngoại trong Ngũ phủ…”[66].

Ở các đạo ngoài Ngũ phủ nhà Mạc lập Đô ty, lực lượng quân sự địa phương này cũng gắn bó chặt chẽ với tổ chức quân sự chung của chính quyền Mạc. Mỗi Đô ty quản một số Vệ như Đô ty Tuyên Quang năm 1537 có ba Vệ là Tuyên Quang, Định Tây và Thanh Tây[67]…

Điều khác biệt trong quân đội triều Mạc là cấp Đô ty ở mỗi đạo chỉ ngang cấp Vệ thuộc Ngũ phủ. Chức đứng đầu Đô ty cũng giống chức đứng đầu cấp Vệ ở Ngũ quân là Đô chỉ huy sứ. Như vậy có hai loại đơn vị cấp Vệ, cấp Vệ lớn thuộc lực lượng quân đội Ngũ quân (Ngũ phủ) và cấp Vệ nhỏ thuộc lực lượng quân sự địa phương thuộc Đô ty ở các đạo khác. Nó tương đương cấp ty ở Ngũ quân có một viên Chỉ huy sứ đứng đầu, còn ở các Vệ thuộc Đô ty thì lại đặt chức Tổng tri và Đồng Tổng tri đứng đầu. Mỗi Đô ty, dưới cấp Vệ là cấp Sở, thường một Vệ có ba Sở đặt các chức Thống lãnh, Võ úy và Phó Võ úy cai quản. Mỗi cấp Vệ hay Sở đều đặt tên riêng cũng giống các Vệ lớn và Ty ở Ngũ phủ.

Hiện nay tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội còn lưu giữ được 3 quả ấn đồng thời Mạc, đó là những hiện vật quý giá trong việc nghiên cứu triều đại này. Quả ấn có văn khắc là Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn có niên đại năm 1564 đã minh chứng cho một số sách sử tản mạn về tổ chức quân đội của nhà Mạc, đồng thời cũng khẳng định rằng hầu hết các đơn vị Sở đều nằm dưới sự quản lý chỉ huy của cấp Vệ.

Hai quả ấn đồng còn lại có tên gọi là Hoành hải hậu sở chi ấn có niên đại năm 1534 và Thanh tái tả sở chi ấn có niên đại năm 1549 lại chứng minh cho tính độc lập của đơn vị cấp Sở. Đây là ấn tín của một viên Thống lãnh, Võ úy của đơn vị cấp Sở nào nằm ngoài Ngũ phủ (?) Hay phải chăng các vùng trọng yếu miền duyên hải, biên tái nhà Mạc phải đặt các đơn vị đặc nhiệm. Ví như trấn Cao Bằng, đạo Ninh Sóc thời đó họ Mạc đã đặt các viên Tổng binh sứ, Tổng binh Đồng tri và Tổng binh Thiêm sự trấn giữ[68].

Các chức Đô chỉ huy sứ ở kinh đô và thuộc Ngũ phủ đều được gia chức phẩm khá cao như Đại tướng quân, Thượng tướng quân v.v… Những Đô ty ở các miền biên viễn, giáp ranh chiến lược trọng yếu cũng được giao cho các tướng giỏi có chức tước cao đảm nhận. Như chức Đô Tổng binh sứ ty đạo Ninh Sóc do Nguyễn Văn Trạch, chức Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, tước Thuần Lương hầu
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:28

2. Thực trạng về ấn chương thời Mạc



Việc tìm thấy một số ấn đồng hiếm hoi thời Mạc phải kể đến công lao của
các nhà Khảo cổ học và các cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Ba quả
ấn thời Mạc hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà
Nội, được đánh số ký hiệu riêng biệt và bảo quản cẩn thận.



Ba quả ấn này đều có chất liệu đồng, ngoại hình tương đối giống nhau với
núm ấn làm kiểu chuôi vồ và khuôn mặt ấn được đúc theo hình vuông.







Ấn thứ nhất mang ký hiệu LSb 2529, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm
dày 0,8cm. Trên ấn phía bên trái khắc 6 chữ Đại chính ngũ niên nguyệt
nhật 大正五年月日. Bên phải khắc 2 dòng chữ liền nhau, dòng ngoài mờ chữ đầu,
còn 5 chữ: Hải hậu sở chi ấn 海後所之印. Dòng bên khắc 4 chữ Thượng bảo ty
tạo 尚寶司造 dấu hình vuông kích thước 7,5x7,5cm, chữ Triện xếp theo chiều
dọc 3 hàng 6 chữ. Như vậy niên đại của ấn đã được ghi rõ là năm Đại
Chính thứ 5 (1534) đời Mạc Đăng Doanh. Đọc chữ Triện trên hình dấu chúng
tôi khẳng định chữ đầu là chữ “hoành” 橫, văn khắc trên dấu là 6 chữ
Hoành hải hậu sở chi ấn 橫海後所之印. Những chữ khắc trên núm ấn cũng giúp cho
việc đọc chữ Triện được chính xác và việc đọc chữ Triện cũng giúp cho
việc tìm ra chữ bị mờ và đối chiếu chữ được chuẩn xác. Tạm dịch là ấn
của viên tướng Hậu sở Hoành Hải. (H. 27 a,b,c).



Theo sách Thiên Nam dư hạ tập phần Quan chế[70] chép về quan chế thời Lê
có ghi Hậu sở Hoành Hải là một sở của vệ Nghiêm Dũng nằm trong phủ Tây
Quân thuộc biên chế quân đội Ngũ quân thời Lê. Hậu sở Hoành Hải ở quả ấn
này lại thuộc quân đội thời Mạc. Có thể nhà Mạc tổ chức vệ, sở ở Ngũ
quân giống như nhà Lê, song Hậu sở Hoành Hải nếu xếp vào biên chế phủ
Tây quân thì lại không phù hợp với tên gọi của của nó.



Hậu sở Hoành Hải cũng có thể nằm trong biên chế của Đông quân thuộc đạo
Hải Dương quản một số huyện duyên hải như Vĩnh Lại, An Lão, Nghi Dương
và Đông Triều đều thuộc phủ Kinh Môn. Chức chỉ huy Hậu sở Hoành hải có
thể là một viên Thống lãnh, Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó đảm nhiệm? Việc
giới thiệu quả ấn này cũng như ấn thứ 2 dưới đây xin được coi như một
tài liệu tham khảo[71].



Quả ấn thứ hai có ký hiệu LSb 2531, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm
và dày 0,7cm. Núm ấn bên trái khắc 6 chữ Hán Cảnh Lịch nhị niên nguyệt
nhật 景歷二年月日. Bên phải dòng ngoài khắc 6 chữ Thanh tái tả sở chi ấn, dòng
bên cũng khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông có kích thước
7,7x7,7cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ. Sau khi chân hóa
chữ Triện và đối chiếu, chúng tôi khẳng định đây là 6 chữ Thanh tái tả
sở chi ấn 清塞左所之印. (H. 28 a, h, c , d).



Cũng theo sách Thiên Nam dư hạ tập[72] phần chép về quan chế có ghi Tả
sở Thanh Tái là một trong năm sở của Vệ Tuyên Quang thuộc Đô ty Tuyên
Quang là lực lượng quân sự địa phương thời Lê. Tả sở Thanh Tái ở quả ấn
này thuộc quân đội thời Mạc. Đối chiếu với sách ghi về tổ chức quân đội
chính quyền thời Mạc, chúng tôi thấy có ghi Đô ty Tuyên Quang nằm trong
hệ thống quân sự địa phương và vệ Tuyên Quang là một trong các vệ thuộc
Đô ty Tuyên Quang, nhà Mạc lập các vệ sở trực thuộc các Đô ty cũng giống
như thời Lê. Như vậy Tả sở Thanh Tái có thể là một trong các sở của vệ
Tuyên Quang do một viên Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó chỉ huy.







Cùng với sử liệu thời Mạc, hai quả ấn trên là những tư liệu cho ta thấy
lực lượng quân đội nhà Mạc có hai loại đơn vị cấp Sở. Loại cấp Sở nằm
trong biên chế cấp Vệ thuộc lực lượng quân đội Ngũ quân (Ngũ phủ); loại
cấp Sở thuộc lực lượng quân sự địa phương được cấp Vệ ở Đô ty, chức năng
và quyền hạn của cấp sở thuộc Ngũ quân lớn hơn cấp Sở ở Đô ty. Việc
giới thiệu quả ấn đồng dưới đây sẽ giúp thêm cứ liệu trong nghiên cứu
vấn đề này.



Ấn thứ ba có ký hiệu LSb 2530 cán chuôi vồ tròn cao 9cm và dầy 0,6cm.
Núm ấn phía bên trái khắc dòng chữ niên đại 6 chữ Hán Thuần Phúc tam
niên nguyệt nhật 淳福三年月日. Bên phải khắc 9 chữ Hán, chữ rất mờ, riêng chữ
thứ 7 mờ hết nét: Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn. Dòng bên cạnh
khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông cỡ 8x8cm, chữ Triện xếp
theo chiều dọc 3 hàng 9 chữ. Những chữ ở núm ấn tuy bị mờ nhưng cũng
giúp cho việc Chân hóa chữ Triện được chính xác và việc Chân hóa cũng
giúp ta khẳng định những chữ bị mờ và tìm ra chữ bị mờ hết nét là chữ
“sở”. Như vậy 9 chữ ở núm ấn trùng với 9 chữ Triện trong hình dấu là
Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn 匡治衛淩川前所之印. Quả ấn này được đúc
năm Thuần Phúc thứ 3 (1564) đời Mạc Mậu Hợp, do ty Thượng bảo tạo đúc;
là ấn của viên tướng Tiền sở Lăng Xuyên thuộc vệ Khuông Trị. (H.29
a,b,c,d).







Đây là đơn vị cấp Sở nằm trong vệ Khuông Trị. Những đơn vị Sở trong quân
đội thời Mạc có không ít, không biết nó nằm trong lực lượng quân đội
Mạc ở Ngũ phủ hay thuộc Đô ty của một đạo nào (?) Lăng Xuyên là tên một
Sở và Khuông Trị là tên một Vệ cụ thể không phải lấy tên theo địa
phương, tương tự như cách đặt tên vệ Chiêu Vũ, Cẩm Y v.v… vậy. Điều này
khác biệt với hai quả ấn cấp Sở mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Tuy
nhiên việc phân tích tên gọi của đơn vị cấp Sở, Vệ của ba quả ấn trên
chúng tôi tạm dừng lại ở đây và không coi đó là ý kiến khẳng định; mong
rằng đây là những tư liệu hiện vật cung cấp thêm cho công tác nghiên cứu
giới thiệu về lịch sử triều Mạc.

Việc trên mặt núm của cả ba quả ấn đều ghi Thượng bảo ty tạo đã chứng
minh rằng nhà Mạc đã lập ty Thượng bảo để tạo đúc vật dụng kim loại, chủ
yếu chế tác từ nguyên liệu đồng. Hầu hết các ấn tín thời Mạc đều được
sản xuất từ ty Thượng bảo. Nhà Mạc lập ty Thượng bảo theo cơ cấu tổ chức
của nhà Lê sơ mô phỏng theo tổ chức của nhà Minh Trung Quốc. Khi bắt
đầu việc đặt quan ở các cấp chính quyền trung ương hoặc địa phương và
phong chức tướng tá cho các đơn vị quân đội, nhà Mạc giao ấn tín cho các
quan tướng đó mỗi cấp, mỗi đơn vị một bộ ấn đồng dùng theo luật định.
Những ấn đồng này đã được làm ở ty Thượng bảo theo mẫu mã nhất định. So
sánh với những ấn đồng của các triều đại trước và sau nhà Mạc, chúng tôi
thấy cách tạo tác núm ấn, khuôn dấu, viền ngoài và văn khắc nét chữ nhà
Mạc làm khá đơn giản, sơ sài, không đều và không đẹp.



Chứng tích về hình dấu trên văn bản Hán Nôm thời Mạc hiện nay đáng tiếc
là không còn, ngoại trừ trường hợp loại hình sắc phong thần còn lưu hình
dấu Kim Bảo có niên đại thời Mạc ở hai điểm di tích thuộc đồng bằng Bắc
Bộ. Tại đền Quang Lãng[73], xã Thụy Hải, Kiến Thụy, Thái Bình còn giữ
được nhiều đạo sắc phong trong đó có các sắc ghi niên đại năm Minh Đức
nguyên niên (1527) đời Mạc Đăng Dung, Quảng Hòa sơ niên (1540) đời Mạc
Đăng Doanh và Cảnh Lịch sơ niên (1548) đời Mạc Phúc Nguyên. Trên dòng
ghi niên hiệu của các tờ sắc trên có hình dấu son với 4 chữ Triện Sắc
mệnh chi bảo 敕命之寶.













Đạo sắc đời Cảnh Lịch hầu như rách hết phần chính và chỉ còn lại dòng
niên đại Cảnh Lịch sơ niên tứ nguyệt nhị thập bát nhật (景歷初年四月二十八日)
(Ngày 18 tháng 4 năm Cảnh Lịch sơ niên [1548]). Đạo sắc đời Minh Đức
cũng bị rách gần hết chỉ còn dòng niên hiệu ghi Minh Đức nguyên niên
thập nhị nguyệt sơ ngũ nhật (明德元年十二月初五日) (Ngày 5 tháng 12 năm Minh Đức
nguyên niên [1527]). Đạo sắc Quảng Hòa còn giữ được lành lặn hơn với
dòng niên đại ghi là Quảng Hòa sơ niên lục nguyệt sơ thập nhật
(廣和初年六月初十日) (Ngày 10 tháng 6 năm Quảng Hòa sơ niên [1540]). Chữ Hán ở
các đạo sắc này viết lối Chân rõ ràng, nét chữ, khoảng cách chữ bố cục
khác với chữ trên sắc phong thời Lê Trung hưng sau này. (H. 30, 31, 32).



Về hình dấu trên các sắc phong này có kích thước, bố cục chữ và kiểu chữ
Triện giống nhau, là bốn chữ Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶. Riêng nét chữ Triện
ở thời Minh Đức có khác nét chữ của 2 dấu kia một chút, đồng thời mầu
mực son ở dấu đời Minh Đức này cùng nhạt và khác màu mực son của 2 dấu
đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. Vị trí đóng dấu mép trên dấu của cả 3 hình
dấu trên đều đóng đè lên chữ thứ nhất dòng niên hiệu, nó khác với vị trí
đóng dấu của các sắc phong từ thời Lê Trung hưng trở về sau là đóng đè
lên từ chữ thứ 2 của dòng ghi niên hiệu.



Xem xét đạo sắc phong thời Mạc khác ở đình làng Tử Dương, huyện Thường
Tín, Hà Tây chúng tôi thấy nó cũng có những đặc điểm văn bản tương tự
như ba đạo sắc trên. Một phần chính văn đã bị rách nát, riêng dòng niên
đại ghi rõ Sùng Khang cửu niên thập nhất nguyệt sơ lục nhật 崇康九年十一月初六日.
Tức ngày 6 tháng 11 năm Sùng Khang thứ 9 (1547) đời Mạc Mậu Hợp. Hình
dấu trên dòng niên hiệu về kích thước, bố cục, bốn chữ Triện trong dấu,
và vị trí giống như 3 hình dấu ở đạo sắc phong trên. Riêng nét chữ Triện
và mầu mực giống như 2 dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. (H. 33)



Việc khẳng định hoàn toàn đây có phải là những sắc phong thời Mạc hay
không đòi hỏi chúng ta phải đưa vào nhiều tiêu chí, trong đó phải phân
tích chất giấy, dùng kính xem xét kỹ hình vẽ rồng mây hoa văn trang trí,
màu sắc nhũ, kiểu chữ viết và bố cục chữ, lối hành văn dùng mỹ tự, màu
mực v.v… Những vấn đề này đòi hỏi phải có những chuyên gia riêng biệt và
hội đồng thẩm định xem xét trực tiếp văn bản. Những năm gần đây xuất
hiện không ít các sắc phong giả, nên việc giới thiệu các sắc phong thời
Mạc trên chúng tôi cũng chỉ xin dừng lại ở việc mô tả sơ bộ văn bản, còn
việc khẳng định bình xét tính chân ngụy xin dành cho các chuyên gia
nghiên cứu sau này.
2. Thực trạng về ấn chương thời Mạc

Việc tìm thấy một số ấn đồng hiếm hoi thời Mạc phải kể đến công lao của các nhà Khảo cổ học và các cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Ba quả ấn thời Mạc hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội, được đánh số ký hiệu riêng biệt và bảo quản cẩn thận.

