WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Ấn chương Việt Nam

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next
Tác giảThông điệp
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:19

First topic message reminder :

Tác giả: Nguyễn Công Việt

Nguồn: thuvien-ebook

Lời giới thiệu

Ấn chương học (Sigillographie hay Sphragistique) là môn học nghiên cứu về con dấu qua các đời. Con dấu trên văn bản thường có 3 mục đích: 1. Bảo đảm tính xác thực của văn bản; 2. Khẳng định quyền chủ sở hữu của văn bản và 3. Xác định niên đại của văn bản[1]. Vì vậy, nghiên cứu ấn chương học được coi là phương pháp tìm chứng cứ (recherche des témoigrages) trong khoa học lịch sử và có ý nghĩa quan trọng đối với văn bản học[2].

Việt Nam có một truyền thống ấn chương lâu đời, các thư tịch cổ đã chép rằng các Lạc tướng có ấn đồng dây thao xanh (đồng ấn thao thụ). Có thể thấy rằng các con dấu gốm đã tìm được trong văn hóa Hoa Lộc, văn hóa Bàu Tró chỉ in các hình trang trí. Khi chữ Hán đã truyền vào Việt Nam thì chúng ta gặp nhiều con dấu thời Hán như dấu “Tư phố huyện ấn” (hiện được cất giữ ở Bảo tàng Bỉ), các con dấu tìm được ở di chỉ Thiệu Dương, Thanh Hóa. Hoặc là chúng ta đã tìm thấy các phong nê ở Quảng Nam cho ta biết ảnh hưởng của Đạo giáo thời kỳ sớm.

Ta đã tìm được những con dấu bằng mã não hoặc bằng chì in bằng chữ Pallava trong các di chỉ văn hóa Óc Eo ở miền Nam từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX.

Đến thời kỳ độc lập thì ta mới tìm thấy các con dấu thời Trần như Môn hạ sảnh ấn năm 1377 và Bình Tường thổ châu chi ấn năm 1362. Chúng ta hi vọng là ngày càng tìm được nhiều con dấu của thế kỉ XVI về trước.

Từ thế kỷ XV trở đi, ta mới biết nhiều loại hình con dấu. Tình hình ấn chương từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX chính là nội dung mà Nguyễn Công Việt muốn giới thiệu trong quyển sách này.

Muốn xây dựng ấn chương học thì nhiệm vụ trước hết phải làm là công bố các sưu tập ấn chương (corpus sigillirum) của các thời kỳ. Ở đây, Nguyễn Công Việt đã công bố các corpus sigillirum từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX như thế. Nguyễn Công Việt đã nghiên cứu các ấn chương của nhà vua và các quan chức ở triều đình cùng với các quan chức ở địa phương.

Ở quyển sách này, Nguyễn Công Việt đã đi sâu nghiên cứu các chức quan trong các thế kỉ XV đến XIX và nhờ vào con dấu, đã bổ khuyết nhiều điều chưa biết, nhất là các chức quan trong quân đội. Nói chung, tác giả đã giúp người đọc xác định được nhiều về quan chức chí của các đời. Sự thay đổi của ấn chương được tác giả gắn liền với các cuộc cải cách hành chính từ triều Lê đến triều Nguyễn, những cuộc cải cách đó được tác giả mô tả kỹ càng và làm nổi bật. Qua con dấu cũng đã xác định sự thay đổi một số tên đất như ở thời Tây Sơn. Đó là những tài liệu lịch sử chắc chắn mà ấn chương học đã đem lại.

Tóm lại, đây là một công trình nghiên cứu công phu mà tác giả đã hoàn thành, có đóng góp lớn cho việc xây dựng bộ môn ấn chương học Việt Nam. Về bộ môn này thì đây là công trình đầu tiên; không có gì có thể so sánh được, vì thế, có thể còn một số thiếu sót, nhưng chúng ta có thể hiểu được. Vì vậy, tôi rất vui khi được giới thiệu công trình này với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là với những người ham thích tài liệu lịch sử. Tôi tin rằng là tài liệu này sẽ đem lại nhiều điều có ích và thú vị cho chúng ta.

GS.HÀ VĂN TẤN

Viện trưởng Viện Khảo cổ học,

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Lời nói đầu

Di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam bao gồm hai mảng tư liệu hiện vật và tư liệu thư tịch với một khối lượng lớn phong phú đa dạng tồn tại song hành và luôn gắn bó mật thiết với nhau. Chúng ta tìm thấy không ít những đoạn kinh, câu thơ, bài văn bằng chữ Hán, chữ Nôm khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ đồng thời cũng được ghi trên giấy, lụa. Văn tự Hán Nôm còn được khắc in, đúc trên kim loại như vũ khí, vật dụng, công cụ sản xuất, tiền đồng, trên đồ gốm sứ v.v… Trong kho di sản văn hóa đa dạng đó có một loại tư liệu hiện vật mang đặc thù riêng, đó là ấn chương mà ta còn gọi là ấn triện hay con dấu. Ấn chương bao gồm cả hiện vật ấn tín và những văn bản, văn khắc có in hình con dấu. Trong đó hình con dấu đứng độc lập hay nằm trong một văn bản Hán Nôm khác cũng đều được coi là một văn bản ấn chương hoàn thiện.

Ở công trình này chúng tôi bước đầu công bố các sưu tập ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX, cùng với kết quả nghiên cứu giới thiệu những quả ấn điển hình, những hình dấu tiêu biểu ở hệ thống ấn chương các loại trong bộ sưu tập mà chúng tôi đã thu thập được.

Nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của văn hiến Trung Hoa, ấn chương Việt Nam về cơ bản có nhiều điểm gần gũi với ấn chương Trung Quốc. Tuy nhiên ở Trung Quốc tương truyền ấn chương có từ thời Hoàng đế (khoảng năm 2500 TCN) và các nhà khoa học đã khẳng định ấn chương Trung Quốc có từ cuối Xuân Thu Chiến Quốc (năm 770 - 255 TCN), thì ở Việt Nam các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những ấn hoa văn (tiền thân của ấn chương Việt Nam) có niên đại khoảng thế kỉ XV - XVI (TCN) ở Hậu Lộc, Thanh Hóa. Nếu như ở Trung Quốc, sự phát triển và tồn tại của ấn chương mang tính hệ thống liên tục, duy trì đến tận bây giờ với rất nhiều tác gia, tác phẩm viết về ấn chương học, thì ở Việt Nam không có được sự tương đồng, thậm chí đã bị đứt đoạn ở một số đời vua thuộc những vương triều phong kiến khác nhau.

Trải qua bao cuộc kháng chiến chống xâm lược oanh liệt và cả các cuộc nội chiến đẫm máu, cộng với sự tàn phá nặng nề của thiên tai, biết bao ấn chương các loại và văn bản có lưu hình dấu phải chịu chung số phận tro bụi cũng cung điện, lầu các, thư phòng v.v… Với nỗ lực tìm kiếm từ Nam ra Bắc chúng tôi cũng chỉ gom góp được hơn trăm hiện vật ấn chương và ngót nghìn văn bản có hình dấu khác nhau, chủ yếu ở thời Nguyễn. Kết hợp với những tài liệu chính sử, dã sử, tư liệu địa phương, bài viết lẻ tẻ và những văn bản Hán Nôm đã rách ố, chúng tôi bước đầu tuyển chọn giới thiệu sơ lược ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX.

Bắt đầu từ những quả ấn, đó là khối tư liệu hiện vật quý giá quan trọng trong việc nghiên cứu, công bố ấn chương Việt Nam. Những quả ấn này có chất liệu, trọng lượng, hình thức, niên đại và nội dung văn khắc khác nhau và được chia thành hai loại. Loại thứ nhất sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn được đem dùng luôn. Loại thứ hai sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn phải qua công nghệ đúc mới được dùng. Giá trị lớn nhất của hiện vật ấn chương là tính chân thực của niên đại được khẳng định ở hiện vật: Có những ấn gốm hoa văn đã đạt tới hơn 3.000 năm tuổi. Cùng với các cổ vật khác, chúng gắn liền với những nền văn hoá cổ xưa của dân tộc Việt Nam như văn hoá Hoa Lộc - Thanh Hoá, văn hóa Óc Eo - Nam bộ. Chúng rất có ý nghĩa trong nghiên cứu khảo cổ học, sử học cũng như bảo tàng học sau này. Song, thực trạng hiện vật ấn chương hiện còn với số lượng quá ít sẽ không bao quát hết toàn bộ hệ thống ấn chương các loại, cũng chưa đủ đại diện cho ấn chương mỗi triều đại, do đó việc nghiên cứu hiện vật ấn chương tuy quan trọng những cũng chỉ thể hiện một mặt trong nghiên cứu ấn chương nói chung. Vả lại mỗi một quả ấn cho ra đời một hình dấu - tức một văn bản cô đọng ngắn gọn; nó thể hiện nét đặc thù riêng của loại hình ấn tín: lượng thông tin trong tự thân văn bản có một số hạn chế nhất định. Việc nghiên cứu ấn chương bắt buộc phải mở rộng đến các văn bản Hán Nôm mang hình dấu ấn, đó là mảng tư liệu phong phú, đa dạng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu ấn chương.

Văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu có hai dạng khác nhau: Thứ nhất là dạng văn bản có chất liệu bằng giấy hoặc vải lụa, người ta dùng ấn thấm mực đóng trực tiếp lên trên. Dạng văn bản thứ hai là những hiện vật bằng đá, gỗ, kim loại, gốm sứ được khắc lại trực tiếp hình dấu, hoặc được khắc, vẽ lại hình dấu rồi qua công nghệ đúc, nung mà thành. Trong đó dạng văn bản thứ nhất - văn bản giấy chiếm số lượng tối đa và giữ vai trò chính trong việc nghiên cứu ấn chương.

Văn bản giấy có nhiều loại khác nhau như thư tịch sách vở, tài liệu hành chính, thư pháp tranh ảnh, tấu sớ bùa chú v.v… Trong đó mảng tài liệu hành chính công văn giấy tờ là còn lưu nhiều hình dấu quan ấn (ấn công) nhất. Đó là những sắc, chiếu, chế, cáo, chỉ, dụ; mảng tài liệu quan trọng này gắn với Hoàng đế và bộ phận hành chính thân cận nhà vua. Hình dấu trên đó được đóng ra từ những Bảo Tỉ của vua hoặc những ấn chương khác có ý nghĩa quốc gia trọng đại. Bên cạnh đó là khối lượng lớn các văn thư hành chính khác được làm ra từ các nha môn thuộc các cơ quan trung ương ở kinh đô như hệ thống lục bộ, lục tự, giám sát v.v… với mấy loại văn bản khác nhau theo các con đường đi khác nhau. Loại văn bản gửi lên Hoàng đế qua văn phòng nhà vua, loại văn bản gửi đến các cơ quan ngang cấp hay tới các chính quyền địa phương, quân doanh đơn vị ngoài kinh đô, và một loại văn bản gửi cho thuộc viên cấp dưới. Các văn bản đó đều được đóng các con dấu khác nhau vào nơi quy định của trưởng nha môn hoặc người được thẩm quyển dùng dấu. Đối với các chính quyền địa phương, lực lượng quân đội và cơ quan dân sự ngoài kinh đô thì cũng dùng các hình thức văn bản có tính chất tương tự. Tất cả các loại văn thư hành chính này đều có tên gọi riêng như sớ, tấu tập, tư (tư di, tư trình), sức, chiếu hội v.v… Ở mỗi loại văn bản có cùng một nội dung được lập ra để giải quyết công việc theo hình thức hàng dọc mà gọi theo ngôn ngữ văn bản học Hán Nôm là bản chính, bản phó hay bản lục v.v… được xếp chung gọi là các dạng văn bản. Mỗi dạng văn bản có khi được làm hai hoặc vài ba bản dùng để gửi đi và lưu chiểu, đối chiếu. Ở mỗi loại văn bản, dạng văn bản đều có dấu tích công nhận khác nhau đóng ở những chỗ quy định như dòng ghi niên hiệu, chỗ tên riêng, chỗ quan trọng, chỗ tẩy xoá và nơi giáp phùng.

Ở một số loại sách như địa bạ, sách riêng của dòng họ, sách in chúng ta có thể tìm thấy thưa thớt một số hình dấu nhỏ, đơn giản. Trên các tác phẩm nghệ thuật thư pháp, tranh họa, bản giao kèo mua bán và ở các lá sớ, bùa chú chúng ta cũng tìm thấy nhiều hình dấu lớn nhỏ khác nhau. Đó là những hình dấu tư ấn (ấn riêng) thuộc lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, thương mại và tôn giáo tín ngưỡng.

Cũng như ấn chương Trung Quốc và các nước khu vực dùng chữ khối vuông, ấn chương Việt Nam thể hiện rõ những chức năng riêng biệt của ấn chương nói chung và ở mỗi loại ấn chương nói riêng. Từ ý nghĩa biểu tượng của pháp chế quyền lực đến chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực, ấn chương Việt Nam không chỉ mang tính pháp lí hành chính mà còn thể hiện rõ tính văn hoá - xã hội. Bắt đầu từ những Bảo Tỉ của Hoàng đế dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đến những quả ấn nhỏ xíu của một thường dân là cả một hệ thống ấn chương hoàn chỉnh, có tên gọi và cách dùng riêng biệt. Qua nghiên cứu thống kê ta có thể phân loại ấn chương Việt Nam thành nhiều loại khác nhau là Kim ngọc Bảo Tỉ, ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Kiềm ấn, Đồ kí, Kiềm kí, Tín kí - Kí và mảng ấn tín tư nhân. Đồng thời ở đây cũng phân chia rõ rệt hai hệ thống quan ấn và tư ấn; trong đó quan ấn mang tính pháp lí hành chính nhà nước có quy chế nhất định, còn tư ấn thể hiện tính tự do ngoài khuôn khổ qui định.

Tương ứng với ý nghĩa nội dung của mỗi loại ấn, người ta đã đặt ra những quy ước hình thức cho việc chế tác ấn chương từng loại riêng biệt. Những hình thức được chạm khắc ở núm ấn đầu tiên phải kể đến những con vật thiêng theo ý niệm tôn giáo như long, li, quy, phượng, hoặc là loài mãnh thú như hổ, sư tử. Những hình muông thú khác cùng các hình thể đơn giản như tay quai, chuôi vồ v.v… được chạm, khắc, đúc ở mỗi loại ấn khác nhau đã dựng nên bức tranh nghệ thuật sinh động của ấn chương Việt Nam.

Hình thức mặt đế ấn là điều quan trọng nhất trong việc chế tác ấn chương. Chính nó sẽ cho ra đời một hình dấu trên văn bản có nội dung trọn vẹn, bao hàm cả ý nghĩa biểu tượng của hình thể ấn mỗi loại. Chúng ta sẽ tìm thấy nhiều hoạ tiết đường viền khác nhau vành ngoài đế ở một số loại ấn mà chủ yếu trong Bảo Tỉ của Hoàng đế, Hoàng tộc và nội cung. Nó không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng cho loại ấn mà còn hàm chứa lượng thông tin cao đối với người tiếp nhận khi nhìn thấy hình dấu trên văn bản. Nhưng cái chính ở đây là nội dung văn khắc trên mỗi con dấu khác nhau. Với số lượng chữ, thể chữ, bố cục sắp xếp không giống nhau, mỗi hình dấu đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa nội dung của một con dấu, nó được coi là một văn bản hoàn chỉnh, cô đọng và nhiều khi khá sâu sắc.

Không có tham vọng biên soạn thành một cuốn sách chuyên khảo lí luận về ấn chương Việt Nam, ở đây chúng tôi chỉ dựa trên cơ sở tư liệu, thực trạng hiện vật ấn và hình dấu trên văn bản để mô tả giới thiệu ấn chương dưới góc độ của người sưu tập và nghiên cứu. Thực tế tư liệu ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng tìm được quá ít, nên việc giới thiệu chắc chắn không đầy đủ và bao quát hết được ấn chương những giai đoạn này. Vì vậy bố cục cuốn sách chúng tôi cố gắng sắp xếp cân đối trong việc phân chia chương mục.

Ấn chương từ thời Lê sơ đến Tây Sơn được tập hợp vào chung phần thứ nhất, trong đó ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng với số tư liệu chỉ đủ để giới thiệu một cách khái quát và sơ lược. Riêng thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng tư liệu về cơ bản đã bao quát được ấn chương của vương triều này. Ở phần I, bối cảnh lịch sử của ấn chương được trình bày như một lời dẫn nối gắn với thực trạng ấn chương của mỗi triều đại. Người đọc chắc sẽ cảm thấy thiếu vắng, sơ sài, song thực tế tư liệu không cho phép chúng tôi đi xa hơn khi chưa có đủ căn cứ chắc chắn.

Ấn chương Việt Nam thời Nguyễn ở phần II được giới thiệu nhiều và chi tiết hơn các thời kì trước. Tư liệu thời kì này khá phong phú song cũng chưa thể đại diện đầy đủ hết mọi phương diện của ấn chương giai đoạn này, nhất là xét về hiện vật ấn chương. Từ Kim ngọc Bảo Tỉ của hoàng đế đến ấn tín tư nhân thời Nguyễn, chứng tôi đã cố gắng dựng lại bức tranh ấn chương thời Nguyễn tương đối hoàn chỉnh để qua đó có thể ít nhiều hình dung ra phần nào ấn chương các triều đại trước đó.

Chúng tôi tuyển chọn giới thiệu 223 hình ấn và dấu minh họa trong bộ sưu tập mà chúng tôi thu thập được. Ảnh minh họa gắn với nội dung giới thiệu mô tả của mỗi quả ấn hay hình dấu trên văn bản và được sắp xếp theo trật tự triều đại từ thời xưa đến cuối thời Nguyễn. Mỗi quả ấn, hình dấu được đánh số thứ tự riêng. Hiện vật ấn được minh họa dưới các hình thức sau:

Nếu có 4 kiểu thì được ghi là: mặt trên ấn (a), núm ấn (b), mặt đế ấn (c) và dấu (d).

Nếu có 3 kiểu thì ghi là: núm hoặc mặt trên ấn (a), mặt đế ấn (b) và dấu (c).

Nếu có 2 kiểu thì ghi là: núm ấn hoặc mặt trên ấn (a) và dấu hoặc mặt đế ấn (b).

Ảnh minh họa gồm hiện vật, hình dấu,văn bản lẫn hình dấu được ghi là H. (hình), thứ tự từ H.1 đến H.233. Kích cỡ to nhỏ của ảnh minh họa làm theo hình thức bố cục cân đối phù hợp với mỗi trang sách phần mục riêng, không phụ thuộc vào kích cỡ thật của hiện vật, hình dấu và văn bản.

Hiện vật ảnh minh họa được gọi chung là ấn, không gọi kiểu cách phân loại loại hình như Quan phòng, Đồ kí, Kiềm kí v.v… Tên ấn hoặc dấu được đặt theo cách gọi của nội dung văn khắc chữ Triện ở chính văn.

Hình dấu có thể đứng độc lập hoặc nằm trong một văn bản Hán Nôm khác. Nếu hình dấu nằm trong một văn bản khác sẽ được ghi liền với niên đại của văn bản và chỉ viết hoa chữ ghi niên hiệu.

Về việc viết hoa tên ấn, dấu, nhân danh, địa danh, niên hiệu, can chi và tên chức quan trong nội dung văn khắc ấn, dấu, chúng tôi tạm theo một quy định riêng, xin giới thiệu vắn tắt dưới đây để bạn đọc tiện theo dõi.

- Phần chính văn: đối với chữ Hán khắc ở mặt trên ấn, chữ Triện ở mặt đế ấn (đối với hiện vật) và nội dung chữ trong hình dấu (đối với dấu trong văn bản) khi phiên âm, chỉ viết hoa đối với chữ niên hiệu, địa danh, nhân danh và không viết hoa tên chức quan. Khi dịch, viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh, can chi và tên chức quan.

Chú thích ảnh: Tên ấn và dấu (gọi theo phiên âm) viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh; không viết hoa tên chức quan.

Để công tác in ấn được thuận lợi, chúng tôi không in ảnh màu minh họa xen kẽ trong phần nội dung mà chọn 32 trang ảnh màu để ở phần phụ lục cuối sách. Trong đó những ảnh nào trùng lặp với ảnh đen trắng thì xếp ở trước và ghi số thứ tự ảnh giống như ở nội dung sách. Còn số ít ảnh màu thêm vào dùng để tham khảo thì xếp ở phía sau và cuối phần phụ lục.

Ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX được hoàn thành, chúng tôi hi vọng đó là sự khởi đầu cho bộ môn ấn chương học Việt Nam và mong muốn sẽ có nhiều người tham gia với những bài viết và công trình kế tiếp.

Trong quá trình biên soạn công trình, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều học giả, đồng nghiệp trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hán Nôm, từ Hà Nội qua Huế tới Sài Gòn - Nam Bộ, từ những ý kiến mang ý nghĩa học thuật đến việc cung cấp một vài hình dấu tư liệu cụ thể. Nhân đây chứng tôi xin được bày tỏ lòng tri ân với tất cả, đặc biệt là GS. Hà Văn Tấn người đã cho chúng tôi nhiều ý kiến quý báu trong việc hoàn thành công trình.