Ba quả ấn này đều có chất liệu đồng, ngoại hình tương đối giống nhau với núm ấn làm kiểu chuôi vồ và khuôn mặt ấn được đúc theo hình vuông.



Ấn thứ nhất mang ký hiệu LSb 2529, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm dày 0,8cm. Trên ấn phía bên trái khắc 6 chữ Đại chính ngũ niên nguyệt nhật 大正五年月日. Bên phải khắc 2 dòng chữ liền nhau, dòng ngoài mờ chữ đầu, còn 5 chữ: Hải hậu sở chi ấn 海後所之印. Dòng bên khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo 尚寶司造 dấu hình vuông kích thước 7,5x7,5cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ. Như vậy niên đại của ấn đã được ghi rõ là năm Đại Chính thứ 5 (1534) đời Mạc Đăng Doanh. Đọc chữ Triện trên hình dấu chúng tôi khẳng định chữ đầu là chữ “hoành” 橫, văn khắc trên dấu là 6 chữ Hoành hải hậu sở chi ấn 橫海後所之印. Những chữ khắc trên núm ấn cũng giúp cho việc đọc chữ Triện được chính xác và việc đọc chữ Triện cũng giúp cho việc tìm ra chữ bị mờ và đối chiếu chữ được chuẩn xác. Tạm dịch là ấn của viên tướng Hậu sở Hoành Hải. (H. 27 a,b,c).

Theo sách Thiên Nam dư hạ tập phần Quan chế[70] chép về quan chế thời Lê có ghi Hậu sở Hoành Hải là một sở của vệ Nghiêm Dũng nằm trong phủ Tây Quân thuộc biên chế quân đội Ngũ quân thời Lê. Hậu sở Hoành Hải ở quả ấn này lại thuộc quân đội thời Mạc. Có thể nhà Mạc tổ chức vệ, sở ở Ngũ quân giống như nhà Lê, song Hậu sở Hoành Hải nếu xếp vào biên chế phủ Tây quân thì lại không phù hợp với tên gọi của của nó.

Hậu sở Hoành Hải cũng có thể nằm trong biên chế của Đông quân thuộc đạo Hải Dương quản một số huyện duyên hải như Vĩnh Lại, An Lão, Nghi Dương và Đông Triều đều thuộc phủ Kinh Môn. Chức chỉ huy Hậu sở Hoành hải có thể là một viên Thống lãnh, Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó đảm nhiệm? Việc giới thiệu quả ấn này cũng như ấn thứ 2 dưới đây xin được coi như một tài liệu tham khảo[71].

Quả ấn thứ hai có ký hiệu LSb 2531, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm và dày 0,7cm. Núm ấn bên trái khắc 6 chữ Hán Cảnh Lịch nhị niên nguyệt nhật 景歷二年月日. Bên phải dòng ngoài khắc 6 chữ Thanh tái tả sở chi ấn, dòng bên cũng khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông có kích thước 7,7x7,7cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ. Sau khi chân hóa chữ Triện và đối chiếu, chúng tôi khẳng định đây là 6 chữ Thanh tái tả sở chi ấn 清塞左所之印. (H. 28 a, h, c , d).

Cũng theo sách Thiên Nam dư hạ tập[72] phần chép về quan chế có ghi Tả sở Thanh Tái là một trong năm sở của Vệ Tuyên Quang thuộc Đô ty Tuyên Quang là lực lượng quân sự địa phương thời Lê. Tả sở Thanh Tái ở quả ấn này thuộc quân đội thời Mạc. Đối chiếu với sách ghi về tổ chức quân đội chính quyền thời Mạc, chúng tôi thấy có ghi Đô ty Tuyên Quang nằm trong hệ thống quân sự địa phương và vệ Tuyên Quang là một trong các vệ thuộc Đô ty Tuyên Quang, nhà Mạc lập các vệ sở trực thuộc các Đô ty cũng giống như thời Lê. Như vậy Tả sở Thanh Tái có thể là một trong các sở của vệ Tuyên Quang do một viên Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó chỉ huy.



Cùng với sử liệu thời Mạc, hai quả ấn trên là những tư liệu cho ta thấy lực lượng quân đội nhà Mạc có hai loại đơn vị cấp Sở. Loại cấp Sở nằm trong biên chế cấp Vệ thuộc lực lượng quân đội Ngũ quân (Ngũ phủ); loại cấp Sở thuộc lực lượng quân sự địa phương được cấp Vệ ở Đô ty, chức năng và quyền hạn của cấp sở thuộc Ngũ quân lớn hơn cấp Sở ở Đô ty. Việc giới thiệu quả ấn đồng dưới đây sẽ giúp thêm cứ liệu trong nghiên cứu vấn đề này.

Ấn thứ ba có ký hiệu LSb 2530 cán chuôi vồ tròn cao 9cm và dầy 0,6cm. Núm ấn phía bên trái khắc dòng chữ niên đại 6 chữ Hán Thuần Phúc tam niên nguyệt nhật 淳福三年月日. Bên phải khắc 9 chữ Hán, chữ rất mờ, riêng chữ thứ 7 mờ hết nét: Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn. Dòng bên cạnh khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông cỡ 8x8cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 9 chữ. Những chữ ở núm ấn tuy bị mờ nhưng cũng giúp cho việc Chân hóa chữ Triện được chính xác và việc Chân hóa cũng giúp ta khẳng định những chữ bị mờ và tìm ra chữ bị mờ hết nét là chữ “sở”. Như vậy 9 chữ ở núm ấn trùng với 9 chữ Triện trong hình dấu là Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn 匡治衛淩川前所之印. Quả ấn này được đúc năm Thuần Phúc thứ 3 (1564) đời Mạc Mậu Hợp, do ty Thượng bảo tạo đúc; là ấn của viên tướng Tiền sở Lăng Xuyên thuộc vệ Khuông Trị. (H.29 a,b,c,d).



Đây là đơn vị cấp Sở nằm trong vệ Khuông Trị. Những đơn vị Sở trong quân đội thời Mạc có không ít, không biết nó nằm trong lực lượng quân đội Mạc ở Ngũ phủ hay thuộc Đô ty của một đạo nào (?) Lăng Xuyên là tên một Sở và Khuông Trị là tên một Vệ cụ thể không phải lấy tên theo địa phương, tương tự như cách đặt tên vệ Chiêu Vũ, Cẩm Y v.v… vậy. Điều này khác biệt với hai quả ấn cấp Sở mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Tuy nhiên việc phân tích tên gọi của đơn vị cấp Sở, Vệ của ba quả ấn trên chúng tôi tạm dừng lại ở đây và không coi đó là ý kiến khẳng định; mong rằng đây là những tư liệu hiện vật cung cấp thêm cho công tác nghiên cứu giới thiệu về lịch sử triều Mạc.
Việc trên mặt núm của cả ba quả ấn đều ghi Thượng bảo ty tạo đã chứng minh rằng nhà Mạc đã lập ty Thượng bảo để tạo đúc vật dụng kim loại, chủ yếu chế tác từ nguyên liệu đồng. Hầu hết các ấn tín thời Mạc đều được sản xuất từ ty Thượng bảo. Nhà Mạc lập ty Thượng bảo theo cơ cấu tổ chức của nhà Lê sơ mô phỏng theo tổ chức của nhà Minh Trung Quốc. Khi bắt đầu việc đặt quan ở các cấp chính quyền trung ương hoặc địa phương và phong chức tướng tá cho các đơn vị quân đội, nhà Mạc giao ấn tín cho các quan tướng đó mỗi cấp, mỗi đơn vị một bộ ấn đồng dùng theo luật định. Những ấn đồng này đã được làm ở ty Thượng bảo theo mẫu mã nhất định. So sánh với những ấn đồng của các triều đại trước và sau nhà Mạc, chúng tôi thấy cách tạo tác núm ấn, khuôn dấu, viền ngoài và văn khắc nét chữ nhà Mạc làm khá đơn giản, sơ sài, không đều và không đẹp.

Chứng tích về hình dấu trên văn bản Hán Nôm thời Mạc hiện nay đáng tiếc là không còn, ngoại trừ trường hợp loại hình sắc phong thần còn lưu hình dấu Kim Bảo có niên đại thời Mạc ở hai điểm di tích thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Tại đền Quang Lãng[73], xã Thụy Hải, Kiến Thụy, Thái Bình còn giữ được nhiều đạo sắc phong trong đó có các sắc ghi niên đại năm Minh Đức nguyên niên (1527) đời Mạc Đăng Dung, Quảng Hò2. Thực trạng về ấn chương thời Mạc



Việc tìm thấy một số ấn đồng hiếm hoi thời Mạc phải kể đến công lao của
các nhà Khảo cổ học và các cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Ba quả
ấn thời Mạc hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà
Nội, được đánh số ký hiệu riêng biệt và bảo quản cẩn thận.



Ba quả ấn này đều có chất liệu đồng, ngoại hình tương đối giống nhau với
núm ấn làm kiểu chuôi vồ và khuôn mặt ấn được đúc theo hình vuông.







Ấn thứ nhất mang ký hiệu LSb 2529, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm
dày 0,8cm. Trên ấn phía bên trái khắc 6 chữ Đại chính ngũ niên nguyệt
nhật 大正五年月日. Bên phải khắc 2 dòng chữ liền nhau, dòng ngoài mờ chữ đầu,
còn 5 chữ: Hải hậu sở chi ấn 海後所之印. Dòng bên khắc 4 chữ Thượng bảo ty
tạo 尚寶司造 dấu hình vuông kích thước 7,5x7,5cm, chữ Triện xếp theo chiều
dọc 3 hàng 6 chữ. Như vậy niên đại của ấn đã được ghi rõ là năm Đại
Chính thứ 5 (1534) đời Mạc Đăng Doanh. Đọc chữ Triện trên hình dấu chúng
tôi khẳng định chữ đầu là chữ “hoành” 橫, văn khắc trên dấu là 6 chữ
Hoành hải hậu sở chi ấn 橫海後所之印. Những chữ khắc trên núm ấn cũng giúp cho
việc đọc chữ Triện được chính xác và việc đọc chữ Triện cũng giúp cho
việc tìm ra chữ bị mờ và đối chiếu chữ được chuẩn xác. Tạm dịch là ấn
của viên tướng Hậu sở Hoành Hải. (H. 27 a,b,c).



Theo sách Thiên Nam dư hạ tập phần Quan chế[70] chép về quan chế thời Lê
có ghi Hậu sở Hoành Hải là một sở của vệ Nghiêm Dũng nằm trong phủ Tây
Quân thuộc biên chế quân đội Ngũ quân thời Lê. Hậu sở Hoành Hải ở quả ấn
này lại thuộc quân đội thời Mạc. Có thể nhà Mạc tổ chức vệ, sở ở Ngũ
quân giống như nhà Lê, song Hậu sở Hoành Hải nếu xếp vào biên chế phủ
Tây quân thì lại không phù hợp với tên gọi của của nó.



Hậu sở Hoành Hải cũng có thể nằm trong biên chế của Đông quân thuộc đạo
Hải Dương quản một số huyện duyên hải như Vĩnh Lại, An Lão, Nghi Dương
và Đông Triều đều thuộc phủ Kinh Môn. Chức chỉ huy Hậu sở Hoành hải có
thể là một viên Thống lãnh, Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó đảm nhiệm? Việc
giới thiệu quả ấn này cũng như ấn thứ 2 dưới đây xin được coi như một
tài liệu tham khảo[71].



Quả ấn thứ hai có ký hiệu LSb 2531, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm
và dày 0,7cm. Núm ấn bên trái khắc 6 chữ Hán Cảnh Lịch nhị niên nguyệt
nhật 景歷二年月日. Bên phải dòng ngoài khắc 6 chữ Thanh tái tả sở chi ấn, dòng
bên cũng khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông có kích thước
7,7x7,7cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ. Sau khi chân hóa
chữ Triện và đối chiếu, chúng tôi khẳng định đây là 6 chữ Thanh tái tả
sở chi ấn 清塞左所之印. (H. 28 a, h, c , d).



Cũng theo sách Thiên Nam dư hạ tập[72] phần chép về quan chế có ghi Tả
sở Thanh Tái là một trong năm sở của Vệ Tuyên Quang thuộc Đô ty Tuyên
Quang là lực lượng quân sự địa phương thời Lê. Tả sở Thanh Tái ở quả ấn
này thuộc quân đội thời Mạc. Đối chiếu với sách ghi về tổ chức quân đội
chính quyền thời Mạc, chúng tôi thấy có ghi Đô ty Tuyên Quang nằm trong
hệ thống quân sự địa phương và vệ Tuyên Quang là một trong các vệ thuộc
Đô ty Tuyên Quang, nhà Mạc lập các vệ sở trực thuộc các Đô ty cũng giống
như thời Lê. Như vậy Tả sở Thanh Tái có thể là một trong các sở của vệ
Tuyên Quang do một viên Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó chỉ huy.







Cùng với sử liệu thời Mạc, hai quả ấn trên là những tư liệu cho ta thấy
lực lượng quân đội nhà Mạc có hai loại đơn vị cấp Sở. Loại cấp Sở nằm
trong biên chế cấp Vệ thuộc lực lượng quân đội Ngũ quân (Ngũ phủ); loại
cấp Sở thuộc lực lượng quân sự địa phương được cấp Vệ ở Đô ty, chức năng
và quyền hạn của cấp sở thuộc Ngũ quân lớn hơn cấp Sở ở Đô ty. Việc
giới thiệu quả ấn đồng dưới đây sẽ giúp thêm cứ liệu trong nghiên cứu
vấn đề này.



Ấn thứ ba có ký hiệu LSb 2530 cán chuôi vồ tròn cao 9cm và dầy 0,6cm.
Núm ấn phía bên trái khắc dòng chữ niên đại 6 chữ Hán Thuần Phúc tam
niên nguyệt nhật 淳福三年月日. Bên phải khắc 9 chữ Hán, chữ rất mờ, riêng chữ
thứ 7 mờ hết nét: Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn. Dòng bên cạnh
khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông cỡ 8x8cm, chữ Triện xếp
theo chiều dọc 3 hàng 9 chữ. Những chữ ở núm ấn tuy bị mờ nhưng cũng
giúp cho việc Chân hóa chữ Triện được chính xác và việc Chân hóa cũng
giúp ta khẳng định những chữ bị mờ và tìm ra chữ bị mờ hết nét là chữ
“sở”. Như vậy 9 chữ ở núm ấn trùng với 9 chữ Triện trong hình dấu là
Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn 匡治衛淩川前所之印. Quả ấn này được đúc
năm Thuần Phúc thứ 3 (1564) đời Mạc Mậu Hợp, do ty Thượng bảo tạo đúc;
là ấn của viên tướng Tiền sở Lăng Xuyên thuộc vệ Khuông Trị. (H.29
a,b,c,d).







Đây là đơn vị cấp Sở nằm trong vệ Khuông Trị. Những đơn vị Sở trong quân
đội thời Mạc có không ít, không biết nó nằm trong lực lượng quân đội
Mạc ở Ngũ phủ hay thuộc Đô ty của một đạo nào (?) Lăng Xuyên là tên một
Sở và Khuông Trị là tên một Vệ cụ thể không phải lấy tên theo địa
phương, tương tự như cách đặt tên vệ Chiêu Vũ, Cẩm Y v.v… vậy. Điều này
khác biệt với hai quả ấn cấp Sở mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Tuy
nhiên việc phân tích tên gọi của đơn vị cấp Sở, Vệ của ba quả ấn trên
chúng tôi tạm dừng lại ở đây và không coi đó là ý kiến khẳng định; mong
rằng đây là những tư liệu hiện vật cung cấp thêm cho công tác nghiên cứu
giới thiệu về lịch sử triều Mạc.