Thực hiện công trình, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo và cán bộ ở các cơ quan như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, Trung tâm Lưu trữ trung ương II - thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là Toyota Foundation của Nhật Bản - đơn vị đã tài trợ cho việc biên soạn và xuất bản cuốn sách này. Nhân đây chúng tôi xin được bày tỏ lời cám ơn sâu sắc nhất.

Quá trình biên soạn công trình chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, tuy đã cố gắng hết sức song chắc chắn còn không ít thiếu sót, chúng tôi xin được lĩnh giáo ý kiến xây dựng bổ sung của quý độc giả để khi tái bản cuốn sách được sửa chữa hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn.



NGUYỄN CÔNG VIỆT
Về Đầu Trang Go down

Tác giảThông điệp
ôngBảy



Bài viết : 100
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:32

Tiếp theo xin giới thiệu hình dấu trên Lệnh chỉ của chúa Trịnh Cương có
dòng ghi niên hiệu với 10 chữ Hán Vĩnh Thịnh ngũ niên thập nhị nguyệt
thập ngũ nhật 永盛五年十二月十五日(Ngày 15 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709).
Chữ Vĩnh 永 bị rách phần đầu. Dấu hình vuông đóng trên chữ Thịnh ngũ
niên. Dấu có 4 chữ Triện xếp theo 2 hàng khuôn nét chữ xếp gần liền nhau
không để cách. Đó là 4 chữ An đô vương tỷ 安都王璽 (Tỷ ấn của An Đô vương).
Cạnh dòng niên đại phía bên trái có hình dấu hai chữ “Lệnh chỉ” 令旨.
Hình thức và tính chất của dấu Lệnh chỉ này cũng giống như bản Lệnh chỉ
của các chúa Trịnh đã giới thiệu, riêng vị trí dấu đóng trên văn bản thì
khác vị trí đóng dấu ở bản Lệnh chỉ của Trịnh Tùng.

Dấu An Đô vương tỷ, tức là tỷ ấn của An Đô vương Trịnh Cương. Sách
ĐVSKTT cũng đã ghi thời gian mà Trịnh Cương được tấn phong làm Khâm sai
Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh tước An Quốc công là năm Chính Hòa thứ
24 (1703). Tháng 9 năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709) ông được tấn phong làm
Nguyên soái Tổng quốc chính An Đô vương[94]. Ông nhận sách vàng ấn báu:
Khoảng 3 tháng sau đó tức ngày 15 tháng 2 năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709)
bản Lệnh chỉ trên của Trịnh Cương được thực hiện và có đóng dấu Tỷ ấn An
Đô vương tỷ. Đối chiếu hình dấu Tỷ ấn trên văn bản Lệnh chỉ với sự kiện
sách sử ghi trên cho phép khẳng định tính xác thực của văn bản cũng như
hình dấu. (H. 48)



Sau lệnh chỉ và hình dấu của Trịnh Cương là Lệnh chỉ có dòng niên đại
ghi Vĩnh Khánh nhị niên thập nhị nguyệt sơ nhị nhật 永慶二年十二月初二日. Trên
dòng niên đại có in hình một dấu vuông có hình thức kích thước tương tự
như dấu Tỷ ấn của chúa Trịnh Cương. Nhưng chữ Triện trong dấu có tự dạng
khác; bốn chữ Triện trong dấu này là Uy Nam vương tỷ 威南王璽 (Tỷ ấn của Uy
Nam vương). Một dấu hình hai chữ Lệnh chỉ 令旨 cũng nằm ở phía bên trái
dòng ghi niên đại, nó cũng chứng minh rằng văn bản Hán Nôm này là một
bản Lệnh chỉ và đây là trang cuối của Lệnh chỉ. Dòng niên đại ghi rõ là
văn bản được làm vào ngày 2 tháng 12 năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1780).

Dấu Uy Nam vương tỷ tức là Tỷ ấn của Uy Nam vương Trịnh Giang. Năm 1727
khi còn là Thế tử Trịnh Giang đã được vua Lê phong là Khâm sai Tiết chế
các xứ thủy bộ chư doanh tước Uy Quận công kiêm nắm chính sự cơ mật. Năm
1730 Trịnh Giang tự tấn phong làm Nguyên soái Thống quốc chính Uy Nam
vương, đồng thời cho đúc Tỷ ấn vàng. Tỷ ấn Uy Nam vương tỷ bắt đầu được
sử dụng năm 1730 và đã được dùng đóng lên bản lệnh chỉ mà chúng tôi đã
giới thiệu trên. (H. 49)

Lệnh chỉ tiếp theo cũng thuộc loại hình văn bản giống như các bản lệnh
chỉ trên về hình thức, tính chất và nội dung; riêng niên đại văn bản và
hình dấu có khác biệt. Dòng niên đại có 9 chữ Cảnh Hưng tam niên tứ
nguyệt sơ ngũ nhật 景興三年四月初五日 (Ngày 5 tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 3
[1742]).




Dấu hình vuông in trên dòng ghi niên hiệu có kích thước, hình thức và số
lượng chữ Triện trong dấu khác với dấu Tỷ ấn của các chúa Trịnh khác. 6
chữ Triện trong dấu xếp theo 3 hàng, mỗi hàng 2 chữ đó là 6 chữ Thượng
sư Minh vương chi tỷ 尚師明王之璽 (Tỷ ấn của Thượng sư Minh vương).

Một dấu hình hai chữ Lệnh chỉ cạnh dòng niên đại, có hình thức tính chất
giống như dấu chữ Lệnh chỉ của các văn bản đã giới thiệu trước.

Thượng sư Minh vương tức là Trịnh Doanh, là con thứ ba của An Đô vương
Trịnh Cương. Năm 1736 khi mới 17 tuổi Trịnh Doanh được phong làm Tiết
chế các xứ thủy bộ chư doanh, Thái úy tước Ân Quốc công. Năm 1740 sau
khi tiêu diệt phe cánh Hoàng Công Phụ, Trịnh Doanh thay quyền ngôi chúa,
lên ngôi vương lấy hiệu là Minh Đô vương và tiến tôn Trịnh Giang làm
Thái thượng vương. Năm Ất Hợi (1755) vua Lê tấn tôn phong Trịnh Doanh
làm Thượng sư thượng phụ anh đoán văn trị võ công Minh vương. Trên thực
tế sau khi lên ngôi chúa với hiệu là Minh Đô vương không lâu Trịnh Doanh
đã tôn xưng là Minh vương và dùng Tỷ ấn Thượng sư minh vương chi tỷ. Tỷ
ấn này của Trịnh Doanh hơi giống với Tỷ ấn của Tây vương Trịnh Tạc và
khác với Tỷ ấn của các chúa Trịnh khác. Đồng thời gian này Thái thượng
vương Trịnh Giang vẫn còn tồn tại, xã hội không ổn định phải chăng cũng
tác động đến việc thay đổi xưng vương, dùng Tỷ ấn của Trịnh Doanh (?)
Hình dấu Tỷ ấn này đã thêm một tư liệu cho việc nghiên cứu Tỷ ấn của các
chúa Trịnh. (H. 50)

Tiếp theo xin được giới thiệu trang cuối của bản Lệnh chỉ cũng có niên
hiệu Cảnh Hưng nhưng có dấu Tỷ ấn của một vị chúa khác. Văn bản tuy đã
cũ nhưng chữ Hán và hình dấu còn rất rõ. Dòng ghi niên đại có 12 chữ là
Cảnh Hưng nhị thập bát niên thập nguyệt nhị thập nhị nhật 景興二十八年十月二十二日
(Ngày 22 tháng 10 năm Cảnh Hưng thứ 28 [1768]). Một hình dấu vuông đóng
dưới chữ “Cảnh Hưng”, dấu có hình thức kích thước, số lượng và bố cục
chữ Triện giống như hình dấu của Bình An vương Trịnh Tùng, Thanh đô
vương Trịnh Tráng, An Đô vương Trịnh Cương và Uy Nam vương Trịnh Giang.
Bốn chữ Triện trong dấu là Tĩnh đô vương tỷ 靖都王璽 (Tỷ ấn của Tĩnh Đô
vương).

Cạnh bên trái dòng niên hiệu là hình dấu hai chữ Lệnh chỉ 令旨có hình
thức, tự dạng giống như dấu chữ Lệnh chỉ của các văn bản đã nêu.

Dấu Tĩnh Đô vương tỷ là Tỷ ấn của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm. Trịnh Sâm là
con trưởng của Trịnh Doanh, năm 1745 được lập làm Thế tử. Năm 1758 được
phong làm Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh Thái úy, Tĩnh Quốc công. Năm
Đinh Hợi (1767) Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên ngôi chúa, được tấn
phong là Nguyên soái Tổng quốc chính Tĩnh Đô vương, được nhận ấn vàng.
Một năm sau, năm 1768 bản Lệnh chỉ trên ra đời có lưu hình dấu Tỷ ấn này
và chúng ta mới biết được tên của Tỷ ấn là Tĩnh Đô vương tỷ. (H. 51)



Hình dấu cuối cùng in trên Lệnh chỉ được giới thiệu dưới đây được in
trên dòng ghi niên hiệu chữ Hán có 12 chữ: Cảnh Hưng tứ thập lục niên
bát nguyệt sơ tứ nhật 景興四十六年八月初四日 (Ngày 4 tháng 2 năm Cảnh Hưng thứ 46
[1785]).

Dấu hình vuông có hình thức, kích thước, số lượng và bố cục chữ Triện
khác Tỷ ấn của các chúa Trịnh khác. 6 chữ Triện trong dấu được chia làm 3
hàng mỗi hàng 2 chữ. Là 6 chữ Sư thượng đoan vương chi tỷ 師上端王之璽 (Tỷ ấn
của Sư thượng Đoan vương).

Dấu hai chữ Lệnh chỉ bên cạnh dấu Tỷ ấn cũng có hình thức kích thước
giống như dấu chữ Lệnh chỉ ở các văn bản mà chúng tôi đã trình bày.

Sư thượng Đoan vương ở đây tức chúa Trịnh Tông. Trịnh Tông còn có tên là
Trịnh Khải, là con của Trịnh Sâm. Năm Tân Sửu (1781) kiêu binh Tam phủ
nổi loạn phế Trịnh Cán rước Trịnh Tông lên ngôi vương làm Nguyên soái
Tổng quốc chính Đoan Nam vương. Đây là thời kỳ kinh thành Thăng Long rối
loạn, nhưng công tác hành chính vẫn được duy trì, một số văn bản vẫn
được thảo và sử dụng Tỷ ấn của chúa. Bản Lệnh chỉ có dấu Tỷ ấn trên là
ví dụ minh chứng. Trịnh Tông và những người phò giúp cũng mô phỏng theo
cách dùng Tỷ ấn của cha ông để làm Tỷ ấn này. Nhưng việc dùng chữ “Sư
thượng” 師上 trong dấu cũng có sự khác biệt. Tỷ ấn của Tây vương Trịnh
Tạc và Minh vương Trịnh Doanh dùng hai chữ đầu là “Thượng sư” 尚師, còn
dấu Tỷ ấn trên có hai chữ đầu là “Sư thượng” 師上. Cách dùng chữ khác trên
Tỷ ấn của Trịnh Tông đã chứng minh cho việc Trịnh Tông tự tấn phong
mình làm Thượng sư thượng phụ Đoan vương 尚師上父端王 rồi làm Tỷ ấn khắc 6 chữ
Sư thượng đoan vương chi tỷ để dùng. Hình dấu Tỷ ấn này đã làm phong
phú thêm cho số lượng Tỷ ấn của các chúa Trịnh nói riêng và ấn chương
thời Lê Trung hưng nói chung (H. 52).

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:32

Dấu tích của chúa Trịnh Sâm còn khắc in trên ma nhai ở động Tuyết Sơn,
chùa Hương, Hà Tây. Cuối bài thơ Đăng Tuyết sơn hữu hứng Trịnh Sâm cho
khắc hai hình dấu xếp theo chiều dọc. Dấu hình vuông không khắc họa
tiết. Dấu ở trên lớn hơn một chút khắc 2 chữ Ngự bút 御筆, dấu ở dưới nhỏ
hơn khắc chữ Vạn cơ thanh hạ 萬幾清暇. Bài thơ này đã được nhiều nhà nghiên
cứu công bố và khẳng định đây là bút tích của chúa Trịnh Sâm. Ông là vị
chúa hay chữ thường du ngoạn ở các danh thắng của đất nước và lưu lại
bút tích. Hai hình dấu trên càng khẳng định rõ thêm bài thơ được khắc ở
động Tuyết Sơn này là của Trịnh Sâm. (H. 53 a, b).

Sắc phong là loại hình văn bản được nhân dân địa phương giữ gìn cẩn
trọng nhất. Sắc phong thời Lê Trung hưng hiện nay còn bảo lưu ở rất
nhiều điểm di tích từ Trung Bộ trở ra Bắc. Tính riêng một ngôi đền Quang
Lãng xã Thụy Khải, Kiến Thụy, Thái Bình, trong số 32 sắc phong thần thì
có hàng chục sắc phong thời Lê Trung hưng. Gồm có các niên hiệu sau:
Vĩnh Tộ thứ 8 (1626) và Dương Hòa thứ 8 (1642) ở đời Lê Thần Tông, Phúc
Thái thứ 3 (1645) đời Lê Chân Tông, Thịnh Đức thứ 4 (1656) đời Lê Thần
Tông, Cảnh Trị thứ 8 (1670) và Dương Đức thứ 3 (1674) đời Lê Gia Tông,
Chính Hòa thứ 4 (1683) đời Lê Hy Tông, Vĩnh Khánh thứ 2 (1730) đời Lê
Duy Phường, Cảnh Hưng nguyên niên (1741) đời Lê Hiến Tông. (H. 54, 55,
56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63).













Trên sắc phong thời Lê Trung hưng chỉ duy nhất có một loại dấu, đó là
dấu Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo được làm từ thời Lê sơ, mà các vua thời Lê
Trung hưng sau này vẫn sử dụng đóng trên sắc phong theo quy định của các
bậc tiên đế. Dấu hình vuông kích thước 11x11cm, 4 chữ Triện trong dấu
là Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶, dấu đóng trên chữ thứ hai dòng ghi niên đại.

Ấn chương không chỉ in hình trên tư liệu giấy, lụa mà còn lưu tích trên
các tư liệu hiện vật như bia đá, ma nhai. Ngoài hình dấu của Trịnh Sâm ở
động Tuyết Sơn, trên hình tấm bia “Thư bút ngự tứ” hiện còn nằm ở xã
Phương Triện huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh nổi bật một hình dấu vuông với
bốn chữ Triện Ngự tiền chi bảo 御前之寶 khắc dưới dòng chính văn có niên
đại thời Cảnh Hưng (không ghi rõ năm nào). Đây là một trong 6 bảo ấn
được làm ra từ thời Lê Thái Tông năm Thiệu Bình thứ 2 (1435), mà mãi sau
này đến đời Lê Cảnh Hưng vẫn được dùng làm biểu tượng khắc trên tấm bia
này. (H. 64)



Trên tấm bia đá lớn “Sắc kiến Ninh Phúc thiền tự bi ký” hiện còn giữ
được ở xã Phù Chẩn, Từ Sơn, Bắc Ninh còn lưu tích 3 hình dấu[95]. Dấu
được khắc lối chữ Triện ở góc bên phải bia cạnh dưới dòng ghi niên đại
năm Phúc Thái thứ 5 (1647) đời Lê Chân Tông.

Cả 3 dấu đều hình vuông, xếp theo chiều dọc từ nhỏ đến lớn. Dấu nhỏ trên
cùng khắc hai chữ Minh hạnh 明行 là tên pháp hiệu của hòa thượng Thích
Minh Hạnh người soạn văn bia ở ngôi chùa này. Dấu tiếp theo được khắc 4
chữ Ninh phúc chủ nhân 寧福主人 chỉ chủ nhân chùa Ninh Phúc. Dấu cuối khắc 4
chữ Thiên chủ thánh cổ 天主聖古, chữ thứ 3 chứng tôi tạm đọc là chữ Thánh
(?) (H. 65).

Ấn dấu quan lại ở cơ quan trung ương thời Lê Trung hưng cũng được tìm
thấy trong một bản sắc chỉ của bộ Lại gửi cho quan viên cấp dưới. Trên
dòng niên hiệu ghi năm Cảnh Hưng thứ 4 (1785) có in hình dấu vuông, kích
thước 9x9cm, bên trong là 4 chữ Triện Lại bộ chi ấn 吏部之印, dấu đóng trên
dòng ghi niên hiệu ngày tháng. Đây là dấu của Thượng thư bộ Lại ở cuối
đời Lê Cảnh Hưng.

Hình dấu còn lưu lại trên văn bản ghi về cấp chính quyền địa phương thời
Lê Trung hưng là một dấu cấp huyện trên văn bản gửi lên cấp trên của
huyện Thanh Chương, trấn Nghệ An. Ở dòng niên đại ghi năm Chính Hòa thứ
11 (1690) có in hình dấu vuông, 4 chữ Triện trong dấu là Thanh Chương
huyện ấn 清章縣印. Đây là dấu của viên Tri huyện huyện Thanh Chương thuộc
trấn Nghệ An. (H. 66)




Văn bản cuối cùng được giới thiệu trong chương này có niên đại cuối đời
Lê Cảnh Hưng. Đây là một văn bản gốc có dấu son đỏ mà chúng tôi đã chụp
từ nguyên bản. Văn bản này còn khá nguyên vẹn, chữ Hán viết Chân rất
đẹp, ngoài dòng đầu, phần chính văn có 3 dòng. Dòng niên đại có 11 chữ
là Cảnh Hưng tứ thập nhất niên tam nguyệt thập cửu nhật 景興四十一年三月十九日.
Khẳng định văn bản đã được viết ngày 19 tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 11
(1780).



Xuất xứ văn bản có liên quan đến La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, nguyên là
Tri huyện huyện Thanh Chương, Nghệ An, lúc này cụ đã cáo quan về ở ẩn,
nhưng tiếng tăm vẫn được nhà chúa biết đến. Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm
truyền cho Trấn thủ Nghệ An Vũ Tá Côn đưa cụ vào kinh, Vũ Tá Côn mới
viết một bức thư mời Nguyễn Thiếp. Văn bản này chính là bức thư của Côn
Lĩnh hầu Vũ Tá Côn viết năm 1780. Nội dung tóm lược là Côn Lĩnh hầu tạm
quyền Trấn thủ Nghệ An xứ vâng lời sai (của chúa) mời cựu Tri huyện
Thanh Chương lên kinh, khi đi qua đồn Sa Nam để cùng bàn và cấp phát
kinh phí rồi để cho trấn binh đi hộ vệ.

Điều quan trọng ở đây là dấu son đỏ in trên dòng ghi niên hiệu. Dấu hình
vuông kích thước 8x8cm. Tám chữ Triện trong dấu xếp theo 2 hàng là 8
chữ Trấn thủ Nghệ An địa phương chi ấn 鎭守乂安地方之印. Ấn của chức Trấn thủ
địa phương Nghệ An.

Ở nhiều con dấu cấp chính quyền địa phương mà chúng tôi sưu tầm được
không thấy có chữ địa phương đứng đằng sau địa danh, và tên chức vụ
không đứng trước tên địa danh. Thường là Địa danh + Chức vụ + 2 chữ chi
ấn (hoặc chương). Hoặc Địa danh + tên cấp chính quyển + 2 chữ chi ấn
(hoặc chương). Đây là trường hợp đặc biệt của ấn chương cuối thời Lê
Trung hưng và cũng không có trong ấn chương các thời kỳ khác. (H. 67).
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:33

CHƯƠNG III

ẤN CHƯƠNG VIỆT NAM THỜI TÂY SƠN (1788 - 1802)


I. Đặc điểm lịch sử của ấn chương Việt Nam thời Tây Sơn

1. Đặc điểm lịch sử

Vào đầu thập niên thứ 7 của thế kỷ XVIII, xã hội Đàng Trong của chúa Nguyễn Phúc cực kỳ rối ren, quyền thần Trương Phúc Loan nắm quyền vô đạo, kinh tế suy sụp và lòng dân ly tán. Năm Quý Tỵ (1773) ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ[96] cùng với Nguyễn Thung và Huyền Khê[97] từ ấp Tây Sơn dấy quân chiếm cứ hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn[98], kí một giao ước với nữ chúa Chiêm Thành[99] chống lại chính quyền Đàng Trong mở đầu cho một giai đoạn lịch sử mới - giai đoạn Tây Sơn.

Tuy ngắn ngủi nhưng giai đoạn Tây Sơn đã để lại nhiều sự kiện lịch sử trọng đại mà những hiện vật ấn chương và hình dấu ấn trên văn bản Hán Nôm còn lưu lại đến ngày nay là những minh chứng rõ nét và sống động.

Ngay từ thời kỳ đầu khởi nghĩa những người lãnh đạo Tây Sơn đã nêu cao khẩu hiệu “Phụng thiên phạt bạo Nguyễn Phúc” quyết tâm lật đổ chính quyền chúa Nguyễn Phúc Thuần. Để thể hiện rõ tinh thần của khẩu hiệu trên, họ đã cho làm một quả ấn gỗ khắc 7 chữ Hán Phụng thiên phạt bạo nguyễn phúc 奉天伐暴阮福 dùng đóng trên các bản hiệu triệu, cáo thư, từ gửi đi và đóng trên các tờ quân lệnh. Con dấu này đã được dùng khá lâu, cả trong thời gian quân Tây Sơn đánh miền Bắc tiêu diệt quân Trịnh, Nguyễn Huệ đã dùng đóng trên các bản công văn quân lệnh. Tư liệu này đã được Bùi Dương Lịch ghi lại trong Nghệ An ký: “… Duy quân lệnh của Tây Sơn thì dùng riêng dấu Phụng thiên phạt bạo Nguyễn Phúc…”[100]. Đây được coi là ấn dấu đầu tiên thời Tây Sơn và là minh chứng khá rõ về mục đích ý nghĩa của phong trào Tây Sơn. Đáng tiếc vì chiến tranh binh hỏa, thiên tai đã chôn vùi tất cả ấn dấu thời Tây Sơn, trong đó có ấn dấu này.