Việc trên mặt núm của cả ba quả ấn đều ghi Thượng bảo ty tạo đã chứng
minh rằng nhà Mạc đã lập ty Thượng bảo để tạo đúc vật dụng kim loại, chủ
yếu chế tác từ nguyên liệu đồng. Hầu hết các ấn tín thời Mạc đều được
sản xuất từ ty Thượng bảo. Nhà Mạc lập ty Thượng bảo theo cơ cấu tổ chức
của nhà Lê sơ mô phỏng theo tổ chức của nhà Minh Trung Quốc. Khi bắt
đầu việc đặt quan ở các cấp chính quyền trung ương hoặc địa phương và
phong chức tướng tá cho các đơn vị quân đội, nhà Mạc giao ấn tín cho các
quan tướng đó mỗi cấp, mỗi đơn vị một bộ ấn đồng dùng theo luật định.
Những ấn đồng này đã được làm ở ty Thượng bảo theo mẫu mã nhất định. So
sánh với những ấn đồng của các triều đại trước và sau nhà Mạc, chúng tôi
thấy cách tạo tác núm ấn, khuôn dấu, viền ngoài và văn khắc nét chữ nhà
Mạc làm khá đơn giản, sơ sài, không đều và không đẹp.



Chứng tích về hình dấu trên văn bản Hán Nôm thời Mạc hiện nay đáng tiếc
là không còn, ngoại trừ trường hợp loại hình sắc phong thần còn lưu hình
dấu Kim Bảo có niên đại thời Mạc ở hai điểm di tích thuộc đồng bằng Bắc
Bộ. Tại đền Quang Lãng[73], xã Thụy Hải, Kiến Thụy, Thái Bình còn giữ
được nhiều đạo sắc phong trong đó có các sắc ghi niên đại năm Minh Đức
nguyên niên (1527) đời Mạc Đăng Dung, Quảng Hòa sơ niên (1540) đời Mạc
Đăng Doanh và Cảnh Lịch sơ niên (1548) đời Mạc Phúc Nguyên. Trên dòng
ghi niên hiệu của các tờ sắc trên có hình dấu son với 4 chữ Triện Sắc
mệnh chi bảo 敕命之寶.













Đạo sắc đời Cảnh Lịch hầu như rách hết phần chính và chỉ còn lại dòng
niên đại Cảnh Lịch sơ niên tứ nguyệt nhị thập bát nhật (景歷初年四月二十八日)
(Ngày 18 tháng 4 năm Cảnh Lịch sơ niên [1548]). Đạo sắc đời Minh Đức
cũng bị rách gần hết chỉ còn dòng niên hiệu ghi Minh Đức nguyên niên
thập nhị nguyệt sơ ngũ nhật (明德元年十二月初五日) (Ngày 5 tháng 12 năm Minh Đức
nguyên niên [1527]). Đạo sắc Quảng Hòa còn giữ được lành lặn hơn với
dòng niên đại ghi là Quảng Hòa sơ niên lục nguyệt sơ thập nhật
(廣和初年六月初十日) (Ngày 10 tháng 6 năm Quảng Hòa sơ niên [1540]). Chữ Hán ở
các đạo sắc này viết lối Chân rõ ràng, nét chữ, khoảng cách chữ bố cục
khác với chữ trên sắc phong thời Lê Trung hưng sau này. (H. 30, 31, 32).



Về hình dấu trên các sắc phong này có kích thước, bố cục chữ và kiểu chữ
Triện giống nhau, là bốn chữ Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶. Riêng nét chữ Triện
ở thời Minh Đức có khác nét chữ của 2 dấu kia một chút, đồng thời mầu
mực son ở dấu đời Minh Đức này cùng nhạt và khác màu mực son của 2 dấu
đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. Vị trí đóng dấu mép trên dấu của cả 3 hình
dấu trên đều đóng đè lên chữ thứ nhất dòng niên hiệu, nó khác với vị trí
đóng dấu của các sắc phong từ thời Lê Trung hưng trở về sau là đóng đè
lên từ chữ thứ 2 của dòng ghi niên hiệu.



Xem xét đạo sắc phong thời Mạc khác ở đình làng Tử Dương, huyện Thường
Tín, Hà Tây chúng tôi thấy nó cũng có những đặc điểm văn bản tương tự
như ba đạo sắc trên. Một phần chính văn đã bị rách nát, riêng dòng niên
đại ghi rõ Sùng Khang cửu niên thập nhất nguyệt sơ lục nhật 崇康九年十一月初六日.
Tức ngày 6 tháng 11 năm Sùng Khang thứ 9 (1547) đời Mạc Mậu Hợp. Hình
dấu trên dòng niên hiệu về kích thước, bố cục, bốn chữ Triện trong dấu,
và vị trí giống như 3 hình dấu ở đạo sắc phong trên. Riêng nét chữ Triện
và mầu mực giống như 2 dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. (H. 33)



Việc khẳng định hoàn toàn đây có phải là những sắc phong thời Mạc hay
không đòi hỏi chúng ta phải đưa vào nhiều tiêu chí, trong đó phải phân
tích chất giấy, dùng kính xem xét kỹ hình vẽ rồng mây hoa văn trang trí,
màu sắc nhũ, kiểu chữ viết và bố cục chữ, lối hành văn dùng mỹ tự, màu
mực v.v… Những vấn đề này đòi hỏi phải có những chuyên gia riêng biệt và
hội đồng thẩm định xem xét trực tiếp văn bản. Những năm gần đây xuất
hiện không ít các sắc phong giả, nên việc giới thiệu các sắc phong thời
Mạc trên chúng tôi cũng chỉ xin dừng lại ở việc mô tả sơ bộ văn bản, còn
việc khẳng định bình xét tính chân ngụy xin dành cho các chuyên gia
nghiên cứu sau này.
2. Thực trạng về ấn chương thời Mạc

Việc tìm thấy một số ấn đồng hiếm hoi thời Mạc phải kể đến công lao của các nhà Khảo cổ học và các cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Ba quả ấn thời Mạc hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội, được đánh số ký hiệu riêng biệt và bảo quản cẩn thận.

Ba quả ấn này đều có chất liệu đồng, ngoại hình tương đối giống nhau với núm ấn làm kiểu chuôi vồ và khuôn mặt ấn được đúc theo hình vuông.



Ấn thứ nhất mang ký hiệu LSb 2529, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm dày 0,8cm. Trên ấn phía bên trái khắc 6 chữ Đại chính ngũ niên nguyệt nhật 大正五年月日. Bên phải khắc 2 dòng chữ liền nhau, dòng ngoài mờ chữ đầu, còn 5 chữ: Hải hậu sở chi ấn 海後所之印. Dòng bên khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo 尚寶司造 dấu hình vuông kích thước 7,5x7,5cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ. Như vậy niên đại của ấn đã được ghi rõ là năm Đại Chính thứ 5 (1534) đời Mạc Đăng Doanh. Đọc chữ Triện trên hình dấu chúng tôi khẳng định chữ đầu là chữ “hoành” 橫, văn khắc trên dấu là 6 chữ Hoành hải hậu sở chi ấn 橫海後所之印. Những chữ khắc trên núm ấn cũng giúp cho việc đọc chữ Triện được chính xác và việc đọc chữ Triện cũng giúp cho việc tìm ra chữ bị mờ và đối chiếu chữ được chuẩn xác. Tạm dịch là ấn của viên tướng Hậu sở Hoành Hải. (H. 27 a,b,c).

Theo sách Thiên Nam dư hạ tập phần Quan chế[70] chép về quan chế thời Lê có ghi Hậu sở Hoành Hải là một sở của vệ Nghiêm Dũng nằm trong phủ Tây Quân thuộc biên chế quân đội Ngũ quân thời Lê. Hậu sở Hoành Hải ở quả ấn này lại thuộc quân đội thời Mạc. Có thể nhà Mạc tổ chức vệ, sở ở Ngũ quân giống như nhà Lê, song Hậu sở Hoành Hải nếu xếp vào biên chế phủ Tây quân thì lại không phù hợp với tên gọi của của nó.

Hậu sở Hoành Hải cũng có thể nằm trong biên chế của Đông quân thuộc đạo Hải Dương quản một số huyện duyên hải như Vĩnh Lại, An Lão, Nghi Dương và Đông Triều đều thuộc phủ Kinh Môn. Chức chỉ huy Hậu sở Hoành hải có thể là một viên Thống lãnh, Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó đảm nhiệm? Việc giới thiệu quả ấn này cũng như ấn thứ 2 dưới đây xin được coi như một tài liệu tham khảo[71].

Quả ấn thứ hai có ký hiệu LSb 2531, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm và dày 0,7cm. Núm ấn bên trái khắc 6 chữ Hán Cảnh Lịch nhị niên nguyệt nhật 景歷二年月日. Bên phải dòng ngoài khắc 6 chữ Thanh tái tả sở chi ấn, dòng bên cũng khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông có kích thước 7,7x7,7cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ. Sau khi chân hóa chữ Triện và đối chiếu, chúng tôi khẳng định đây là 6 chữ Thanh tái tả sở chi ấn 清塞左所之印. (H. 28 a, h, c , d).

Cũng theo sách Thiên Nam dư hạ tập[72] phần chép về quan chế có ghi Tả sở Thanh Tái là một trong năm sở của Vệ Tuyên Quang thuộc Đô ty Tuyên Quang là lực lượng quân sự địa phương thời Lê. Tả sở Thanh Tái ở quả ấn này thuộc quân đội thời Mạc. Đối chiếu với sách ghi về tổ chức quân đội chính quyền thời Mạc, chúng tôi thấy có ghi Đô ty Tuyên Quang nằm trong hệ thống quân sự địa phương và vệ Tuyên Quang là một trong các vệ thuộc Đô ty Tuyên Quang, nhà Mạc lập các vệ sở trực thuộc các Đô ty cũng giống như thời Lê. Như vậy Tả sở Thanh Tái có thể là một trong các sở của vệ Tuyên Quang do một viên Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó chỉ huy.



Cùng với sử liệu thời Mạc, hai quả ấn trên là những tư liệu cho ta thấy lực lượng quân đội nhà Mạc có hai loại đơn vị cấp Sở. Loại cấp Sở nằm trong biên chế cấp Vệ thuộc lực lượng quân đội Ngũ quân (Ngũ phủ); loại cấp Sở thuộc lực lượng quân sự địa phương được cấp Vệ ở Đô ty, chức năng và quyền hạn của cấp sở thuộc Ngũ quân lớn hơn cấp Sở ở Đô ty. Việc giới thiệu quả ấn đồng dưới đây sẽ giúp thêm cứ liệu trong nghiên cứu vấn đề này.

Ấn thứ ba có ký hiệu LSb 2530 cán chuôi vồ tròn cao 9cm và dầy 0,6cm. Núm ấn phía bên trái khắc dòng chữ niên đại 6 chữ Hán Thuần Phúc tam niên nguyệt nhật 淳福三年月日. Bên phải khắc 9 chữ Hán, chữ rất mờ, riêng chữ thứ 7 mờ hết nét: Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn. Dòng bên cạnh khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông cỡ 8x8cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 9 chữ. Những chữ ở núm ấn tuy bị mờ nhưng cũng giúp cho việc Chân hóa chữ Triện được chính xác và việc Chân hóa cũng giúp ta khẳng định những chữ bị mờ và tìm ra chữ bị mờ hết nét là chữ “sở”. Như vậy 9 chữ ở núm ấn trùng với 9 chữ Triện trong hình dấu là Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn 匡治衛淩川前所之印. Quả ấn này được đúc năm Thuần Phúc thứ 3 (1564) đời Mạc Mậu Hợp, do ty Thượng bảo tạo đúc; là ấn của viên tướng Tiền sở Lăng Xuyên thuộc vệ Khuông Trị. (H.29 a,b,c,d).



Đây là đơn vị cấp Sở nằm trong vệ Khuông Trị. Những đơn vị Sở trong quân đội thời Mạc có không ít, không biết nó nằm trong lực lượng quân đội Mạc ở Ngũ phủ hay thuộc Đô ty của một đạo nào (?) Lăng Xuyên là tên một Sở và Khuông Trị là tên một Vệ cụ thể không phải lấy tên theo địa phương, tương tự như cách đặt tên vệ Chiêu Vũ, Cẩm Y v.v… vậy. Điều này khác biệt với hai quả ấn cấp Sở mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Tuy nhiên việc phân tích tên gọi của đơn vị cấp Sở, Vệ của ba quả ấn trên chúng tôi tạm dừng lại ở đây và không coi đó là ý kiến khẳng định; mong rằng đây là những tư liệu hiện vật cung cấp thêm cho công tác nghiên cứu giới thiệu về lịch sử triều Mạc.
Việc trên mặt núm của cả ba quả ấn đều ghi Thượng bảo ty tạo đã chứng minh rằng nhà Mạc đã lập ty Thượng bảo để tạo đúc vật dụng kim loại, chủ yếu chế tác từ nguyên liệu đồng. Hầu hết các ấn tín thời Mạc đều được sản xuất từ ty Thượng bảo. Nhà Mạc lập ty Thượng bảo theo cơ cấu tổ chức của nhà Lê sơ mô phỏng theo tổ chức của nhà Minh Trung Quốc. Khi bắt đầu việc đặt quan ở các cấp chính quyền trung ương hoặc địa phương và phong chức tướng tá cho các đơn vị quân đội, nhà Mạc giao ấn tín cho các quan tướng đó mỗi cấp, mỗi đơn vị một bộ ấn đồng dùng theo luật định. Những ấn đồng này đã được làm ở ty Thượng bảo theo mẫu mã nhất định. So sánh với những ấn đồng của các triều đại trước và sau nhà Mạc, chúng tôi thấy cách tạo tác núm ấn, khuôn dấu, viền ngoài và văn khắc nét chữ nhà Mạc làm khá đơn giản, sơ sài, không đều và không đẹp.

Chứng tích về hình dấu trên văn bản Hán Nôm thời Mạc hiện nay đáng tiếc là không còn, ngoại trừ trường hợp loại hình sắc phong thần còn lưu hình dấu Kim Bảo có niên đại thời Mạc ở hai điểm di tích thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Tại đền Quang Lãng[73], xã Thụy Hải, Kiến Thụy, Thái Bình còn giữ được nhiều đạo sắc phong trong đó có các sắc ghi niên đại năm Minh Đức nguyên niên (1527) đời Mạc Đăng Dung, Quảng Hòa sơ niên (1540) đời Mạc Đăng Doanh và Cảnh Lịch sơ niên (1548) đời Mạc Phúc Nguyên. Trên dòng ghi niên hiệu của các tờ sắc trên có hình dấu son với 4 chữ Triện Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶.






Đạo sắc đời Cảnh Lịch hầu như rách hết phần chính và chỉ còn lại dòng niên đại Cảnh Lịch sơ niên tứ nguyệt nhị thập bát nhật (景歷初年四月二十八日) (Ngày 18 tháng 4 năm Cảnh Lịch sơ niên [1548]). Đạo sắc đời Minh Đức cũng bị rách gần hết chỉ còn dòng niên hiệu ghi Minh Đức nguyên niên thập nhị nguyệt sơ ngũ nhật (明德元年十二月初五日) (Ngày 5 tháng 12 năm Minh Đức nguyên niên [1527]). Đạo sắc Quảng Hòa còn giữ được lành lặn hơn với dòng niên đại ghi là Quảng Hòa sơ niên lục nguyệt sơ thập nhật (廣和初年六月初十日) (Ngày 10 tháng 6 năm Quảng Hòa sơ niên [1540]). Chữ Hán ở các đạo sắc này viết lối Chân rõ ràng, nét chữ, khoảng cách chữ bố cục khác với chữ trên sắc phong thời Lê Trung hưng sau này. (H. 30, 31, 32).

Về hình dấu trên các sắc phong này có kích thước, bố cục chữ và kiểu chữ Triện giống nhau, là bốn chữ Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶. Riêng nét chữ Triện ở thời Minh Đức có khác nét chữ của 2 dấu kia một chút, đồng thời mầu mực son ở dấu đời Minh Đức này cùng nhạt và khác màu mực son của 2 dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. Vị trí đóng dấu mép trên dấu của cả 3 hình dấu trên đều đóng đè lên chữ thứ nhất dòng niên hiệu, nó khác với vị trí đóng dấu của các sắc phong từ thời Lê Trung hưng trở về sau là đóng đè lên từ chữ thứ 2 của dòng ghi niên hiệu.

Xem xét đạo sắc phong thời Mạc khác ở đình làng Tử Dương, huyện Thường Tín, Hà Tây chúng tôi thấy nó cũng có những đặc điểm văn bản tương tự như ba đạo sắc trên. Một phần chính văn đã bị rách nát, riêng dòng niên đại ghi rõ Sùng Khang cửu niên thập nhất nguyệt sơ lục nhật 崇康九年十一月初六日. Tức ngày 6 tháng 11 năm Sùng Khang thứ 9 (1547) đời Mạc Mậu Hợp. Hình dấu trên dòng niên hiệu về kích thước, bố cục, bốn chữ Triện trong dấu, và vị trí giống như 3 hình dấu ở đạo sắc phong trên. Riêng nét chữ Triện và mầu mực giống như 2 dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. (H. 33)

Việc khẳng định hoàn toàn đây có phải là những sắc phong thời Mạc hay không đòi hỏi chúng ta phải đưa vào nhiều tiêu chí, trong đó phải phân tích chất giấy, dùng kính xem xét kỹ hình vẽ rồng mây hoa văn trang trí, màu sắc nhũ, kiểu chữ viết và bố cục chữ, lối hành văn dùng mỹ tự, màu mực v.v… Những vấn đề này đòi hỏi phải có những chuyên gia riêng biệt2. Thực trạng về ấn chương thời Mạc



Việc tìm thấy một số ấn đồng hiếm hoi thời Mạc phải kể đến công lao của
các nhà Khảo cổ học và các cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Ba quả
ấn thời Mạc hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà
Nội, được đánh số ký hiệu riêng biệt và bảo quản cẩn thận.



Ba quả ấn này đều có chất liệu đồng, ngoại hình tương đối giống nhau với
núm ấn làm kiểu chuôi vồ và khuôn mặt ấn được đúc theo hình vuông.







Ấn thứ nhất mang ký hiệu LSb 2529, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm
dày 0,8cm. Trên ấn phía bên trái khắc 6 chữ Đại chính ngũ niên nguyệt
nhật 大正五年月日. Bên phải khắc 2 dòng chữ liền nhau, dòng ngoài mờ chữ đầu,
còn 5 chữ: Hải hậu sở chi ấn 海後所之印. Dòng bên khắc 4 chữ Thượng bảo ty
tạo 尚寶司造 dấu hình vuông kích thước 7,5x7,5cm, chữ Triện xếp theo chiều
dọc 3 hàng 6 chữ. Như vậy niên đại của ấn đã được ghi rõ là năm Đại
Chính thứ 5 (1534) đời Mạc Đăng Doanh. Đọc chữ Triện trên hình dấu chúng
tôi khẳng định chữ đầu là chữ “hoành” 橫, văn khắc trên dấu là 6 chữ
Hoành hải hậu sở chi ấn 橫海後所之印. Những chữ khắc trên núm ấn cũng giúp cho
việc đọc chữ Triện được chính xác và việc đọc chữ Triện cũng giúp cho
việc tìm ra chữ bị mờ và đối chiếu chữ được chuẩn xác. Tạm dịch là ấn
của viên tướng Hậu sở Hoành Hải. (H. 27 a,b,c).



Theo sách Thiên Nam dư hạ tập phần Quan chế[70] chép về quan chế thời Lê
có ghi Hậu sở Hoành Hải là một sở của vệ Nghiêm Dũng nằm trong phủ Tây
Quân thuộc biên chế quân đội Ngũ quân thời Lê. Hậu sở Hoành Hải ở quả ấn
này lại thuộc quân đội thời Mạc. Có thể nhà Mạc tổ chức vệ, sở ở Ngũ
quân giống như nhà Lê, song Hậu sở Hoành Hải nếu xếp vào biên chế phủ
Tây quân thì lại không phù hợp với tên gọi của của nó.



Hậu sở Hoành Hải cũng có thể nằm trong biên chế của Đông quân thuộc đạo
Hải Dương quản một số huyện duyên hải như Vĩnh Lại, An Lão, Nghi Dương
và Đông Triều đều thuộc phủ Kinh Môn. Chức chỉ huy Hậu sở Hoành hải có
thể là một viên Thống lãnh, Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó đảm nhiệm? Việc
giới thiệu quả ấn này cũng như ấn thứ 2 dưới đây xin được coi như một
tài liệu tham khảo[71].



Quả ấn thứ hai có ký hiệu LSb 2531, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm
và dày 0,7cm. Núm ấn bên trái khắc 6 chữ Hán Cảnh Lịch nhị niên nguyệt
nhật 景歷二年月日. Bên phải dòng ngoài khắc 6 chữ Thanh tái tả sở chi ấn, dòng
bên cũng khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông có kích thước
7,7x7,7cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ. Sau khi chân hóa
chữ Triện và đối chiếu, chúng tôi khẳng định đây là 6 chữ Thanh tái tả
sở chi ấn 清塞左所之印. (H. 28 a, h, c , d).



Cũng theo sách Thiên Nam dư hạ tập[72] phần chép về quan chế có ghi Tả
sở Thanh Tái là một trong năm sở của Vệ Tuyên Quang thuộc Đô ty Tuyên
Quang là lực lượng quân sự địa phương thời Lê. Tả sở Thanh Tái ở quả ấn
này thuộc quân đội thời Mạc. Đối chiếu với sách ghi về tổ chức quân đội
chính quyền thời Mạc, chúng tôi thấy có ghi Đô ty Tuyên Quang nằm trong
hệ thống quân sự địa phương và vệ Tuyên Quang là một trong các vệ thuộc
Đô ty Tuyên Quang, nhà Mạc lập các vệ sở trực thuộc các Đô ty cũng giống
như thời Lê. Như vậy Tả sở Thanh Tái có thể là một trong các sở của vệ
Tuyên Quang do một viên Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó chỉ huy.







Cùng với sử liệu thời Mạc, hai quả ấn trên là những tư liệu cho ta thấy
lực lượng quân đội nhà Mạc có hai loại đơn vị cấp Sở. Loại cấp Sở nằm
trong biên chế cấp Vệ thuộc lực lượng quân đội Ngũ quân (Ngũ phủ); loại
cấp Sở thuộc lực lượng quân sự địa phương được cấp Vệ ở Đô ty, chức năng
và quyền hạn của cấp sở thuộc Ngũ quân lớn hơn cấp Sở ở Đô ty. Việc
giới thiệu quả ấn đồng dưới đây sẽ giúp thêm cứ liệu trong nghiên cứu
vấn đề này.



Ấn thứ ba có ký hiệu LSb 2530 cán chuôi vồ tròn cao 9cm và dầy 0,6cm.
Núm ấn phía bên trái khắc dòng chữ niên đại 6 chữ Hán Thuần Phúc tam
niên nguyệt nhật 淳福三年月日. Bên phải khắc 9 chữ Hán, chữ rất mờ, riêng chữ
thứ 7 mờ hết nét: Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn. Dòng bên cạnh
khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông cỡ 8x8cm, chữ Triện xếp
theo chiều dọc 3 hàng 9 chữ. Những chữ ở núm ấn tuy bị mờ nhưng cũng
giúp cho việc Chân hóa chữ Triện được chính xác và việc Chân hóa cũng
giúp ta khẳng định những chữ bị mờ và tìm ra chữ bị mờ hết nét là chữ
“sở”. Như vậy 9 chữ ở núm ấn trùng với 9 chữ Triện trong hình dấu là
Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn 匡治衛淩川前所之印. Quả ấn này được đúc
năm Thuần Phúc thứ 3 (1564) đời Mạc Mậu Hợp, do ty Thượng bảo tạo đúc;
là ấn của viên tướng Tiền sở Lăng Xuyên thuộc vệ Khuông Trị. (H.29
a,b,c,d).







Đây là đơn vị cấp Sở nằm trong vệ Khuông Trị. Những đơn vị Sở trong quân
đội thời Mạc có không ít, không biết nó nằm trong lực lượng quân đội
Mạc ở Ngũ phủ hay thuộc Đô ty của một đạo nào (?) Lăng Xuyên là tên một
Sở và Khuông Trị là tên một Vệ cụ thể không phải lấy tên theo địa
phương, tương tự như cách đặt tên vệ Chiêu Vũ, Cẩm Y v.v… vậy. Điều này
khác biệt với hai quả ấn cấp Sở mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Tuy
nhiên việc phân tích tên gọi của đơn vị cấp Sở, Vệ của ba quả ấn trên
chúng tôi tạm dừng lại ở đây và không coi đó là ý kiến khẳng định; mong
rằng đây là những tư liệu hiện vật cung cấp thêm cho công tác nghiên cứu
giới thiệu về lịch sử triều Mạc.

Việc trên mặt núm của cả ba quả ấn đều ghi Thượng bảo ty tạo đã chứng
minh rằng nhà Mạc đã lập ty Thượng bảo để tạo đúc vật dụng kim loại, chủ
yếu chế tác từ nguyên liệu đồng. Hầu hết các ấn tín thời Mạc đều được
sản xuất từ ty Thượng bảo. Nhà Mạc lập ty Thượng bảo theo cơ cấu tổ chức
của nhà Lê sơ mô phỏng theo tổ chức của nhà Minh Trung Quốc. Khi bắt
đầu việc đặt quan ở các cấp chính quyền trung ương hoặc địa phương và
phong chức tướng tá cho các đơn vị quân đội, nhà Mạc giao ấn tín cho các
quan tướng đó mỗi cấp, mỗi đơn vị một bộ ấn đồng dùng theo luật định.
Những ấn đồng này đã được làm ở ty Thượng bảo theo mẫu mã nhất định. So
sánh với những ấn đồng của các triều đại trước và sau nhà Mạc, chúng tôi
thấy cách tạo tác núm ấn, khuôn dấu, viền ngoài và văn khắc nét chữ nhà
Mạc làm khá đơn giản, sơ sài, không đều và không đẹp.



Chứng tích về hình dấu trên văn bản Hán Nôm thời Mạc hiện nay đáng tiếc
là không còn, ngoại trừ trường hợp loại hình sắc phong thần còn lưu hình
dấu Kim Bảo có niên đại thời Mạc ở hai điểm di tích thuộc đồng bằng Bắc
Bộ. Tại đền Quang Lãng[73], xã Thụy Hải, Kiến Thụy, Thái Bình còn giữ
được nhiều đạo sắc phong trong đó có các sắc ghi niên đại năm Minh Đức
nguyên niên (1527) đời Mạc Đăng Dung, Quảng Hòa sơ niên (1540) đời Mạc
Đăng Doanh và Cảnh Lịch sơ niên (1548) đời Mạc Phúc Nguyên. Trên dòng
ghi niên hiệu của các tờ sắc trên có hình dấu son với 4 chữ Triện Sắc
mệnh chi bảo 敕命之寶.













Đạo sắc đời Cảnh Lịch hầu như rách hết phần chính và chỉ còn lại dòng
niên đại Cảnh Lịch sơ niên tứ nguyệt nhị thập bát nhật (景歷初年四月二十八日)
(Ngày 18 tháng 4 năm Cảnh Lịch sơ niên [1548]). Đạo sắc đời Minh Đức
cũng bị rách gần hết chỉ còn dòng niên hiệu ghi Minh Đức nguyên niên
thập nhị nguyệt sơ ngũ nhật (明德元年十二月初五日) (Ngày 5 tháng 12 năm Minh Đức
nguyên niên [1527]). Đạo sắc Quảng Hòa còn giữ được lành lặn hơn với
dòng niên đại ghi là Quảng Hòa sơ niên lục nguyệt sơ thập nhật
(廣和初年六月初十日) (Ngày 10 tháng 6 năm Quảng Hòa sơ niên [1540]). Chữ Hán ở
các đạo sắc này viết lối Chân rõ ràng, nét chữ, khoảng cách chữ bố cục
khác với chữ trên sắc phong thời Lê Trung hưng sau này. (H. 30, 31, 32).



Về hình dấu trên các sắc phong này có kích thước, bố cục chữ và kiểu chữ
Triện giống nhau, là bốn chữ Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶. Riêng nét chữ Triện
ở thời Minh Đức có khác nét chữ của 2 dấu kia một chút, đồng thời mầu
mực son ở dấu đời Minh Đức này cùng nhạt và khác màu mực son của 2 dấu
đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. Vị trí đóng dấu mép trên dấu của cả 3 hình
dấu trên đều đóng đè lên chữ thứ nhất dòng niên hiệu, nó khác với vị trí
đóng dấu của các sắc phong từ thời Lê Trung hưng trở về sau là đóng đè
lên từ chữ thứ 2 của dòng ghi niên hiệu.



Xem xét đạo sắc phong thời Mạc khác ở đình làng Tử Dương, huyện Thường
Tín, Hà Tây chúng tôi thấy nó cũng có những đặc điểm văn bản tương tự
như ba đạo sắc trên. Một phần chính văn đã bị rách nát, riêng dòng niên
đại ghi rõ Sùng Khang cửu niên thập nhất nguyệt sơ lục nhật 崇康九年十一月初六日.
Tức ngày 6 tháng 11 năm Sùng Khang thứ 9 (1547) đời Mạc Mậu Hợp. Hình
dấu trên dòng niên hiệu về kích thước, bố cục, bốn chữ Triện trong dấu,
và vị trí giống như 3 hình dấu ở đạo sắc phong trên. Riêng nét chữ Triện
và mầu mực giống như 2 dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. (H. 33)



Việc khẳng định hoàn toàn đây có phải là những sắc phong thời Mạc hay
không đòi hỏi chúng ta phải đưa vào nhiều tiêu chí, trong đó phải phân
tích chất giấy, dùng kính xem xét kỹ hình vẽ rồng mây hoa văn trang trí,
màu sắc nhũ, kiểu chữ viết và bố cục chữ, lối hành văn dùng mỹ tự, màu
mực v.v… Những vấn đề này đòi hỏi phải có những chuyên gia riêng biệt và
hội đồng thẩm định xem xét trực tiếp văn bản. Những năm gần đây xuất
hiện không ít các sắc phong giả, nên việc giới thiệu các sắc phong thời
Mạc trên chúng tôi cũng chỉ xin dừng lại ở việc mô tả sơ bộ văn bản, còn
việc khẳng định bình xét tính chân ngụy xin dành cho các chuyên gia
nghiên cứu sau này\và hội đồng thẩm định xem xét trực tiếp văn bản. Những năm gần đây xuất hiện không ít các sắc phong giả, nên việc giới thiệu các sắc phong thời Mạc trên chúng tôi cũng chỉ xin dừng lại ở việc mô tả sơ bộ văn bản, còn việc khẳng định bình xét tính chân ngụy xin dành cho các chuyên gia nghiên cứa sơ niên (1540) đời Mạc Đăng Doanh và Cảnh Lịch sơ niên (1548) đời Mạc Phúc Nguyên. Trên dòng ghi niên hiệu của các tờ sắc trên có hình dấu son với 4 chữ Triện Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶.






Đạo sắc đời Cảnh Lịch hầu như rách hết phần chính và chỉ còn lại dòng niên đại Cảnh Lịch sơ niên tứ nguyệt nhị thập bát nhật (景歷初年四月二十八日) (Ngày 18 tháng 4 năm Cảnh Lịch sơ niên [1548]). Đạo sắc đời Minh Đức cũng bị rách gần hết chỉ còn dòng niên hiệu ghi Minh Đức nguyên niên thập nhị nguyệt sơ ngũ nhật (明德元年十二月初五日) (Ngày 5 tháng 12 năm Minh Đức nguyên niên [1527]). Đạo sắc Quảng Hòa còn giữ được lành lặn hơn với dòng niên đại ghi là Quảng Hòa sơ niên lục nguyệt sơ thập nhật (廣和初年六月初十日) (Ngày 10 tháng 6 năm Quảng Hòa sơ niên [1540]). Chữ Hán ở các đạo sắc này viết lối Chân rõ ràng, nét chữ, khoảng cách chữ bố cục khác với chữ trên sắc phong thời Lê Trung hưng sau này. (H. 30, 31, 32).

Về hình dấu trên các sắc phong này có kích thước, bố cục chữ và kiểu chữ Triện giống nhau, là bốn chữ Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶. Riêng nét chữ Triện ở thời Minh Đức có khác nét chữ của 2 dấu kia một chút, đồng thời mầu mực son ở dấu đời Minh Đức này cùng nhạt và khác màu mực son của 2 dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. Vị trí đóng dấu mép trên dấu của cả 3 hình dấu trên đều đóng đè lên chữ thứ nhất dòng niên hiệu, nó khác với vị trí đóng dấu của các sắc phong từ thời Lê Trung hưng trở về sau là đóng đè lên từ chữ thứ 2 của dòng ghi niên hiệu.