Mùa xuân năm Bính Thân 1776 Nguyễn Nhạc chuyển quân đóng bản doanh ở chùa Thập Tháp phía Bắc thành Đồ Bàn[101] rồi cho đắp lại thành này và xưng là Thiên vương, phong Nguyễn Lữ làm Thiếu phó và Nguyễn Huệ làm phụ chính. Tại đây Nguyễn Nhạc đã cho đúc ấn vàng lớn, nhưng cứ đúc là bị sứt, phải ba lần mới hoàn thành[102].

Cũng như các vua chúa phong kiến Việt Nam trước Tây Sơn, khi lên ngôi, đặt hoặc đổi niên hiệu, họ thường cho đúc những quả ấn lớn bằng vàng sử dụng với ý nghĩa quốc gia trọng đại, dùng đóng trên các bản chiếu, chỉ, dụ, chế cáo, sắc phong. Ở đây Nguyễn Nhạc cũng làm như vậy. Nghiên cứu ấn chương thời Tây Sơn với những quả ấn lớn còn chứng tích tới ngày nay như ấn Quảng vận chi bảo dùng đóng trên các đạo chiếu đồ… Sắc mệnh chi bảo và Tiên nhu chi bảo dùng đóng trên các đạo sắc phong và Triều đường chi ấn đóng trên tờ truyền. Chúng tôi thấy các ấn dấu Sắc mệnh chi bảo, Tiên nhu chi bảo và Triều đường chi ấn đều có niên đại sau thời Thái Đức. Vả lại khá nhiều văn bản chữ Hán ghi rõ Nguyễn Huệ khi còn là Chính Bình vương dùng niên hiệu Thái Đức đều được đóng dấu Quảng vận chi bảo… Do đó việc khẳng định ấn dấu Quảng vận chi bảo được làm ra từ năm 1776 là có cơ sở. Quả ấn này buổi đầu làm ra khi vương triều tây Sơn còn quá non trẻ và quá ít ấn dấu, nên với tác dụng đa năng Quảng vận chi bảo còn được đóng trên nhiều loại hình văn bản khác nhau như những bức thư quan trọng sẽ được trình bày dưới đây.

Sử cũ ghi: “Năm 1778 Nguyễn Nhạc tự lập làm Minh Đức Hoàng đế, đặt ngụy hiệu là Thái Đức nguyên niên, cho đổi thành Đồ Bàn làm thành Hoàng đế, lấy Lữ làm Tiết chế và Huệ làm Long Nhương tướng quân lại sai bọn Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy, Hộ giá Phạm Ngạn đem thuỷ quân lấn cướp vùng ven biển Trấn biên…”[103]. Chính thức từ đây lịch sử phong kiến Việt Nam thêm một vương triều mới, Nguyễn Nhạc xưng đế, đặt niên hiệu, phong chức cho các quan tướng… Tương tự như các triều đại mới thành lập, song song với việc đặt quan phong tướng là việc làm và ban cấp ấn tín. Triều đại Tây Sơn chắc chắn cũng thực hiện như vậy, thực trạng ấn chương giai đoạn này còn lại rất ít, nên chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một cách khái quát sơ bộ và đôi khi chỉ là những tư liệu dẫn.

Năm 1786 được Nguyễn Hữu Chỉnh hiến kế, Nguyễn Nhạc phong Nguyễn Huệ làm Tiết chế các quân thủy bộ, Nguyễn Hữu Chỉnh[104] làm Hữu quân Đô đốc, Vũ Văn Nhậm[105] làm Tả quân Đô đốc tiến đánh Phú Xuân. Dùng kế ly gián Nguyễn Huệ mật sai Hữu Chỉnh đem bức thư bọc sáp, tức là dùng sáp đốt cháy niêm phong bức thư, khi sáp còn nóng thì đóng dấu niêm đè lên trên. Nội dung thư hẹn Trần Đình Thể làm nội ứng, nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh lại cố ý đưa nhầm cho Phạm Ngộ Cầu[106]. Ngộ Cầu xem thư thấy có dấu niêm phong nghiêm chỉnh, tin bức thư là thực, mang lòng nghi Trần Đình Thể. Kết cục kế ly gián thành công, Nguyễn Huệ chiếm được Phú Xuân còn Ngộ Cầu và Đình Thể đều bị giết. Như chúng tôi đã trình bày ở khái luận về ấn chương thì một trong chức năng của con dấu là khẳng định tính chân thực (Authentifie). Ở trường hợp này Nguyễn Huệ và Nguyễn Hữu Chỉnh đã lợi dụng khai thác chức năng tín thực của con dấu trong công tác tình báo phản gián quân sự, lấy cái thực (con dấu thực) để làm việc giả (thư giả) đánh lừa được tướng địch để giành được thắng lợi. Bức thư có đóng dấu niêm phong trên sáp ngày nay chắc chắn không còn, nhưng sự việc này là chi tiết khá lý thú về ấn chương ở giai đoạn đầu thời Tây Sơn cũng đã được Đại Nam chính biên liệt truyện ghi lại[107].

Sau chiến thắng Phú Xuân, Nguyễn Huệ thừa thắng tiến đánh Bắc Hà, chiếm thành Thăng Long. Nguyễn Nhạc ra Bắc phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương trấn giữ từ Phú Xuân (Huế) trở ra Bắc và phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định vương trấn giữ đất Gia Định. Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung ương Hoàng đế cai quản từ Đà Nẵng đến giáp Gia Định.

Bắc Hà một miền đất đai rộng lớn, dân cư đông đúc và nhân tâm chưa phục, Nguyễn Huệ thực hiện một loạt chính sách biện pháp nhằm ổn định tình hình và tăng cường củng cố lực lượng. Bắt đầu bằng việc mời các nhân tài Bắc Hà ra làm việc. Nguyễn Huệ lúc đầu (1786) xưng là An Nam Đại Nguyên súy, năm 1787 xưng là Đại Nguyên súy Tổng quốc Chính Bình vương và bắt đầu đặt các chức quan Đại Tư mã cho Ngô Văn Sở, quan Nội hầu cho Nguyễn Văn Lân. Đồng thời viết thư mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra hợp tác, đến ba lần mới thành. Cho đến mùa thu năm 1788 Nguyễn Huệ đã thu phục được nhiều văn quan và sĩ phu Bắc Hà và phong chức cho họ như Ngô Thì Nhậm giữ chức Tả Thị lang bộ Lại. Phan Huy ích và Nguyễn Gia Phan làm Thị trung Ngự sử, Ngô Vi Quý và Đoàn Nguyễn Tuấn sung Hàn lâm viện. Những sự kiện này đã được sách sử ghi lại[108] và điều may mắn chúng tôi đã có trong tay ảnh chụp những bức thư Nguyễn Huệ gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Đó là những văn bản chữ Hán mà dòng niên hiệu Thái Đức có đóng dấu son đỏ Quảng vận chi bảo cùng nhiều kiểu dấu khác, sẽ được trình bày kỹ dưới đây.

Cuối năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu Quang Trung và cất đại quân đánh giặc Thanh, chỉ một trận tiêu diệt 20 vạn quân Thanh. Quân lệnh nghiêm minh đã giúp cho chiến dịch thành công, phải chăng có sự đóng góp của các phù tiết, hổ phù và ấn tín tướng lĩnh - những biểu tượng của pháp quyền quân lệnh Tây Sơn lúc đó.

Sau chiến thắng, Nguyễn Huệ cấp tốc xây dựng và củng cố chính quyền từ trung ương xuống địa phương. Tham bác cơ cấu tổ chức chính quyền nhà Hậu Lê, Nguyễn Huệ đặt Trung thư phủ phong Trần Văn Kỷ[109] chức Trung thư lệnh là mô phỏng theo chế độ tam Sảnh cũ đặc biệt là Trung thư sảnh. Trung thư lệnh với chức năng Bí thư của Hoàng đế là người thân tín phụ tá đắc lực của Nguyễn Huệ trong việc tư vấn đường lối chiến lược. Với văn tài thao lược Bí thư Trần Văn Kỷ đã giúp Quang Trung được rất nhiều trong việc hoạch định kế sách, thu phục nhân tài như Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích. Bút tích và hình dấu Trung thư lệnh chi chương của Trần Văn Kỷ đã chứng minh rõ sự kiện này và còn khẳng định thêm tước vị Kỷ Thiện hầu của Trần Văn Kỷ.

Năm 1789 Ngô Thì Nhậm được giao thêm chức Từ lệnh. Ông cùng Phan Huy Ích soạn thảo công văn thư từ giao thiệp với nhà Thanh, năm 1790 ông được thăng Binh bộ Thượng thư, và năm 1791 thăng Thị lang Đại học sĩ.

Năm Quang Trung thứ 3 (1790), Nguyễn Huệ củng cố hệ thống lục Bộ và phong chức tước cho những người có tài năng như Ngô Thì Nhậm làm Binh bộ Thượng thư tước Tình Phái hầu, Vũ Duy Tấn giữ chức Công bộ Đãi chiếu Thượng thư… Việc lập Sùng Chính viện và phong La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp chức Viện trưởng cũng như việc nhắc nhở công việc về văn hóa, giáo dục nói lên được nhãn quan chính trị đúng đắn trọng đạo học và trí thức của Nguyễn Huệ.