Xem xét đạo sắc phong thời Mạc khác ở đình làng Tử Dương, huyện Thường Tín, Hà Tây chúng tôi thấy nó cũng có những đặc điểm văn bản tương tự như ba đạo sắc trên. Một phần chính văn đã bị rách nát, riêng dòng niên đại ghi rõ Sùng Khang cửu niên thập nhất nguyệt sơ lục nhật 崇康九年十一月初六日. Tức ngày 6 tháng 11 năm Sùng Khang thứ 9 (1547) đời Mạc Mậu Hợp. Hình dấu trên dòng niên hiệu về kích thước, bố cục, bốn chữ Triện trong dấu, và vị trí giống như 3 hình dấu ở đạo sắc phong trên. Riêng nét chữ Triện và mầu mực giống như 2 dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. (H. 33)

Việc khẳng định hoàn toàn đây có phải là những sắc phong thời Mạc hay không đòi hỏi chúng ta phải đưa vào nhiều tiêu chí, trong đó phải phân tích chất giấy, dùng kính xem xét kỹ hình vẽ rồng mây hoa văn trang trí, màu sắc nhũ, kiểu chữ viết và bố cục chữ, lối hành văn dùng mỹ tự, màu mực v.v… Những vấn đề này đòi hỏi phải có những chuyên gia riêng biệt2. Thực trạng về ấn chương thời Mạc



Việc tìm th
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:29

CHƯƠNG II ẤN CHƯƠNG VIỆT NAM THỜI LÊ TRUNG HƯNG (1533-1788)


I. Bối cảnh lịch sử

Triều đình Lê Trung hưng có đặc thù riêng khác các vương triều trước là sự hình hành tổ chức chế độ nhà Chúa, tính từ Trịnh Tùng với chức Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ tước Bình An vương. Trịnh Tùng thâu tóm quyền hành bên cạnh vua Lê, bắt đầu cho một thời kỳ mới mà hậu thế gọi là thời vua Lê - chúa Trịnh. Từ đây trở đi con cái chúa Trịnh cũng được quyền thế tập, cũng được lập làm Thế tử. Trịnh Tùng cho lập phủ liêu riêng gồm đủ cả lục Phiên tương đương với hệ thống lục Bộ v.v… Phủ chúa toàn quyền đặt quan, thu thuế, bắt lính, kiểm duyệt, phong thưởng v.v… vua Lê chỉ có mặt trong các dịp lễ tiết và tiếp sứ giả mà thôi. Chính vì thế mà những chứng tích ấn chương còn đến ngày nay trên tư liệu, hiện vật và thư tịch văn bản chủ yếu là những chứng tích của nhà chúa, ít mang dấu ấn của các vua Lê, trừ một vài loại hình như sắc phong và văn bản hành chính địa phương.

Việc tấn phong và phong tước vị, chức vụ cao cấp cho các chúa Trịnh cùng các tuớng lĩnh đại thần họ Trịnh đã được chính sử ghi lại và được coi là những sự kiện trọng đại. Phần nhiều việc tấn phong hoặc phong trên đều có ban kèm sách vàng ấn vàng hay sách bạc ấn bạc.

Bắt đầu phải kể đến công lao to lớn của Trịnh Tùng trong sự nghiệp Trung hưng lập nên nhà Hậu Lê, đã được lịch sử ghi nhận. Tháng 4 năm Kỷ Hợi (1599) vua Lê tấn phong Trịnh Tùng làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương, ban cho ông sách vàng ấn báu cùng ruộng đất phong ấp. Tỷ ấn Bình An vương tỷ đã được ra đời trong thời gian này, dùng đóng trên các bản lệnh chỉ, lệnh dụ mà Trịnh Tùng ban xuống. Hình thức khắc ấn tỷ này đã được triều đình Lê - Trịnh coi là mẫu cơ bản cho việc chế tác, khắc và sử dụng tỷ ấn của các chúa Trịnh từ năm 1599 đến hết thời Hậu Lê, tuy nội dung văn khắc của một số tỷ ấn có khác nhau.

Chứng tích về Tỷ ấn Bình An vương tỷ ngày nay còn lưu lại trong cuốn sách Bình An vương lệnh chỉ, nó được coi là văn bản cổ nhất trong kho thư tịch ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có niên đại năm Quang Hưng thứ 22 (1599), với hình dấu son Bình An vương tỷ còn in rõ ở dòng ghi niên hiệu.

Thời Hậu Lê nhiều sự kiện lịch sử, trong đó có chi tiết ghi về việc tấn phong, phong, ban, cấp sách ấn cho các chúa Trịnh được chính sử ghi lại khá rõ: “Năm 1623 tấn phong vương thế tử Thái phó Hiệp mưu đồng đức công thần Đô tướng Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm quản Bình chương quân quốc trọng sự Thanh Quận công Trịnh Tráng làm Thái úy Thanh Quốc công… Mùa đông tháng 11 sách phong Tiết chế Thái úy Thanh Quốc công Trịnh Tráng làm Nguyên súy Thống quốc chính Thanh Đô vương”[74]. Mùa đông tháng 10 năm 1629 vua Lê lại tấn phong Thanh Đô vương lên tước vị cao hơn ban kèm sách vàng ấn báu. Lời kinh sách ghi rằng: “Đặc sai quan mang phù tiết, sách vàng, ấn tước vương tấn phong [Trịnh Tráng] làm Hiệp mưu công thần Đại nguyên súy Thống quốc chính sư phụ Thanh vương…”[75]. Tỷ ấn này cũng giống như mẫu Tỷ ấn của Trịnh Tùng.

Trịnh Tráng lên nắm quyền bắt đầu cho một thời kỳ lịch sử nội chiến Trịnh - Nguyễn, chúa Trịnh Đàng Ngoài và họ Nguyễn Đàng Trong. Giai đoạn này Trịnh Tráng đã thành công trong ngoại giao với nhà Minh từ chỗ chỉ phong tước An Nam Đô thống sứ cho các vua Lê Trung hưng, đến đây họ đã chịu phong cho Lê Thần Tông làm An Nam Quốc vương. Sử cũ ghi: “Bính Tuất năm thứ 4 (1646)… vua Minh sai bọn Hàn Lâm Phan Kỳ mang sắc thư cáo mệnh và ấn bạc tráng vàng sang nước ta phong cho Thái Thượng hoàng làm An Nam Quốc vương”[76]. Đến tháng 10 năm 1651 nhà Minh lại sai quan mang sắc và ấn sang nước ta phong Thanh Đô vương Trịnh Tráng làm Phó quốc vương.

Trịnh Tạc người kế tục sự nghiệp của Trịnh Tráng cũng được tấn phong từ Tây Quốc công lên Tây Định vương đi liền với việc phong sách vàng ấn vàng mà sử cũ ghi lại với lời trịnh trọng: “Năm 1652… Đặc sai Lễ bộ Thượng thư Tri kinh diên sự kiêm Quốc tử giám Tế tửu Thiếu bảo Dương Quận công Nguyễn Nghi cầm phù tiết mang sách vàng ấn vàng vinh phong [Trịnh Tạc] làm Nguyên súy chưởng quốc chính Tây Định vương…”[77].

Ngay khi Trịnh Tạc đương nhiệm ngôi chúa vẫn được vua Lê tấn tôn phong thêm nữa. Vào năm 1659 nhà vua sai Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Nguyễn Hậu Quyến cầm phù tiết mang sách vàng ấn báu tấn tôn [Trịnh Tạc] làm Dực vận Tán trị Công thần Đại nguyên súy chưởng quốc chính Thượng sư Tây vương.

Vua Lê chúa Trịnh rất chú trọng trong việc phong chức tước cho các vương công họ Trịnh và bao giờ cũng đi kèm việc phong sách ấn. Như năm 1632 thời Trịnh Tráng “Sai bọn Lễ bộ Thượng thư Thiếu úy Lan Quận công Nguyễn Thực cầm phù tiết mang sách vàng ấn bạc phong Tả tiệp quân dinh Thái phó Sùng Quận công Trịnh Kiều làm Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh kiêm Tổng nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự phó chưởng quốc chính Thái úy Sùng Quốc công, mở phủ gọi là phủ Hùng Uy. Lại chia sai quan cầm phù tiết mang sách bạc và ấn phong Hiệp nghĩa dinh Thái úy Trung Quận công Trịnh Vân làm Trung Nhạc công…, phong Phù Nghĩa dinh Thái úy Dũng Quận công Trịnh Khải làm Dũng Lễ công”[78].

Những tướng lĩnh cao cấp là công hầu người họ Trịnh khi mở Dinh quân đều được ban cấp ấn cho Dinh đó. Như Tả Đô đốc Ninh Quận công Trịnh Toàn năm Ất Mùi 1655 có công đánh giặc được phong chức Thiếu bảo, được mở dinh gọi là “Tả dực nội quân” và được ban ấn Tả dực nội quân tướng ấn. Năm Bính Thân 1656 phong Thế tử của Tây Định vương là Trịnh Căn làm Phó Đô tướng Thái bảo Phú Quận công, mở dinh gọi là “Tả Quốc dinh” được ban ấn Tả Quốc tướng quân ấn. Em Trịnh Căn là Trịnh Đống được phong là Thiếu phó Vũ Quận công, mở dinh gọi là “Trung Khuông quân dinh” cũng được ban ấn Trung Khuông tướng quân ấn. Riêng Trịnh Căn đến năm Canh Tý 1660 được phong làm Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh kiêm Tổng chính binh Thái úy Nghi Quốc công, được mở phủ gọi là phủ “Lý Quốc” được ban sách vàng ấn bạc. Đến năm Giáp Dần 1674 Trịnh Căn được vua Lê Gia Tông sai Đại thần Phạm Công Trứ mang sách vàng ấn báu tấn phong làm Nguyên súy điển quốc chính Định Nam vương. Ấn được khắc 4 chữ Định nam vương tỷ với quy thức như Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh Tùng.

Những tướng lĩnh cao cấp không mang họ Trịnh nhưng có công lao đánh giặc cũng được vua Lê chúa Trịnh phong chức, cho mở dinh và ban cấp ấn tín. Năm Kỷ Hợi 1659 xét công thắng trận phong Đốc suất Đào Quang Nhiêu làm Phó tướng Thiếu úy, cho mở dinh gọi là “Tả dinh quân” và ban ấn Tả dinh tướng quân ấn. Năm Tân Sửu 1661 xét công dẹp giặc chiếm lại đất cũ của Lê Thì Hiến thăng lên làm Phó tướng Thiếu úy, cho mở dinh gọi là “Tả trung quân” ban ấn Tả trung tướng quân ấn.

Việc phong chức tước cho các tướng lĩnh quan lại khác cũng đi kèm với việc ban ấn chuyển giao nhận ấn tín. Năm 1661 xét công trạng phong Hoàng Nghĩa Giao làm Phó tướng Tả Đô đốc, Trần Văn Tuyển làm Ngự sử đài phó Đô Ngự sử, Phan Kiêm Toàn làm Lại bộ Hữu Thị lang, Lê Sĩ Triệt làm Hộ bộ Tả Thị lang v.v… Năm 1663 lấy Nguyễn Công Bích làm Tham chính xứ Kinh Bắc, Nguyễn Danh Thực làm Đô Cấp sự trung Hình khoa, Lê Công Triều làm Giám sát Ngự sử đạo Thanh Hoa, Đô đốc Đồng tri Đinh Văn Tả làm Đô Tổng binh xứ Yên Quảng v.v…

Việc đặt, chuyển, hoàn thiện tổ chức quan lại cấp trung ương được chính quyền Lê - Trịnh chú trọng như việc hoàn thiện từ chức lãnh đạo ở hệ thống lục Bộ vào năm Giáp Thìn 1664 cho đặt đủ số Thượng thư ở lục Bộ. Lấy Tham tụng Phạm Công Trứ làm Thượng thư bộ Lại, Bồi tụng Trần Hợp Tuyển làm Thượng thư bộ Hộ, Nguyễn Năng Thiện làm Thượng thư bộ Lễ, Vũ Duy Chí làm Thượng thư bộ Binh, Phan Kiên Toàn làm Thượng thư bộ Hình, lấy Hữu Thị lang Lễ bộ Lê Hiệu làm Thượng thư bộ Công. Các chức Thượng thư trên đều được ban cấp ấn bộ, văn khắc trên ấn là (Mỗ) bộ đường chi ấn. Ấn này vẫn theo mẫu cũ v.v… Dưới chức Thượng thư là chức Tả, Hữu Thị lang, Lang trung, Viên ngoại lang v.v… cũng được đặt theo quy định.

Các cơ quan trung ương khác như hệ thống Giám sát (các chức Đô ngự sử, Phó Đô ngự sử, Thiêm Đô ngự sử, Giám sát Ngự sử các Đạo, Đô cấp sự trung ở các Khoa), lục Tự, Điện các, Quốc tử giám, Hàn lâm viện, Thái y viện và các Nha môn sở thuộc về tổ chức và hoạt động cũng được thực hiện theo quy chế cũ Lê sơ có chỉnh lý đôi chút. Mỗi một cơ quan trên đều sử dụng ấn tín trong hoạt động công vụ.

Đầu thời Trung hưng việc phong chức đặt quan được coi là không kỹ, cho đến năm 1726 chế độ Văn quan mới được quy định lại chặt chẽ hơn, điều này chính sử chỉ nhắc đến nhưng không ghi chi tiết cụ thể.

Tổ chức quân đội thời Lê Trung hưng vẫn mô phỏng theo binh chế quân đội thời Lê sơ. Cấp Quân là cấp cao nhất gồm năm Quân (Đông quân, Tây quân, Nam quan, Bắc quân và Trung quân). Mỗi Quân đều do một tướng lĩnh cao cấp đứng đầu và thường là người họ Trịnh. Dưới nữa thì có các cấp Doanh, Vệ, Sở rồi đến Cơ, Đội v.v… Việc phong chức đặt tướng cũng được sử sách ghi lại, như năm Giáp Thìn 1664 đặt quan chưởng và Thự Ngũ phủ, cho Thái phó Trịnh Trượng làm Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự. Thái phó Trịnh Đống làm Đông quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự. Thiếu úy Trịnh Kiều làm Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thự phủ sự. Thiếu úy Lê Thì Hiến làm Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thự phủ sự. Thiếu phó Trịnh Ác làm Bắc quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thự phủ sự. Các chức này đều được ban cấp ấn tín dùng trong việc quân.

Cấp Doanh dưới Quân cũng là những đơn vị lớn và quan trọng với tên gọi khá hùng tráng như đời Trịnh Cương ở Trung quân đặt sáu Doanh là doanh Trung Dực, Trung Uy, Trung Thắng, Trung Khuông, Trung Nhuệ và Trung Tiệp. Mỗi Doanh gồm 800 quân do chức Đô đốc đứng đầu. Các Đô đốc đều được nhận lĩnh ấn tín tên Doanh của mình.

Việc kiêm nhiệm chức vụ thời Lê Trung hưng cũng có như Dương Quận công Đào Quang Nhiêu trải thờ mấy đời vua giữ các chức Trấn thủ xứ Nghệ An, kiêm trấn châu Bố Chính, Thống suất quan Tả Khuông quân doanh phó tướng, Thiếu úy - một lúc giữ mấy loại ấn tín khác nhau v.v…
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:31

II. Thực trạng ấn chương thời Lê Trung hưng

1. Hiện vật ấn chương


Cũng như nhà Mạc, nhà Lê - Trịnh tồn tại trong suốt thời kỳ chiến tranh
Lê - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn, cho đến nay, thiên tai và nạn binh hỏa đã
chôn vùi hầu hết hiện vật ấn chương giai đoạn này.

Hiện nay số hiện vật ấn thời Lê Trung hưng mà chúng tôi trực tiếp xem
xét in chụp lại còn quá ít. Ngoại trừ vài quả ấn đồng cấp phủ, huyện có
niên đại rõ ràng, còn số ít ấn gỗ không ghi niên đại và thuộc lĩnh vực
tôn giáo.

Hiện nay tại gia đình ông Nguyễn Khắc Bảo ở thị xã Bắc Ninh - người say
mê sưu tầm cổ vật và nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được một quả ấn đồng
khá nguyên vẹn. Ấn có trọng lượng 900 gram, núm hình chuôi vồ cao
6,2cm, khuôn ấn dày 1cm. Mặt trên ấn khắc hai dòng chữ Hán, bên phải là 4
chữ Thiên trường phủ ấn 天長府印, bên trái là 5 chữ Vĩnh Tộ thập niên tạo
永祚十年造.



Mặt dấu hình vuông, kích thước 8x8cm, viền ngoài để cỡ 0,8cm bên trong
là 4 chữ Triện khắc theo khuôn chữ vuông. Đó là 4 chữ Thiên Trường phủ
ấn. Bốn chữ Triện trong dấu trùng với bốn chữ khắc ở bên phải mặt núm
ấn. Đây là ấn của viên Tri phủ đứng đầu phủ Thiên Trường thuộc đạo Sơn
Nam đầu thời Lê Trung hưng[79]. Dòng chữ bên trái mặt núm ấn đã ghi rõ
ấn được tạo đúc vào năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông (H. 34
a,b,c).

Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội hiện còn lưu giữ nhiều ấn
đồng cổ, nhưng ấn thời Lê Trung hưng thì chỉ có một quả. Ấn mang ký hiệu
LSb 2527 cán chuôi vồ dẹt dưới to trên nhỏ dần. Ấn cao 8,5cm và đế dầy
1cm. Trên ấn phía bên trái đề 6 chữ, chữ đầu bị mờ, 5 chữ sau là … Đức
tứ niên nguyệt nhật. Qua nét chữ còn lại cộng với việc xác định 15
trường hợp niên đại có chữ thứ hai là chữ “Đức” 德 trong niên biểu ghi
niên hiệu các đời vua của các triều đại phong kiến Việt Nam, chúng tôi
khẳng định chữ bị mờ là chữ “Thịnh” 盛. Như vậy dòng ghi niên hiệu sẽ là
Thịnh Đức tứ niên nguyệt nhật 盛德四年月日. Năm Thịnh Đức thứ 4 là năm 1658
đời Lê Thần Tông.

Mặt trên ấn phía bên phải dòng ngoài chữ khắc đã mờ hết không đọc được,
dòng trong khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo 尚寶司造. Ty Thượng bảo tạo đúc ra
quả ấn này. Ty thượng bảo có từ thời Lê sơ, nhà Mạc lên nắm chính quyền
cũng lập ty Thượng bảo duy trì như thời Lê sơ, đấy là nơi tạo đúc vật
dụng kim loại dùng với tính chất quan trọng như ấn tín. Đến khi nhà Lê
Trung hưng đánh tan quân Mạc, chiếm lại Thăng Long thì cho tổ chức lại
ty Thượng bảo như cũ.



Mặt dấu hình vuông kích thước 6,5x6,5cm, viền ngoài để cỡ 0,5cm, 4 chữ
Triện khắc vuông vức rõ nét, là 4 chữ Bình Nguyên châu ấn 平原州印. Đây là
ấn của viên Tri châu châu Bình Nguyên[80]. (H. 35 a,b,c,d).

Tại một ngôi điện thờ ở Phú Xuyên, Hà Tây cách Hà Nội hơn 30km còn lưu
giữ được khá nhiều ấn gỗ. Đạo sĩ Trần[81] cho tôi xem một lá bùa và 28
quả ấn gỗ khác nhau mà dòng họ ông đã tạo ra và gìn giữ ngót hai thế kỷ
nay. Trong số 28 quả ấn gỗ, chúng tôi chỉ đọc được nội dung của 24 quả
có văn khắc theo thể Triện thư. Số ấn đều có chất liệu bằng gỗ, theo lời
của ông Trần thì ấn được làm chủ yếu bằng gỗ đào và lê. Núm ấn đều được
khắc đơn giản theo kiểu có núm cầm và một số quả được quét sơn ta cẩn
thận. Có 3 quả ấn mặt núm có khắc chữ Hán kiểu Chân thư, số ấn còn lại
đều để trơn. Mặt dấu làm theo hình vuông và hình chữ nhật, viền ngoài
thường khắc nổi một đường viền, có 6 chiếc khắc họa tiết cung đình.
Trước hết xin được giới thiệu số ấn có khắc tên tước vương của Trần Quốc
Tuấn và tên Điện súy Phạm Ngũ Lão theo hình dấu của mỗi quả ấn khác
nhau.

- Ấn thứ nhất để mộc, núm cầm nhỏ, mặt đế và dấu hình vuông có kích
thước 6,5x6,5cm, viền ngoài khắc họa tiết, 4 chữ Triện trong dấu là Trần
triều Hưng Đạo 陳朝興道. Đây là dấu ấn của Hưng Đạo vương triều Trần. (H.
36 a,b,c)

- Ấn thứ hai, núm cầm rộng, thấp khắc chữ thượng, trên ấn khắc họa tiết,
toàn thân quét sơn ta. Đế ấn và mặt dấu hình vuông có kích thước
8,7x8,7cm, viền ngoài dày 1,8cm, trong dấu là 4 chữ Triện Trần Hưng Đạo
ấn 陳興道印:

- Ấn thứ ba, núm cầm vừa phải, mặt đế ấn và dấu bốn góc hơi uốn, hình
hơi chữ nhật có kích thước 6,8x7,3cm, viền ngoài dày 1cm, trong là 5 chữ
Triện Trần Hưng Đạo vương ấn 陳興道王印: ấn dấu của Hưng Đạo vương triều
Trần. (H. 38 a,b)

- Ấn thứ tư, núm nhỏ khắc chữ thượng, mặt trên làm thuôn mái hình vòng
cung. Mặt đế ấn và dấu làm hình chữ nhật có kích thước 5,8x9,0cm khắc 8
chữ Chân (chia làm 2 hàng dọc) Trần triều hưng đạo y hứa thánh tử
陳朝興道依許聖子: Hưng Đạo vương triều Trần chuẩn y cho các thánh tử. (H. 39
a,b,c)

- Ấn thứ năm, núm vừa phải, loe trên, mặt đế và dấu hình vuông có kích
thước 6,5x6,5cm, khắc họa tiết viền ngoài và bên trong là 4 chữ Triện
Trần triều điện súy 陳朝殿帥: ấn dấu của Điện súy triều Trần. (H. 40 a,b)

- Ấn thứ sáu, thân ấn mỏng, núm mỏng và rộng, mặt đế và dấu hình vuông
có kích thước 7x7cm khắc 12 chữ Triện (xếp làm 3 hàng dọc) Trần triều
điện súy thượng tướng quân quan nội hầu chi ấn 陳朝殿帥上將軍關内侯之印: ấn dấu của
quan nội hầu Thượng tướng quân Điện súy triều Trần[82]. (H. 41 a,b)

Ấn thứ bẩy để mộc, làm đơn giản và thuộc loại nhỏ, đế ấn và mặt dấu hình
vuông có kích thước là 4,5x4,5cm, 4 chữ Triện khắc vuông vức là Bảo
Linh điện ấn 寶靈殿印: ấn dấu của điện Bảo Linh. (H. 42 a,b,c).

Việc xác định niên đại của 7 quả ấn trên cũng như toàn bộ số ấn gỗ của
ngôi điện thật khó khăn. Xem xét kỹ từng quả ấn với chất liệu gỗ, kỹ
thuật gọt đẽo và độ sơn phủ trên núm ấn gần giống một số đồ thờ và nội
thất ngôi điện. Theo lời kể của đạo sĩ Trần, số ấn này được làm ra từ
thời lập điện thờ và bắt đầu nghiệp đạo sĩ của các cụ tổ nhà ông cuối
thời Hậu Lê. Đồng thời xem xét một số sắc phong của ngôi điện, chúng tôi
thấy sắc phong thời Lê Cảnh Hưng có thêm hình dấu của Trần Hưng Đạo,
còn đạo sĩ Trần khẳng định rằng tổ tiên mình xưa kia khi tiếp nhận tờ
sắc phong đã dùng luôn con dấu của bản điện đóng vào tờ sắc đó. Ở trường
hợp này cái khó không phải là việc đọc hiểu rõ chữ Triện trong con dấu
mà là việc xác định được thời gian con dấu đó in trên văn bản có cùng
niên đại thảo văn bản đó hay không (?) Việc lập điện thờ đức Thánh Trần
để thờ phụng và hành nghề đạo sĩ phải có những con dấu của đức Thánh
Trần đóng trên bùa chú là việc tất yếu, phải chăng là lập luận có sức
thuyết phục trong việc xác định niên đại của số ấn dấu trên (?) Từ đó
chúng tôi cho rằng những quả ấn trên có khả năng được làm ra từ thời Lê
Trung hưng.





Năm 1999, PGS. TS. Đỗ Thị Hảo đã cung cấp cho chúng tôi một ấn dấu nhỏ.
Ấn bằng đồng, núm cầm kiểu chuôi vồ ngắn, đế ấn phần khuôn dấu hình
vuông. Mặt trên ấn phần núm khắc dòng ghi niên đại chữ Hán lối Chân thư
Vĩnh Hựu tứ niên Mậu Ngọ tứ nguyệt 永祐四年戊午四月. Mặt dấu hình vuông kích
thước 8,1x8,1cm, gốc hơi uốn, nét viền để mảnh. Văn khắc là 6 chữ Chứng
thu mễ thuế chi ấn 証收米稅之印 (ấn chứng thực việc thu thuế gạo). Dòng niên
đại khắc trên mặt ấn khẳng định quả ấn này được làm năm Mậu Ngọ niên
hiệu Vĩnh Hựu thứ 4 tức năm 1738 đời vua Lê Ý Tông.

Hệ thống lục Bộ thời Lê Trung hưng vẫn được duy trì theo cơ cấu tổ chức
từ thời Lê sơ. Bộ Hộ có nhiệm vụ trông coi ruộng đất hộ khẩu, tài chính,
tô thuế, kho tàng, thóc gạo tiền lương. Cơ quan chuyên trách của bộ Hộ
là Độ chi Thanh lại ty và Bản tịch Thanh lại ty. Nhiệm vụ của Độ chi
Thanh lại ty là phân bổ tô thuế trong toàn quốc, đánh thuế đối với lương
thực, sản vật các loại ở mỗi địa phương khác nhau, định mức tô thuế cho
công bằng, xem xét việc xuất nhập tiền tài thuế má, thu chi v.v… Trưởng
quan của Độ chi Thanh lại ty là chức Lang trung có hai Viên ngoại lang
phụ tá. Ấn Chứng thu mễ thuế chi ấn này là ấn tín của một chức quan nhỏ
chuyên thu thuế thóc gạo ở các địa phương, nó nằm trong hệ thống ấn tín
thu tô thuế, thu mua các sản vật của Độ chi Thanh lại ty trên. Đây là ấn
dấu duy nhất về lĩnh vực thuế khóa mà chúng tôi sưu tầm được, xin được
giới thiệu bổ sung cho số hiện vật ấn tín thời Lê Trung hưng. (H. 43)

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:31

2. Hình dấu trên văn bản Hán Nôm

Văn bản Hán Nôm có niên đại rất sớm đầu thời Lê Trung hưng có xuất xứ ở
khu vực Nam Trung Bộ đã được ông Trần Viết Ngạc công bố trong Nghiên cứu
Huế năm 1999[83]. Đây là một bản công văn hành chính chữ Hán còn được
giữ khá nguyên vẹn, có niên đại từ năm Quang Hưng thứ 20 (1596). Chính
văn có 4 dòng 97 chữ và một dòng ghi niên đại, chữ Hán viết Chân, khuôn
chữ bè ngang giống chữ trên các văn bản hành chính thời Lê Trung hưng mà
chúng tôi đã gặp. Đặc biệt trên dòng niên đại có in một dấu lớn hình
vuông màu son đỏ. Cuối văn bản còn hình dấu chữ “Thị” và dấu hoa giáp
khá lớn để đánh dấu loại hình văn bản.

Nội dung văn bản là một bản công văn của chức Tổng trấn (Thuận Quảng)
lệnh cho Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh đang quyền quản huyện Tuy Viễn,
trấn An Biên đem số dân xã Ba Thi cùng lưu dân bản huyện vào khai hoang
vùng đất từ Cù Mông, Bà Đài, Ba Điền, Đà Miễu…[84] các xứ từ thượng
nguồn đến cửa biển, dựng nhà lập ấp, khẩn hoang trồng trọt ổn định thu
hoạch thì nạp thuế theo lệ. Nếu như vì việc mà nhũng nhiễu dân thì sẽ bị
xử tội.

Dòng niên đại ghi rõ 10 chữ Quang Hưng nhị thập niên nhị nguyệt sơ lục
nhật (光興二十年二月初六日) tức ngày 6 tháng 2 năm Quang Hưng thứ 20 (1597) đời Lê
Thế Tông.

Trở lại với hình dấu ở dòng niên đại. Dấu hơi có hình chữ nhật đứng,
khuôn viền để rộng. Văn khắc là 6 chữ Triện chia làm 3 hàng, chữ cũng có
khuôn hình chữ nhật đứng, nét chắc ngắn dễ đọc. Đó là 6 chữ Tổng trấn
tướng quân chi ấn 總鎭將軍之印 (ấn của Tổng trấn tướng quân). (H. 44 a, b).

Dấu chữ “thị” và dấu hoa giáp cũng là những tiêu chí phụ khẳng định độ
xác thực của văn bản này.

Thời gian của văn bản này nằm trong thời kỳ cuối của chiến tranh Nam -
Bắc triều, có niên hiệu nhà Lê và chức Tổng trấn tướng quân. Giở lại
lịch sử thì chức Tổng trấn quản lãnh khu vực Trung Bộ và Nam Trung Bộ
lúc đó là chức Tổng trấn Thuận - Quảng. Viên Tổng trấn này chính là nhân
vật lịch sử Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng khi 21 tuổi cha là Nguyễn Kim
mất được tập phong tước Hạ Khê hầu. Sau đó đời Lê Trang Tông được tấn
phong tước Đoan Quận công. Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558) chủ mưu lánh nạn,
Nguyễn Hoàng được làm Tiết chế vào Trấn thủ Thuận Hóa[85]. Tháng Giêng
năm Canh Ngọ (1570) Nguyễn Hoàng được phong làm Tổng trấn kiêm lãnh hai
xứ Thuận Hóa - Quảng Nam[86]. Chính sử ghi về ông “vỗ về dân chúng, thu
dùng hào kiệt, giảm nhẹ tô thuế, rất được lòng người. Người bấy giờ gọi
ông là chúa Tiên” và “Đoan Quốc công là người có uy lược, cai trị hơn 40
năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng chú ý ban ân huệ cho dân, răn đe
quân mình, ngăn cấm hung bạo, dân đều tin phục, cổng ngoài không phải
đóng, hàng năm nộp tô thuế về triều, là chỗ dựa của triều đình”[87].

Khi được phong là Tổng trấn Thuận - Quảng, Nguyễn Hoàng đã nhận ấn Tổng
trấn tướng quân chi ấn. Điều này nói rõ chức của ông là Tống trấn tướng
quân chứ không phải chỉ là chức Tổng trấn thôi. Thời kỳ chiến tranh đầu
Trung hưng tất cả các chức đứng đầu chính quyền địa phương đều do các
tướng tài đảm nhiệm, nguyên tắc này còn duy trì mãi đến chế độ quân quản
về sau.



Năm Quý Tỵ (1593) quân Mạc đại bại, vua Lê trở lại Đông Đô, Nguyễn Hoàng
đem quân yết kiến được vua Lê phong chức Trung quân Đô đốc phủ, Tả Đô
đốc chưởng phủ sự, Thái úy Quốc công. Tám năm ở Đông Đô ông nhiều lần
đánh dẹp thành công tàn quân Mạc, tuy vậy việc điều hành chính quyền
Thuận - Quảng phía Nam vẫn được ông chú trọng.

Một số văn bản quan trọng đã được ông thực hiện và đóng dấu Tổng trấn
tướng quân chi ấn từ Đông Đô (Hà Nội) gửi về Nam chỉ đạo các quan tướng
thực thi theo chủ trương chính sách của ông mở mang bờ cõi, khai phá đất
hoang, lập làng dựng chính quyền các cấp, vỗ yên dân chúng, đảm bảo trị
an xã hội và kỷ luật quân đội, quan trường. Chính sách đúng đắn của ông
đã thành công, một dải từ đèo Cù Mông tới núi đá Bia đã thuộc về Tổng
trấn Nguyễn Hoàng và phủ Phú Yên chính thức thành lập năm 1611. Lãnh thổ
Việt Nam khi ấy đã được mở rộng xuống phía Nam rất nhiều phải kể đến
công lao to lớn của Nguyễn Hoàng và các thuộc tướng của ông trong đó có
Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh.