Việc phong chức Đại Tư mã cho Ngô Văn Sở, quan Nội hầu cho Nguyễn Văn Lân và các tướng lĩnh khác là sự chuẩn bị cho việc xây dựng một chính quyền trung ương riêng biệt của Nguyễn Huệ. Đồng thời là việc xây dựng và củng cố chính quyền địa phương, ở miền Bắc Nguyễn Huệ đổi thành Thăng Long làm Bắc thành và quản lý theo chế độ quân quản. Các trấn vẫn duy trì như cũ, riêng trấn Sơn Nam được đưa ra làm Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ, mỗi trấn đặt chức Trấn thủ đứng đầu và Hiệp trấn phụ tá. Những trấn quan trọng như Nghệ An, Thanh Hóa anh em Nguyễn Nhạc đều để tướng tài tâm phúc trấn giữ. Trấn Nghệ An được giao cho Nguyễn Văn Thận, để thực hiện nhiệm vụ quan trọng là việc chuẩn bị cho công tác xây dựng kinh đô ở Vĩnh (tức Vinh) thuộc Nghệ An. Sự kiện này có liên quan đến việc Nguyễn Thận giao thiệp với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp - theo lệnh của Nguyễn Huệ nhờ xem đất xây dựng hành cung của kinh đô mới. Bức thư này chúng tôi có được từ bộ sưu tầm của cố Giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Văn bản chữ Hán này còn lưu hình dấu son Nghệ An trấn phủ chương in trên dòng niên hiệu ghi Thái Đức năm thứ 11, sẽ trình bày dưới đây là cứ liệu minh chứng cho việc nhà Tây Sơn ban cấp ấn tín song song với việc bổ nhiệm chức quan ở cấp chính quyền địa phương giai đoạn đầu. Xây dựng và củng cố chính quyền địa phương cấp phủ, huyện, năm 1788 Nguyễn Huệ mới đặt chức quan ở cấp huyện với hai chức vụ là Tả quản lý và Hữu quản lý. Chúng tôi đã tìm được một quả ấn đồng cấp huyện triều Quang Trung ở huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc. Ngoài giá trị là hiện vật ấn chương nó còn chứng minh thêm cho việc kỵ húy chữ “Bình” thời Tây Sơn.

Cấp cơ sở thấp nhất của chính quyền địa phương là tổng, xã vẫn được nhà Tây Sơn duy trì theo nhà Hậu Lê ở Đàng ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Tổng có Cai tổng và Phó tổng đứng đầu, xã có Xã trưởng hay Lý trưởng quản lý. Từ cấp cơ sở thấp nhất này trở lên đến các quan lại chính quyền cấp trấn, doanh, đạo đều được nhà Tây Sơn ban cấp ấn tín dùng trong việc công với nhiều chức vụ, cấp bậc khác nhau. Mỗi một loại hình ấn đều có những quy định rõ ràng về kích cỡ, chất liệu, văn khắc trên ấn và mầu mực sử dụng. Hiện vật ấn chương và những hình dấu in trên văn bản Hán Nôm giai đoạn này sẽ được trình bày chi tiết trong chuyên mục sau.

Ngay từ năm 1773 khi cờ hiệu Tây Sơn mới dựng, đội quân Tây Sơn đã được tổ chức nghiêm chỉnh với 5 Quân: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu. Ngày một lớn mạnh, từ một đội quân đã trở thành một lực lượng quân đội có quy mô và tổ chức cao, về cơ bản vẫn theo nguyên tắc ngũ chế, là năm quân Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu cùng với Tả Bật, Hữu Bật v.v… chia các đạo Càn Thanh, Thiên Can, Thiên Trường, Thiên Sách, Hổ Bí, Hổ Hầu, Thị Thân, Thị Loan v.v…[110] hoặc “quân sự thì Đạo thống lĩnh Cơ, Cơ thống lĩnh đội…”[111]. Nói chung một số sách sử chỉ ghi về tổ chức quân đội Tây Sơn với nét khái quát như vậy. Ba quả ấn tướng lĩnh còn giữ được đến ngày nay đã bổ sung thêm cho việc nghiên cứu quân đội Tây Sơn với các đơn vị cấp Vệ, Hiệu và chức Suất ở mỗi một cấp khác nhau.

Quan chế thời Tây Sơn, cả văn quan và võ quan không có bộ chính sử nào ghi trọn vẹn, chỉ thấy rải rác trong các sách dã sử, tạp ký như: “Tam công, Tam thiếu, Đại Trung tể, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư hội, Đại Tư lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Tổng lý, Đại Đô hộ, Đại Đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Kiểm điểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ úy, Quản quân, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung thư sảnh, Trung thư lệnh, Phụng chính, Thị trung Đại học sĩ, Hiệp biện Đại học sĩ, Thị trung Ngự sử, lục Bộ Thượng thư, Tả Hữu Đồng nghị, Tả Hữu Phụng nghị, Thị lang, Tư vụ, Hàn lâm…, các chức danh khác còn nhiều, không thể kể hết ra được”[112]. Ghi chép về quy chế thời Tây Sơn tuy tản mạn, nhưng cũng cho ta thấy được tổ chức chính quyền và quân đội giai đoạn này khá hoàn chỉnh.

Tổ chức chính quyền và quân đội thời Tây Sơn song song với việc phong chức, cấp là việc ban cấp ấn tín cho quan lại và tương lĩnh, có bao nhiêu chức vụ thì có bấy nhiêu ấn tín, thậm chí số ấn tín còn nhiều hơn vì có nhiều chức vụ còn phải thêm kiềm ấn nhỏ đi kèm với ấn lớn. Lý thuyết là như vậy, nhưng thực trạng ấn dấu thời Tây Sơn còn lại cho đến ngày nay thì quá ít ỏi, quá khó khăn cho việc dựng lại cả một hệ thống ấn chương thời đó. Tuy nhiên những quả ấn và hình dấu trên văn bản Hán Nôm, trên văn khắc Hán Nôm mà chúng tôi sẽ trình bày ít nhiều cũng khắc họa lại không chỉ ấn chương thời Tây Sơn mà gần như một phần bức tranh lịch sử, xã hội giai đoạn này.

Về mặt kinh tế, ngay từ khi thu phục được Bắc Hà, Quang Trung Nguyễn Huệ đã có ý tưởng xây dựng nền kinh tế độc lập. Chiếu khuyến nông năm 1789 chứng tỏ Quang Trung thấy được vai trò quan trọng của nền kinh tế nông nghiệp. Việc lập sổ đinh, sổ điền chia ra các hạng, đẳng, ngạch để cân đối với việc thu tô thuế thời Quang Trung là tương đối mạch lạc[113]. Tham khảo luật kinh tế nhà Hậu Lê và các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn còn thiết lập mô hình Bản đường quan với chức năng thu tô thuế, dân đinh, kiểm tra mọi lĩnh vực ở mỗi địa phương. Chức danh của các quan lại lớn nhỏ ở lĩnh vực này đã được thể hiện trong dấu ấn. Những hình dấu như Ký phủ 記府 in trên văn bản Hán Nôm có niên hiệu Quang Trung thứ 5 (1792) đã minh chứng cho chức danh Ký phủ, Ký lục, trong hệ thống Bản đường quan của nhà Tây Sơn.

Năm 1792, từ sông Gianh trở ra Bắc, nhà Tây Sơn còn lập sổ Dân bạ, mỗi người dân đều được cấp một chiếc thẻ gọi là “Tín bài” (Thẻ làm tin). Tín bài này làm bằng gỗ ngoài viền bông hoa. Trên thẻ ghi tên họ, quán chỉ, dấu điểm chỉ ở ngón tay trỏ, giữa thẻ in 4 chữ Triện lớn Thiên hạ đại tín 天下大信 có ký tên và đóng dấu. Những kẻ buôn bán phải đeo thẻ này dưới cổ làm tin[114]. Đáng tiếc rằng hiện nay chúng tôi không tìm được một thẻ Tín bài nào thời Tây Sơn để minh chứng cho vai trò của hình dấu làm tin trong thẻ tín bài này.

Năm Canh Tuất 1790 - niên hiệu Quang Trung thứ 3, Quang Trung lệnh cho Thái tử Nguyễn Quang Toản tuần tra Bắc Thành kiểm tra sổ sách và dân tình[115]. Một bản lệnh chỉ gửi cho các xã ở huyện Thanh Trì phủ Thường Tín xứ Sơn Nam thượng có đóng dấu lớn Hoàng thái tử chi bảo trên dòng niên hiệu Quang Trung thứ 3 được trình bày trong mục II là cứ liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu tình hình kinh tế nông nghiệp thời Quang Trung.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:33

2. Giới thiệu ấn dấu trên văn bản Hán Nôm thời Tây Sơn - Giai đoạn
trước triều đại Quang Trung


Giai đoạn trước triều Quang Trung là triều Thái Đức mà Nguyễn Nhạc là
Hoàng đế tính từ 1778 và trước đó khi Nguyễn Nhạc mới xưng là Thiên
vương (1776). Xếp niên biểu lịch sử thời Tây Sơn ta sẽ thấy triều Thái
Đức tồn tại song song với triều Lê Chiêu Thống nhà Lê ở Bắc Hà. Riêng
giai đoạn nửa cuối và cuối thì tồn tại song song với triều Quang Trung
và Cảnh Thịnh.

Niên hiệu Thái Đức:

+ Từ năm 1778 đến năm 1793 tồn tại cùng niên hiệu Lê Chiêu Thống.

+ Từ năm 1788 đến năm 1792 tồn tại cùng niên hiệu Quang Trung.

+ 1793 tồn tại cùng niên hiệu Cảnh Thịnh.

Như chúng tôi đã trình bày ấn vàng Quảng vận chi bảo được đúc ra từ năm
1776, dùng đóng trên các văn bản quan trọng. Điều may mắn là ngày nay
chúng tôi có một số ảnh chụp từ văn bản chữ Hán gốc thời Thái Đức, những
văn bản này còn in rõ hình dấu Quảng vận chi bảo trên dòng niên hiệu và
những dấu kiềm nhỏ ở phần chính văn: Có 3 văn bản có cùng niên hiệu
Thái Đức thứ 11 (1788) và 1 văn bản niên hiệu Thái Đức thứ 12 (1789).
Đây là những văn bản mà nội dung có liên quan đến việc giao thiệp giữa
nhà Tây Sơn mà chủ yếu là Nguyễn Huệ cùng những người tâm phúc với La
Sơn phu tử Nguyễn Thiếp[116].

Về xuất xứ một số văn bản chữ Hán thời Tây Sơn điều đầu tiên phải kể đến
công lao của cố GS. Hoàng Xuân Hãn. Năm 1939, Giáo sư từ Paris về Việt
Nam trở lại thăm quê Nghệ An tới nhà thờ họ La Sơn phu tử, được cháu
chắt của Nguyễn Thiếp tặng cho Giáo sư một số văn bản chữ Hán gồm các
loại chiếu, chỉ, thư, truyền, sắc phong thời Tây Sơn. Trên cơ sở đó, năm
1952 GS. Hoàng đã cho ra mắt cuốn La Sơn phu tử để công bố một số văn
bản trên. Sau đó Giáo sư đã tặng lại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tất
cả những văn bản này. Cách đây gần mười năm, khi nghiên cứu ấn chương
tôi đã chụp ảnh được nguyên bản những văn bản chữ Hán trên. Đồng thời
dựa vào một số tư liệu Hán Nôm khác đã sưu tầm, bước đầu xin được giới
thiệu ấn dấu thời Tây Sơn trên văn bản Hán Nôm qua các triều đại Thái
Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh và Bảo Hưng.

Văn bản thứ nhất với dòng chữ Hán đầu tiên là Đại nguyên súy tổng quốc
chính bình vương 大元帥總國政平王 chính văn gồm 13 dòng khoảng gần 40 chữ. Dòng
cuối ghi niên hiệu Thái Đức thập niên cửu nguyệt thập tam nhật
泰德十年九月十三日(Ngày 13 tháng 9 năm Thái Đức thứ 10 [/787]) một dấu son lớn
hình vuông, viền ngoài không khắc họa tiết đóng ở dưới chữ “Thái Đức”.
Dấu có kích thước 11,5x11,5cm.

Ba hình dấu Kiềm nhỏ giống nhau đóng ở đầu và cuối phần chính văn và
trên chữ “Nhật” ở dòng niên hiệu. (H. 68)



Đây là bức thư mà Nguyễn Huệ gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có xuất xứ
nội dung như sau. Vào năm 1786 Nguyễn Huệ chiếm Thăng Long muốn thu phục
nhân tâm Bắc Hà tìm người tài phò giúp. Được Trần Văn Kỷ cố vấn Nguyễn
Huệ viết thư rồi mang lễ vật mời Nguyễn Thiếp ra hợp tác, nhưng Nguyễn
Thiếp từ chối. Đến ngày 10/8/1787 Nguyễn Huệ mời lần thứ hai cũng không
thành. Hai bức thư này chúng tôi không có. Đây là bức thư thứ 3 được
viết ngày 13/9/1787 mà Nguyễn Huệ xưng là Đại Nguyên súy Tổng quốc Chính
Bình vương, thư này Nguyễn Huệ từ Phú Xuân sai quan Hình bộ Thượng thư
Thuyên Quang hầu Hồ Công Thuyên mang tới mời Nguyễn Thiếp ở Nghệ An.

Sơ lược nội dung bức thư Nguyễn Huệ xưng là Đại Nguyên súy Tổng quốc
Chính Bình vương kính thư tới La Sơn phu tử. Nguyễn Huệ kể ra ba lẽ mà
Nguyễn Thiếp coi đó là lý do để từ chối không ra hợp tác với Tây Sơn rồi
bày tỏ sự tình về lực lượng Tây Sơn rất cần người hiền tài như Nguyễn
Thiếp ra giúp đỡ, mong phu tử xem xét…

Bức thư này đã được cố GS. Hoàng Xuân Hãn dịch, chú giải và công bố ảnh
minh hoạ[117]. Ở đây chúng tôi không dịch, chú lại mà chỉ tóm tắt sơ
lược nội dung và hướng việc nghiên cứu trọng tâm vào các hình dấu ấn;
Việc làm này sẽ được thực hiện với tất cả những văn bản Hán Nôm có hình
dấu thời Tây Sơn đã được cố GS. Hoàng giới thiệu.

Dòng ghi niên đại của bức thư có hình dấu son lớn, hình vuông, kích
thước 11,5x11,5cm, Triện văn trong dấu gồm 4 chữ Quảng vận chi bảo
廣運之寶[118]. Trong LSPT, GS. Hoàng Xuân Hãn cũng đã khẳng định về dấu này.

Ba hình dấu Kiềm nhỏ đóng ở ba vị trí khác nhau trên văn bản thực chất
là từ một dấu Kiềm đóng ra. Dấu hình bầu dục lõm cạnh có cỡ 2,2x3,0cm,
Triện văn bên trong gồm 2 chữ với nét chữ được khắc uốn nhiều nét và
khuôn theo hình dấu nên rất khó đọc. Theo GS. Hoàng thì 2 chữ Triện
trong dấu kiềm này đọc là “Kiềm ấn” 鈐印 và khắc ngược nên dấu có hình
ngược là [119]. Xem xét kỹ hình dấu Kiềm này trên văn bản gốc và so sánh
với các con dấu tương tự in trên các văn bản gốc khác, chúng tôi khẳng
định 2 chữ Triện khắc trong dấu là 2 chữ “Tín ấn” (信印).Về ngữ nghĩa của
chữ trong dấu như vậy mới đúng và hợp lôgic. Triện văn được khắc đúng từ
trên xuống, chứ không phải khắc ngược như GS. Hoàng đã nêu.

Một văn bản Hán Nôm nữa, là một tờ chiếu gửi La Sơn phu tử nhờ xem đất
để Tây Sơn Nguyễn Huệ xây dựng Kinh đô ở Phù Thạch. Trước đây Nguyễn Huệ
đã viết thư nhờ cụ xem đất, chọn hướng ở Phù Thạch để khởi công, nhưng
Nguyễn Thiếp cứ chần chừ không làm, nên Nguyễn Huệ mới gửi tiếp chiếu
này. Tờ chiếu là 1 tờ giấy bản cũ chữ Hán viết phần lối Chân đầu trên bị
rách mủn do giấy bị cuộn lâu ngày, nhưng nội dung văn bản vẫn còn
nguyên văn. Chính văn gồm sáu dòng chữ Hán, hai chữ “Chiếu” 詔 ở đầu và
cuối viết chồi lên một chút. Dòng niên hiệu ghi Thái Đức thập nhất niên
lục nguyệt thập cửu nhật (泰德十一年六月十九日).

Một hình dấu son đỏ đóng trên dòng niên hiệu dưới chữ “Đức” 德. Dấu hình
vuông cỡ 11,5x11,5cm, Triện văn là 4 chữ Quảng vận chi bảo 廣運之寶. Hình
dấu và nét chữ Triện giống y như dấu Quảng vận chi bảo ở bức thư của
Chính Bình vương gửi La Sơn phu tử đã nêu trên. Qua dòng niên hiệu và
hình dấu Quảng vận chi bảo đã khẳng định được văn bản chữ Hán này được
làm vào ngày 19 tháng 6 năm Thái Đức thứ 11 (1788).

Dòng đầu tiên có 1 hình dấu chữ nhật dài đóng đè lên 5 chữ “Chiếu La Sơn
phu tử” (詔羅山夫子)[120]. Dấu chữ nhật đứng có 4 góc uốn, viền mép đứng,
kích thước 3,2x6,2cm hai bên viền ngoài là hình 2 con rồng nhỏ nét mảnh.
Bốn chữ Triện xếp dọc 1 dòng từ trên xuống là 4 chữ Ngự dụng chi bảo
(御用之寶) Bảo của Hoàng đế dùng.



Dưới dấu Quảng vận chi bảo in trên dòng niên hiệu là một hình dấu kiềm
nhỏ nữa đóng trên chữ “Cửu nhật” (九日) dấu kiềm này có hình bầu dục lõm
cạnh. Dấu tuy đóng bị mờ song qua ngoại hình, kích thước mực dấu và
những nét chữ còn đọc được, cùng vị trí đóng của dấu chúng tôi khẳng
định đây là dấu “Tín ấn” (信印) giống như dấu Tín ấn đã trình bày ở trên
(H. 69).

Văn bản chữ Hán thứ 3 được viết trên giấy bản cũ đã được bồi vá lại gồm
15 dòng chữ Hán, dòng giữa đã bị rách toàn bộ. Đó là một tờ chiếu của
Quang Trung gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, ghi niên hiệu Thái Đức thập
nhất niên cửu nguyệt sơ tam nhật (Ngày 3 tháng 9 năm Thái Đức thứ 11
[1788]). Dòng đầu trên chữ “La Sơn tiên sinh Nguyễn Thiếp”[121] có hình
dấu chữ nhật đứng, dấu Quảng vận chi bảo lớn đóng trên dòng niên hiệu.
Ba dấu Kiềm nhỏ hình bầu dục lõm cạnh in ở cuối phần chính văn và dòng
niên đại.

Tờ chiếu này GS. Hoàng Xuân Hãn đã công bố trên cuốn La Sơn phu tử[122],
ảnh minh họa (ảnh 24-C13) chỉ có phần chính văn 14 dòng chữ Hán với 3
hình dấu Kiềm nét mờ không đọc được, và không có phần ghi niên đại cũng
như dấu lớn Quảng vận chi bảo cùng 1 dấu Kiềm nhỏ nữa. Chúng tôi xin
được giới thiệu ảnh chụp trọn vẹn tờ chiếu này để bổ sung cho phần minh
họa của GS. Hoàng. (H. 70)

Nội dung tờ chiếu là việc Quang Trung nhờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp xem
phong thủy chọn đất để xây dựng kinh đô ở Yên Trường[123], (xin xem chi
tiết phần dịch trong LSPT[124]). Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu qua các
hình dấu trên văn bản để củng cố thêm cho luận cứ về ấn triện giai đoạn
trước thời Quang Trung. Hình dấu lớn Quảng vận chi bảo trên dòng niên
hiệu có kích thước tự dạng giống y như 2 hình dấu chúng tôi đã giới
thiệu ở các văn bản trên. Dấu chữ nhật đứng chính là dấu Ngự dụng chi
bảo (御用之寶) cũng đã được giới thiệu ở văn bản thứ 2 trên. Còn 3 dấu Kiềm
nhỏ cũng chính là 3 dấu Kiềm “Tín ấn” (信印) đã giới thiệu ở văn bản thứ
nhất.



Ngoài những văn bản trên chúng tôi còn có văn bản Hán Nôm nữa là lá thư
của Nguyễn Huệ khi còn là Chính Bình vương mời La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp đến hội kiến ở Phù Thạch. Phần niên đại cũng có hình dấu Quảng vận
chi bảo và không có hình dấu kiềm (ảnh minh họa 20-C9 của GS. Hoàng
trong LSPT không có hình dấu nào[125]).



Nghệ An một trấn quan trọng được Nguyễn Huệ giao cho Nguyễn Văn Thận
trọng nhậm và trong việc giao thiệp với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp thì
Nguyễn Văn Thận được giao nhiệm vụ trực tiếp. Xin giới thiệu 1 bức thư
của Nguyễn Văn Thận gửi Nguyễn Thiếp theo lệnh của Quang Trung có niên
đại năm Thái Đức thứ 11 (1788).