Lương Văn Chánh, một tùy tướng theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa từ buổi
sơ khai có nhiều công lao giúp Nguyễn Hoàng trong khẩn hoang mở ấp vùng
Nam Trung Bộ và đặc biệt vùng đất thuộc tỉnh Phú Yên. Ông Trần Viết Ngạc
đã nghiên cứu về nhân vật này và có những ý kiến giá trị: “Các tư liệu
điền dã khác như gia phổ, tộc phổ, văn tế, di tích về Lương Văn Chánh
đều tỏ ra phù hợp với bản văn nói trên và nhờ bản văn nói trên mà tính
cách xác thực của các tư liệu được kiểm chứng”[88].

Cuốn sách mỏng Bình An vương lệnh chỉ có kí hiệu VHv.2489 hiện nằm trong
kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm mà Thạc sĩ Nguyễn Hữu Mùi - cán bộ
phòng Bảo quản đưa cho tôi với lời khẳng định: “Đây là văn bản Hán Nôm
cổ nhất trong số thư tịch ở kho sách này”. Văn bản đóng thành sách gồm 4
trang, khổ 34x21cm, chữ Hán chép tay theo thể Khải thư, viết trên giấy
bản đã cũ. Đường mép giấy bị rách mờ đã được bồi dán lại. Hai trang đầu
với 19 dòng chữ Hán kể cả dòng cuối trang nhất đã bị mờ. Nội dung là
Lệnh chỉ của Đô Nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương
Trịnh Tùng chuẩn cấp cho xã Vũ Liệt, huyện Thanh Chương (Nghệ An) 21
người được miễn phu phen tạp dịch, để trông nom giữ gìn và thờ cúng ngôi
đền thờ thần Đô Thiên đại đế Long vương ở bản xã, sau cùng là tên họ
của 21 người ghi ở cuối trang nhất và trang thứ hai.

Trang thứ 3 là dòng ghi niên hiệu với 12 chữ Hán Quang Hưng nhị thập nhị
niên ngũ nguyệt nhị thập thất nhật. Dưới chữ Quang Hưng là hình một dấu
son đỏ hình vuông có kích thước 4,8x4,8cm. Bốn chữ Triện trong dấu có
nét khắc vuông vức. Mỗi chữ có nét uốn khuôn theo hình vuông, là 4 chữ
Bình An vương tỷ 平安王璽. Đây là dấu Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh Tùng
được đóng trên bản Lệnh chỉ ghi niên đại ngày 27 tháng 5 năm Quang Hưng
thứ 22 (1599). Giữa trang 2 và trang 3 còn có một hình dấu Bình An vương
tỷ nữa đóng chỗ giáp lai ở phần dưới sách. Điều này chứng tỏ bản Lệnh
chỉ này được làm nhiều trang giấy, khác với sắc phong là loại văn bản
được làm bằng một tờ giấy khổ rộng.

Trang thứ tư ta thấy rõ hai chữ “Lệnh chỉ” rất to dính liền nhau ở phần
trên giữa trang giấy. Thực ra đây cũng là một hình dấu, loại dấu này với
chức năng là đánh dấu phân biệt đối với các loại hình văn bản hành
chính khác nhau như Lệnh chỉ, Lệnh dụ, Truyền, Sai v.v… Hai chữ “Lệnh
chỉ” được khắc trên mặt ấn với tự dạng chữ Khải, các nét rất đậm và lớn,
dấu không có khung viền ngoài, do đó khi đóng xuống giấy sẽ cho ra đời
hai chữ “Lệnh chỉ” rất lớn. Ở văn bản này dấu “Lệnh chỉ” có kích thước
7,3x7,8cm dấu có màu mực đen đậm. Với chức năng riêng biệt như vậy nên
chúng tôi không xếp loại dấu này vào trong những loại hình ấn chương như
Đồ ký, Kiềm ký, Tín ký v.v… (H. 45)

Nội dung bản Lệnh chỉ xem qua cũng không thấy có gì đặc biệt, nhưng ở
đây chúng tôi muốn nói tới ý nghĩa của hình dấu. Theo điển chế của các
triều đại trước Lê Thế Tông thì chỉ có Hoàng đế mới được dùng Bảo, Tỷ
đóng trên các Chiếu văn, Sắc phong, dụ, chỉ. Ở đây chúa Trịnh Tùng đã
được dùng Tỷ ấn đóng lên bản Lệnh chỉ của mình ban xuống, việc này mang
một ý nghĩa lịch sử quan trọng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Bắt
đầu cho một thời kỳ thống trị mới của triều đình thời Lê Trung hưng: tồn
tại cả vua và chúa mà thực trạng quyền hành nằm trong tay nhà chúa.



Cũng phải kể đến Trịnh Tùng - người mở đầu cho giai đoạn phong kiến mới ở
Việt Nam từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII qua sự nghiệp và
những chiếu lệnh trước bản Lệnh chỉ năm 1599 của ông. Trịnh Tùng sinh
năm 1550, là con Thái sư Lạc Quốc công Trịnh Kiểm và bà Ngọc Bảo[89] quê
làng Sóc Sơn, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Năm 1570 Trịnh Kiểm chết, qua bao
thăng trầm, Trịnh Tùng được vua Lê sắc phong làm Trưởng Quận công Tiết
chế Thủy bộ chư doanh, sau lại gia thêm chức Tả tướng Tiết chế Trưởng
Quốc công. Năm 1572, nội bộ lục đục, Trịnh Tùng cùng bề tôi lập Hoàng tử
Duy Đàm lên ngôi vua - tức vua Lê Thế Tông sau này. Trịnh Tùng đã giúp
vua Lê ban ra chiếu mệnh đúng đắn trong thời kỳ chiến tranh Lê - Mạc mà
chính sử còn ghi lại. 1. Người dân nào bị nạn binh lửa mà không có hằng
sản đều tha tạp dịch. 2. Dân nghèo xiêu dạt cho về bản quán, tha cho
thuế dịch…[90]

Sau khi dồn tàn quân Mạc lên miền thượng du, năm 1595 Trịnh Tùng vào
Thăng Long tiến hành tổ chức bộ máy chính quyền theo mô hình vương triều
cũ nhà Lê với đầy đủ các ban bệ.

Tháng 4 năm Kỷ Hợi (1599) vua Lê tấn phong Trịnh Tùng làm Đô nguyên soái
Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương, ban cho sách vàng ấn báu cùng
ruộng đất phong ấp. Tỷ ấn Bình An vương tỷ đã được ra đời trong thời
gian này, dùng đóng trên những bản Lệnh chỉ, Lệnh dụ mà Trịnh Tùng ban
xuống. Trịnh Tùng có công lớn giúp vua Lê giành lại chính quyền, giữ yên
xã hội với một số chính sách tiến bộ hợp lòng dân. Việc mở khoa thi Hội
và thi Đình từ khoa Canh Thìn (1580) đến khoa Quý Hợi (1623) mang ý
nghĩa tích cực. Hàng trăm tiến sĩ của hàng chục khoa thi là những cánh
tay đắc lực góp phần không nhỏ trong công cuộc Trung hưng của tập đoàn
Lê - Trịnh. Tiêu biểu như Ngự sử đài Đô ngự sử Nguyễn Văn Giai đỗ Tiến
sĩ xuất thân khoa Canh Thìn (1580), Hữu Thị lang bộ Hộ Nguyễn Đăng đỗ
Tiến sĩ khoa Nhâm Dần (1602) v.v…

Khi được phong là Bình An vương, Trịnh Tùng đã ban hành nhiều Lệnh chỉ ở
nhiều lĩnh vực với ý nghĩa khác nhau. Từ những việc đại sự trong quân
đội như bản Lệnh chỉ ngày 6 tháng 8 năm 1599 về việc thăng chức vụ cấp
bậc cho các đơn vị quân đội cấp quân, doanh, đến việc bình thường như
bản Lệnh chỉ ban cho xã Vũ Liệt, huyện Thanh Chương mà chúng tôi đã
trình bày. Ở Lệnh chỉ nào cũng có hình dấu Bình An vương tỷ đóng trên
dòng ghi niên hiệu. Bản Lệnh chỉ ban cho xã Vũ Liệt - Thanh Chương tuy
nội dung không có gì đặc biệt nhưng về ý nghĩa và giá trị văn hóa đối
với chúng ta ngày nay thì lại không nhỏ. Ngoài việc khẳng định giá trị
đây là một văn bản Hán Nôm có niên đại xưa nhất trong số thư tịch tài
liệu ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nó còn thể hiện giá trị lịch sử cao
trong việc nghiên cứu, đánh giá về sự kiện và nhân vật trong lịch sử
phong kiến Việt Nam giai đoạn đầu thời Lê Trung hưng. Bản Lệnh chỉ có
hình dấu Bình An vương tỷ là cái mốc đánh dấu sự kiện thời gian Trịnh
Tùng được phong là Bình An vương trước thời gian mà bản Lệnh chỉ ra đời
hơn 1 tháng. Kể từ đây bắt đầu một thời kỳ mới trong thể chế quân chủ
phong kiến Việt Nam: Thời kỳ “vua Lê - chúa Trịnh”, từ đây trở đi con
cái chúa Trịnh cũng được quyền thế tập, cũng được lập làm Thế tử.

Ngoài lệnh chỉ của chúa Trịnh Tùng, Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ
được Lệnh chỉ của vị chúa kế tiếp là Trịnh Tráng 鄭壯 có tên gọi Thanh Đô
vương lệnh chỉ 清都王令旨. Văn bản này có 2 trang khổ 26x24cm, KH. VHv. 2490
chữ Hán viết theo lối Khải thư. Trang đầu bị mòn rách phần trên. Thanh
Đô vương lệnh chỉ có nội dung gần giống như nội dung bản Lệnh chỉ của
Trịnh Tùng. Đây là Lệnh chỉ của Trịnh Tráng chuẩn cấp cho 12 người thuộc
xã Vũ Liệt huyện Thanh Chương, Nghệ An được miễn tạp dịch để trông coi
đền thờ Trung đẳng thần Đô Thiên đại đế Long vương ở địa phương.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:32

Trang thứ 2 chỉ có một dòng ghi niên hiệu, phần trên tờ giấy bị rách nên
chữ đầu bị mất chỉ còn lại 8 chữ  Tộ thập niên nhị nguyệt thập bát
nhật. Dưới chữ Tộ là hình một dấu vuông kích thước 4,8x4,8cm; bốn chữ
Triện trong dấu có nét khắc vuông vức là 4 chữ Thanh Đô vương tỷ 清都王璽:
Tỷ ấn của Thanh Đô vương. Việc Chân hóa chữ Triện xác định con dấu cùng
một số tiêu chí khác đã giúp cho việc khẳng định chữ bị mất là chữ
“Vĩnh” 永. Dòng niên đại trọn vẹn 9 chữ là Vĩnh Tộ thập niên nhị nguyệt
thập bát nhật 永祚十年二月十八日 (Ngày 18 tháng 2 năm Vĩnh Tộ thứ 10 [1628]).

Phía trên bên trái cạnh dòng niên hiệu có hình dấu 2 chữ đại tự “Lệnh
chỉ” 令旨 có kích thước lớn, cỡ và kiểu chữ dấu này giống như dấu chữ Lệnh
chỉ ở văn bản của chúa Trịnh Tùng. Điều khác biệt là dấu chữ Lệnh chỉ
này lại in ở trang có dòng ghi niên hiệu, còn dấu chữ Lệnh chỉ trong
Bình An vương lệnh chỉ lại in riêng ở trang cuối cùng (tr.4) khác trang
ghi niên hiệu (tr.3). Các bản Lệnh chỉ, Lệnh dụ mà chúng tôi sưu tập sau
này đều có dấu chữ Lệnh chỉ hoặc Lệnh dụ, vị trí in giống như bản lệnh
chỉ của Thanh Đô vương Trịnh Tráng, tức là khác bản của Bình An vương
Trịnh Tùng.

Dấu Thanh Đô vương tỷ tức là Tỷ ấn của Thanh Đô vương Trịnh Tráng, ông
là con của Trịnh Tùng và đã được chọn lập làm Thế tử, đầu năm 1623 được
tấn phong là Thái úy Thanh Quốc công. Đến tháng 11 năm 1623 lại được sắc
phong làm Nguyên súy Thống quốc chính Thanh Đô vương. Lễ tấn phong,
sách phong tước vương cho các chúa Trịnh thường ban kèm sách vàng, ấn
báu. Mặc dù chính sử nhiều khi không ghi chi tiết nhưng thực tế ở đây
cho ta thấy tháng 11 năm 1623 Trịnh Tráng đã nhận sách phong và Tỷ ấn
Thanh Đô vương tỷ: Tỷ ấn này được sử dụng từ đây đến trước tháng 10 năm
1629.

Đọc tiếp chính sử ta lại thấy Trịnh Tráng cũng như một số chúa Trịnh sau
khi lên ngôi chúa còn được tôn phong một lần nữa ở ngôi vị cao nhất; và
như vậy họ đã được nhận và sử dụng hai loại Tỷ ấn khác nhau. Sách sử
ghi: “Mùa đông tháng 10… [Vua Lê] đặc sai quan mang phù tiết, sách vàng,
ấn tước vương đến phong [Trịnh Tráng] làm Hiệp mưu công thần Đại nguyên
súy Thống quốc chính sư phụ Thanh vương…”[91]. Rõ ràng sau Tỷ ấn Thanh
Đô vương tỷ trên, khi được tấn phong là Thanh vương, Trịnh Tráng đã được
nhận ấn quý mới có khắc chữ “… Thanh vương” 清王 chứ không dùng chữ Thanh
Đô vương nữa. Tuy nhiên hiện nay chúng tôi không sưu tầm được chứng
tích của Tỷ ấn này, và việc giới thiệu dấu Tỷ ấn của Tây vương Trịnh Tạc
dưới đây sẽ lý giải cho vấn đề này (H. 46).

Sau Lệnh chỉ của Thanh Đô vương Trịnh Tráng chúng tôi còn in chụp được
một số Lệnh chỉ và Lệnh dụ của các chúa Trịnh khác. Trên những văn bản
Hán Nôm đó là những dòng niên đại khác nhau ghi chứng tích của một số
chúa Trịnh. Đặc biệt là các hình dấu Tỷ ấn in trên văn bản; có dấu còn
rõ, có dấu bị mờ nhưng nội dung chữ Triện trong dấu đã chứng minh cho
chức tước của các chúa Trịnh, đồng thời cũng nói lên được sự khác biệt
trong cách dùng Tỷ ấn của họ.

Giống như Lệnh chỉ của chúa Trịnh Tùng, những Lệnh chỉ, Lệnh dụ này được
đóng thành quyển mỏng hai hoặc ba tờ, chứ không phải là một văn bản có
kích thước lớn như sắc phong. Thực tế sưu tầm in chụp có những Lệnh chỉ,
Lệnh dụ không còn trọn vẹn mà chỉ giữ được tờ cuối có ghi niên đại và
hình dấu. Đồng thời phạm vi nghiên cứu con dấu của chúng tôi chỉ chủ yếu
tập trung vào việc phân tích trang có dòng ghi niên đại và lưu hình
dấu, bên cạnh có tham khảo thêm những văn bản và tư liệu liên quan. Cho
nên những trang mất, rách ngoài trang có hình dấu và niên đại cũng không
gây ảnh hưởng nhiều.



Nguồn gốc một số Lệnh chỉ, Lệnh dụ này còn lưu giữ ở Từ đường họ Lê Hiểm
- dòng họ khai quốc công thần thời Lê ở Thanh Hóa. Gần 30 năm trước đây
hậu duệ họ Lê này đã nhờ GS. Phan Huy Lê và GS. Phan Đại Doãn xem xét
giúp đỡ. Năm 1980 hai Giáo sư đã cho ban Hán Nôm mượn sao chụp nguyên
bản[92].

Các văn bản này hầu hết giống nhau về mặt hình thức. Giấy bản cũ, các
mép góc đã bị mòn sờn nhiều, nhất là ở phần trên, nên có văn bản chữ đầu
tiên ghi niên hiệu bị mất nửa chữ. Chữ Hán viết theo lối Khải, nét
ngang kéo dài hất ngược kiểu chữ ghi trên sắc, chỉ, dụ và một số văn bản
hành chính đầu thời Lê Trung hưng.

Bắt đầu từ Lệnh dụ của Tây vương Trịnh Tạc niên hiệu năm Vĩnh Trị thứ 5
(1680); Lệnh chỉ của An Đô vương Trịnh Cương năm Vĩnh Thịnh thứ 5
(1709); Lệnh chỉ của Uy Nam vương Trịnh Giang năm Vĩnh Khánh thứ 2
(1730); Lệnh chỉ của Minh vương Trịnh Doanh Cảnh Hưng thứ 3 (1742); Lệnh
chỉ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm năm Cảnh Hưng thứ 28 (1768), cuối cùng
là Lệnh chỉ của Đoan vương Trịnh Tông năm Cảnh Hưng thứ 46 (1785).

Sơ lược nội dung một số Lệnh dụ, Lệnh chỉ trên là: Thái bảo Hùng Quốc
công Lê Hiểm là khai quốc công thần đã được vua Lê phong cấp ruộng đất,
con cháu được quyền thừa tự ruộng đất ở các xứ Thanh Hóa để thờ cúng,
cộng 160 mẫu. Sau đó có người tranh chiếm. Cháu chắt Lê Hiểm thưa kiện,
các chúa Trịnh đã ban Lệnh dụ, Lệnh chỉ bắt kẻ chiếm đất phải trả lại
cho họ. Các Lệnh chỉ lặp đi lặp lại việc xác nhận quyền sở hữu 160 mẫu
ruộng ở các xứ Thanh Hóa là của con cháu công thần Lê Hiểm.

Văn bản thứ nhất là Lệnh dụ của Tây vương Trịnh Tạc. Dòng ghi niên hiệu
có 9 chữ Vĩnh Trị ngũ niên cửu nguyệt thập nhị nhật 永治五年九月十二日 (Ngày 12
tháng 9 năm Vĩnh Trị thứ 5 [1680] ). Một dấu hình vuông đóng ở dòng niên
hiệu từ chữ thứ 2 đến chữ thứ 5, một dấu hình vuông nữa ở phía dưới bên
phải chỗ giáp hai trang giấy[93]. Hai dấu này có hình thức và nội dung
số lượng Triện văn giống nhau. 12 chữ Triện trong dấu xếp theo 3 hàng,
mỗi hàng 4 chữ, nét khắc xếp liền khó đọc hơn dấu Bình An vương tỷ của
Trịnh Tùng. Đó là 12 chữ Thượng sư thái phụ đức công minh thánh tây
vương chi tỷ 尚師太父德公明聖西王之璽 (Tỷ ấn của Thượng sư thái phụ đức công minh
thánh Tây vương). Phía trên bên trái cạnh dấu ở dòng niên hiệu có một
hình dấu với hai chữ “Lệnh dụ” 令諭 khá lớn giống như hai đại tự viết liền
nhau theo kiểu chữ Khải. Đây cũng chính là một hình dấu gọi là dấu Lệnh
dụ chuyên dùng đóng trên những bản Lệnh dụ của chúa để phân biệt với
những bản Lệnh chỉ và văn bản hành chính khác.

Tỷ ấn của Tây vương tức là Tỷ ấn của Tây vương Trịnh Tạc. Sách sử đã ghi
lại rõ về các lễ tấn phong, tôn phong đối với Trịnh Tạc. Năm 1652 ông
được tấn phong làm Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương. Năm 1659
ông được tôn phong làm Dực vận tán trị công thần Đại nguyên súy Chưởng
quốc chính Thượng sư Tây vương. Năm 1660 Trịnh Tạc được tôn phong làm
Đại nguyên súy Chưởng quốc chính Thượng sư thái phụ đức công nhân uy
minh thánh Tây vương.

Lễ tấn phong hoặc tôn phong đối với các chúa Trịnh khá trọng thể. Mỗi
lần có lễ này, các vua Lê đều lệnh cho đại thần cẩm phù tiết mang sách
vàng ấn vàng vinh phong cho các chúa Trịnh. Trong sách sử lễ tấn tôn
thường ghi là sách vàng ấn báu; đồng thời xem xét tất cả hình dấu của
một số chúa Trịnh, văn khắc chữ Triện đều ghi là “Tỷ” 璽 mà không ghi là
“Bảo” 寶. Do đó chúng tôi cho rằng đây là quy định phân biệt việc sử dụng
Bảo, Tỷ của vua Lê - Chúa Trịnh thời Hậu Lê. Không phải Tỷ của các chúa
Trịnh đều được làm bằng ngọc, mà chủ yếu là đúc bằng vàng rồi khắc chữ
Tỷ lên dấu, điều này giống như việc làm và sử dụng một số kim ngọc Bảo
Tỷ của các vua Nguyễn sau này. Cho nên đối với hình dấu của các chúa
Trịnh chúng tôi dùng chữ Tỷ ấn để cho phù hợp.

Việc khẳng định bản Lệnh dụ và hình dấu Tỷ ấn trên là của Tây vương
Trịnh Tạc là hoàn toàn chính xác. Đây là hình dấu có nội dung số lượng
Triện văn nhiều nhất trong những hình dấu của các chúa Trịnh, nó khác
hẳn dấu Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh Tùng, Thanh Đô vương Trịnh Tráng
và các chúa Trịnh sau này. Nó cũng thể hiện sự khác biệt của con dấu
đóng trên Lệnh dụ khác với con dấu đóng trên Lệnh chỉ. (H. 47)

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:32

Tiếp theo xin giới thiệu hình dấu trên Lệnh chỉ của chúa Trịnh Cương có
dòng ghi niên hiệu với 10 chữ Hán Vĩnh Thịnh ngũ niên thập nhị nguyệt
thập ngũ nhật 永盛五年十二月十五日(Ngày 15 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709).
Chữ Vĩnh 永 bị rách phần đầu. Dấu hình vuông đóng trên chữ Thịnh ngũ
niên. Dấu có 4 chữ Triện xếp theo 2 hàng khuôn nét chữ xếp gần liền nhau
không để cách. Đó là 4 chữ An đô vương tỷ 安都王璽 (Tỷ ấn của An Đô vương).
Cạnh dòng niên đại phía bên trái có hình dấu hai chữ “Lệnh chỉ” 令旨.
Hình thức và tính chất của dấu Lệnh chỉ này cũng giống như bản Lệnh chỉ
của các chúa Trịnh đã giới thiệu, riêng vị trí dấu đóng trên văn bản thì
khác vị trí đóng dấu ở bản Lệnh chỉ của Trịnh Tùng.

Dấu An Đô vương tỷ, tức là tỷ ấn của An Đô vương Trịnh Cương. Sách
ĐVSKTT cũng đã ghi thời gian mà Trịnh Cương được tấn phong làm Khâm sai
Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh tước An Quốc công là năm Chính Hòa thứ
24 (1703). Tháng 9 năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709) ông được tấn phong làm
Nguyên soái Tổng quốc chính An Đô vương[94]. Ông nhận sách vàng ấn báu:
Khoảng 3 tháng sau đó tức ngày 15 tháng 2 năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709)
bản Lệnh chỉ trên của Trịnh Cương được thực hiện và có đóng dấu Tỷ ấn An
Đô vương tỷ. Đối chiếu hình dấu Tỷ ấn trên văn bản Lệnh chỉ với sự kiện
sách sử ghi trên cho phép khẳng định tính xác thực của văn bản cũng như
hình dấu. (H. 48)



Sau lệnh chỉ và hình dấu của Trịnh Cương là Lệnh chỉ có dòng niên đại
ghi Vĩnh Khánh nhị niên thập nhị nguyệt sơ nhị nhật 永慶二年十二月初二日. Trên
dòng niên đại có in hình một dấu vuông có hình thức kích thước tương tự
như dấu Tỷ ấn của chúa Trịnh Cương. Nhưng chữ Triện trong dấu có tự dạng
khác; bốn chữ Triện trong dấu này là Uy Nam vương tỷ 威南王璽 (Tỷ ấn của Uy
Nam vương). Một dấu hình hai chữ Lệnh chỉ 令旨 cũng nằm ở phía bên trái
dòng ghi niên đại, nó cũng chứng minh rằng văn bản Hán Nôm này là một
bản Lệnh chỉ và đây là trang cuối của Lệnh chỉ. Dòng niên đại ghi rõ là
văn bản được làm vào ngày 2 tháng 12 năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1780).

Dấu Uy Nam vương tỷ tức là Tỷ ấn của Uy Nam vương Trịnh Giang. Năm 1727
khi còn là Thế tử Trịnh Giang đã được vua Lê phong là Khâm sai Tiết chế
các xứ thủy bộ chư doanh tước Uy Quận công kiêm nắm chính sự cơ mật. Năm
1730 Trịnh Giang tự tấn phong làm Nguyên soái Thống quốc chính Uy Nam
vương, đồng thời cho đúc Tỷ ấn vàng. Tỷ ấn Uy Nam vương tỷ bắt đầu được
sử dụng năm 1730 và đã được dùng đóng lên bản lệnh chỉ mà chúng tôi đã
giới thiệu trên. (H. 49)

Lệnh chỉ tiếp theo cũng thuộc loại hình văn bản giống như các bản lệnh
chỉ trên về hình thức, tính chất và nội dung; riêng niên đại văn bản và
hình dấu có khác biệt. Dòng niên đại có 9 chữ Cảnh Hưng tam niên tứ
nguyệt sơ ngũ nhật 景興三年四月初五日 (Ngày 5 tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 3
[1742]).




Dấu hình vuông in trên dòng ghi niên hiệu có kích thước, hình thức và số
lượng chữ Triện trong dấu khác với dấu Tỷ ấn của các chúa Trịnh khác. 6
chữ Triện trong dấu xếp theo 3 hàng, mỗi hàng 2 chữ đó là 6 chữ Thượng
sư Minh vương chi tỷ 尚師明王之璽 (Tỷ ấn của Thượng sư Minh vương).

Một dấu hình hai chữ Lệnh chỉ cạnh dòng niên đại, có hình thức tính chất
giống như dấu chữ Lệnh chỉ của các văn bản đã giới thiệu trước.

Thượng sư Minh vương tức là Trịnh Doanh, là con thứ ba của An Đô vương
Trịnh Cương. Năm 1736 khi mới 17 tuổi Trịnh Doanh được phong làm Tiết
chế các xứ thủy bộ chư doanh, Thái úy tước Ân Quốc công. Năm 1740 sau
khi tiêu diệt phe cánh Hoàng Công Phụ, Trịnh Doanh thay quyền ngôi chúa,
lên ngôi vương lấy hiệu là Minh Đô vương và tiến tôn Trịnh Giang làm
Thái thượng vương. Năm Ất Hợi (1755) vua Lê tấn tôn phong Trịnh Doanh
làm Thượng sư thượng phụ anh đoán văn trị võ công Minh vương. Trên thực
tế sau khi lên ngôi chúa với hiệu là Minh Đô vương không lâu Trịnh Doanh
đã tôn xưng là Minh vương và dùng Tỷ ấn Thượng sư minh vương chi tỷ. Tỷ
ấn này của Trịnh Doanh hơi giống với Tỷ ấn của Tây vương Trịnh Tạc và
khác với Tỷ ấn của các chúa Trịnh khác. Đồng thời gian này Thái thượng
vương Trịnh Giang vẫn còn tồn tại, xã hội không ổn định phải chăng cũng
tác động đến việc thay đổi xưng vương, dùng Tỷ ấn của Trịnh Doanh (?)
Hình dấu Tỷ ấn này đã thêm một tư liệu cho việc nghiên cứu Tỷ ấn của các
chúa Trịnh. (H. 50)

Tiếp theo xin được giới thiệu trang cuối của bản Lệnh chỉ cũng có niên
hiệu Cảnh Hưng nhưng có dấu Tỷ ấn của một vị chúa khác. Văn bản tuy đã
cũ nhưng chữ Hán và hình dấu còn rất rõ. Dòng ghi niên đại có 12 chữ là
Cảnh Hưng nhị thập bát niên thập nguyệt nhị thập nhị nhật 景興二十八年十月二十二日
(Ngày 22 tháng 10 năm Cảnh Hưng thứ 28 [1768]). Một hình dấu vuông đóng
dưới chữ “Cảnh Hưng”, dấu có hình thức kích thước, số lượng và bố cục
chữ Triện giống như hình dấu của Bình An vương Trịnh Tùng, Thanh đô
vương Trịnh Tráng, An Đô vương Trịnh Cương và Uy Nam vương Trịnh Giang.
Bốn chữ Triện trong dấu là Tĩnh đô vương tỷ 靖都王璽 (Tỷ ấn của Tĩnh Đô
vương).

Cạnh bên trái dòng niên hiệu là hình dấu hai chữ Lệnh chỉ 令旨có hình
thức, tự dạng giống như dấu chữ Lệnh chỉ của các văn bản đã nêu.

Dấu Tĩnh Đô vương tỷ là Tỷ ấn của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm. Trịnh Sâm là
con trưởng của Trịnh Doanh, năm 1745 được lập làm Thế tử. Năm 1758 được
phong làm Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh Thái úy, Tĩnh Quốc công. Năm
Đinh Hợi (1767) Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên ngôi chúa, được tấn
phong là Nguyên soái Tổng quốc chính Tĩnh Đô vương, được nhận ấn vàng.
Một năm sau, năm 1768 bản Lệnh chỉ trên ra đời có lưu hình dấu Tỷ ấn này
và chúng ta mới biết được tên của Tỷ ấn là Tĩnh Đô vương tỷ. (H. 51)



Hình dấu cuối cùng in trên Lệnh chỉ được giới thiệu dưới đây được in
trên dòng ghi niên hiệu chữ Hán có 12 chữ: Cảnh Hưng tứ thập lục niên
bát nguyệt sơ tứ nhật 景興四十六年八月初四日 (Ngày 4 tháng 2 năm Cảnh Hưng thứ 46
[1785]).

Dấu hình vuông có hình thức, kích thước, số lượng và bố cục chữ Triện
khác Tỷ ấn của các chúa Trịnh khác. 6 chữ Triện trong dấu được chia làm 3
hàng mỗi hàng 2 chữ. Là 6 chữ Sư thượng đoan vương chi tỷ 師上端王之璽 (Tỷ ấn
của Sư thượng Đoan vương).

Dấu hai chữ Lệnh chỉ bên cạnh dấu Tỷ ấn cũng có hình thức kích thước
giống như dấu chữ Lệnh chỉ ở các văn bản mà chúng tôi đã trình bày.

Sư thượng Đoan vương ở đây tức chúa Trịnh Tông. Trịnh Tông còn có tên là
Trịnh Khải, là con của Trịnh Sâm. Năm Tân Sửu (1781) kiêu binh Tam phủ
nổi loạn phế Trịnh Cán rước Trịnh Tông lên ngôi vương làm Nguyên soái
Tổng quốc chính Đoan Nam vương. Đây là thời kỳ kinh thành Thăng Long rối
loạn, nhưng công tác hành chính vẫn được duy trì, một số văn bản vẫn
được thảo và sử dụng Tỷ ấn của chúa. Bản Lệnh chỉ có dấu Tỷ ấn trên là
ví dụ minh chứng. Trịnh Tông và những người phò giúp cũng mô phỏng theo
cách dùng Tỷ ấn của cha ông để làm Tỷ ấn này. Nhưng việc dùng chữ “Sư
thượng” 師上 trong dấu cũng có sự khác biệt. Tỷ ấn của Tây vương Trịnh
Tạc và Minh vương Trịnh Doanh dùng hai chữ đầu là “Thượng sư” 尚師, còn
dấu Tỷ ấn trên có hai chữ đầu là “Sư thượng” 師上. Cách dùng chữ khác trên
Tỷ ấn của Trịnh Tông đã chứng minh cho việc Trịnh Tông tự tấn phong
mình làm Thượng sư thượng phụ Đoan vương 尚師上父端王 rồi làm Tỷ ấn khắc 6 chữ
Sư thượng đoan vương chi tỷ để dùng. Hình dấu Tỷ ấn này đã làm phong
phú thêm cho số lượng Tỷ ấn của các chúa Trịnh nói riêng và ấn chương
thời Lê Trung hưng nói chung (H. 52).

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   

Về Đầu Trang Go down
 
Ấn chương Việt Nam
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : 1, 2, 3, 4  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Văn Hóa, Lịch Sử-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Have a free blog with Sosblogs