Văn bản là một bức thư (詞) còn khá nguyên vẹn, dòng đầu là 8 chữ Hán
Khâm sai trấn thủ quan thận trực hầu (欽差鎭守官慎直侯)[126]. Chính văn gồm 3
dòng, nội dung là lời thư của quan khâm sai Trấn thủ Nguyễn Văn Thận
vâng chiếu chỉ dựng kinh đô, truyền cho các huyện xã tập trung phu xây
dựng, kính mới phu tử đến xem tính đất để kịp xây dựng…

Bức thư được viết ngày 4 tháng 7 năm Thái Đức thứ 11 (1788), trên dòng
niên hiệu có in hình dấu son. Dấu hình vuông, cỡ 6,8x6,8cm. Năm chữ
Triện bên trong xếp theo vị trí chữ thứ 3 ở giữa dài gấp đôi các chữ
khác đó là 5 chữ Nghệ An trấn phủ chương 乂安鎭撫章 (Ấn chương của Trấn thủ
Nghệ An). (H.71)

Chức Trấn thủ ở mỗi trấn thời Tây Sơn đều được giao cho các đại thần có
năng lực cai quản, họ vừa là một khâm sai đại thần ở một trấn vừa là
quan đứng đầu trấn đó cũng như chức Tổng đốc thời Nguyễn sau này. Nguyễn
Văn Thận giữ chức “Trấn thủ” (鎭守) nhưng ở con dấu lại khắc ghi là Trấn
phủ (鎭撫) đây là điều đặc biệt khác với con dấu của chức Trấn thủ (cùng
quản một trấn) ở thời Hậu Lê và Nguyễn (từ Gia Long - Minh Mệnh 13).
“Chương” 章 ở đây cũng như “ấn” (印) của Tổng đốc, Tuần phủ thời Nguyễn -
là minh chứng thêm tư liệu cho việc dùng Chương 章 thời Tây Sơn… Chúng ta
sẽ gặp lại hình dấu này trong một văn bản có niên hiệu Quang Trung thứ 2
(1789) sẽ được trình bày ở phần mục sau với những so sánh nhất định.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:33

II. Ấn chương Việt Nam triều Quang Trung

1. Thực trạng về hiện vật ấn chương triều Quang Trung


Triều đại Quang Trung với 5 năm ngắn ngủi, nhưng thực chất nó đã hình
thành từ năm 1787 khi Nguyễn Huệ xưng là Đại Nguyên súy Tổng quốc Chính
Bình vương và tổ chức quân đội lúc này cũng được Nguyễn Huệ trực tiếp
sắp xếp bổ nhiệm. Khi lên ngôi Nguyễn Huệ ra sức xây dựng và cùng cố lực
lượng quân đội cũng như chính quyền các cấp. Song song với việc bổ
nhiệm tướng lĩnh, quan chức là việc ban cấp ấn tín cho mỗi quan tướng để
sử dụng. Rất nhiều ấn tín đã ra đời ở giai đoạn này, nhưng nạn binh hỏa
và chính sách khốc liệt của nhà Nguyễn từ triều Gia Long về việc thu
hủy ấn triện, văn bản Hán Nôm thời Tây Sơn, khiến cho việc sưu tầm và
nghiên cứu hiện vật ấn chương triều Quang Trung nói riêng và Tây Sơn nói
chung hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Số hiện vật ấn chương mà chúng
tôi sưu tầm được thật quá ít ỏi và không được toàn diện, nhưng cũng phần
nào nói lên được tổ chức quân đội, chức vụ tướng lĩnh và chính quyền
địa phương giai đoạn này.

Trước tiên xin được giới thiệu về hai quả ấn đồng hiện được lưu giữ tại
Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội mà năm 1987 chúng tôi đã trực
tiếp in chụp và công bố trên Tạp chí Khảo cổ học số 1 năm 1989[127].

Ấn thứ nhất ký hiệu LSb 2525 làm theo kiểu chuôi vồ, cán thấp to và thắt
đáy. Ấn có chiều cao 4,5cm, dầy 0,9cm. Khuôn ấn làm theo dạng hình chữ
nhật. Mặt trên ấn phía bên phải khắc 5 chữ Hán Tân Hợi niên đông tạo
辛亥年冬造, phía bên phải khắc 10 chữ Hán Suất trung lương nhị vệ tam hiệu
trung lang tướng (率中良二衛三校中郎將).

Nét chữ rõ ràng dễ đọc. Dấu hình chữ nhật có kích thước 9,6x6,2cm viền
ngoài để cỡ 0,7cm. Văn khắc là 10 chữ Triện xếp theo 3 hàng, nét chữ uốn
theo hình chữ nhật đứng, 4 chữ hàng giữa và 6 chữ chia đều hai hàng
bên, chữ hai hàng bên. Mười chữ Triện trong dấu chính là 10 chữ khắc
phía trên ấn Suất trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng. Đây là
dấu của viên Trung lang tướng ở Hiệu quân thứ ba, Vệ thứ hai suất Trung
lương. (H.72 a, b, c, d)

Ấn thứ hai ký hiệu DI 63 - 79, núm chuôi vồ thấp, to, tròn và thắt phía
dưới. Ấn có chiều cao 5cm và dầy 1cm. Trên ấn phía bên phải cũng khắc 5
chữ Hán Tân Hợi niên đông tạo như ấn LSb 2525, bên trái khắc 9 chữ Hán
Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu đô ty (率雄拒開衛五校都司). Chữ rõ nét dễ đọc và
nét chữ rất giống quả ấn thứ nhất.



Dấu hình chữ nhật có kích thước 10x6,8cm, viền ngoài để cỡ 0,8cm. Chín
chữ Triện xếp theo hai hàng, 5 chữ hàng đầu mỏng hơn 4 chữ hàng hai; nét
chữ uốn theo hình chữ nhật nằm. 9 chữ Triện trong dấu cũng chính là 9
chữ Hán khắc phía trên ấn Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu đô ty. Đây là ấn
của viên tướng chức Đô ty ở Hiệu quân thứ năm, Vệ tiên phong, Suất Hùng
cự. (H.73 a, b, c, d)



Trên mặt của hai quả ấn đều không ghi niên hiệu mà chỉ ghi năm can chi
tạo ấn là năm Tân Hợi. Vậy đây là năm Tân Hợi nào (?) So sánh chữ Triện ở
hai ấn đồng này với chữ Triện trong ấn chương thời Nguyễn mà chúng tôi
đã nghiên cứu, cộng với việc xác định ngoại hình, chất liệu ấn, chúng
tôi cho rằng hai quả ấn này không phải là ấn thời Nguyễn.

Đây là hai quả ấn của chức võ tướng trong đơn vị quân đội. Xét biên chế
cấp Vệ và Hiệu, chúng ta biết rằng từ đời Lê Thánh Tông mới đặt cấp Vệ,
Sở trong quân lữ. Nếu kể từ thời Lê Thánh Tông đến trước thời Nguyễn là
Quang Trung, ta sẽ có 6 năm Tân Hợi, là năm 1491 (Hồng Đức thứ 22), năm
1551 (Thuận Bình thứ 3), năm 1611 (Hoằng Định thứ 12), năm 1671 (Cảnh
Trị thứ 9), năm 1731 (Vĩnh Khánh thứ 3) và năm 1791 (Quang Trung thứ 4).

Theo những tư liệu chúng tôi được biết thì hầu hết những ấn đồng thời Lê
sơ - Mạc và Lê Trung hưng trên ấn thường khắc bốn chữ Thượng bảo ty tạo
(尚寶司造). Ty Thượng bảo là nơi sản xuất ra những ấn đồng mà hai quả ấn
trên không thấy khắc bốn chữ này. Mặt khác, xét về biên chế quân đội Lê,
từ đời Lê Thánh Tông về sau, quân đội được biên chế theo hình thức ngũ
chế. Mỗi bậc chia làm 5: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu. Thời đầu đặt bậc Vệ,
Sở làm cao; cấp Cơ, Đội, Thuyền, Quản quân ở dưới. Nhiều cấp riêng biệt
như Thân quân trong Nội phủ, cấp Hiệu thì có Nhưng và Kiệu và mười Bộ
là Thị bộ, Thị thủy. Quân Lê - Trịnh về sau phân theo bậc Doanh, Đạo,
Cơ, Đội, Thuyền. Ngoài ra vẫn duy trì cấp Vệ, Hiệu ở một số đơn vị riêng
biệt[128]. Nhiều sách khác cũng nói về biên chế quân đội nhà Lê, nhưng
ta không thấy đâu nhắc đến chức Suất hoặc cấp Suất.

Biên chế quân đội Nguyễn cũng theo ngũ Ngũ chế. Cấp Quân là cao nhất, có
binh chủng đặt Doanh không đặt Quân. Dưới Quân, Doanh là Vệ hoặc Cơ.
Dưới Vệ, Cơ là Đội, Thuyền. Mãi sau này đời Minh Mệnh mới nhắc đến chức
Suất đội, Suất thập ở cấp nhỏ nhất. Trước đó cũng không thấy nói đến cấp
Suất hoặc chức Suất ở hoặc trên cấp Vệ[129].

Nếu xét về tổ chức, biên chế quân đội nhà Mạc, chúng ta cũng không tìm
thấy chức Suất hoặc cấp Suất[130].

Tổ chức quân đội Tây Sơn về cơ bản vẫn theo nguyên tắc ngũ Ngũ chế,
nhưng cũng có những điểm mới. Sách Lê Quý dật sử ghi lại vào tháng 12
năm Kỷ Dậu niên hiệu Quang Trung thứ 2 (1789) “Tây Sơn định lại việc đặt
quan chức, hàng quan văn có Phân tri, hàng quan võ có Phân suất… Quân
sự thì Đạo thống lĩnh Cơ, Cơ thống lĩnh Đội, đều có viên Phân suất cai
quản huấn luyện”[131]. Như vậy ta có thể nói chức Suất đã được đưa vào
biên chế quân đội Tây Sơn một cách rộng rãi. Mỗi một chức đều có chức
Suất và thường có tên gọi kèm theo: Suất Trung lương, Suất Hùng cự v.v…
Suất có khi đứng độc lập, có khi do chức khác kiêm quản.

Vì vậy theo chúng tôi hai quả ấn trên là ấn thời Tây Sơn và năm Tân Hợi
được khắc trên ấn là năm thứ tư niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791). Hai
quả ấn này được đúc vào mùa đông năm 1791, trước ngày mất của Nguyễn Huệ
gần một năm.

Năm 1997 chúng tôi đã được nhà giáo Nguyễn Văn Cương ở xã Đại Lãnh,
huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cung cấp gián tiếp tư liệu về một quả ấn
đồng thời Tây Sơn[132]. Ấn được làm kiểu chuôi vồ, núm cao 3,5cm, thắt
đáy phía dưới. Khuôn ấn hình chữ nhật có kích thước 9,8x6,6cm, và dầy
1cm. Mặt trên ấn phía bên phải khắc 5 chữ Hán Tân Hợi niên đông tạo
(辛亥年冬造), phía bên trái khắc một dòng 13 chữ Hán Tây kỳ phủ trung tín
nhất vệ hộ quân sứ vinh hoa hầu.

Dấu hình chữ nhật có kích thước 9,8x6,6cm, viền ngoài để cỡ 0,7cm. Văn
khắc là 13 chữ Triện xếp theo hai hàng, hàng bên phải 7 chữ, bên trái 6
chữ hoàn toàn giống 13 chữ Hán khắc trên lưng ấn: Tây kỳ phủ trung tín
nhất vệ hộ quân sứ vinh hoa hầu 西岐府忠信一衛護軍使榮華候. (H.74 a.b)



Việc xác định niên đại và Chân hóa chữ Triện trong dấu của quả ấn này
tương đối thuận lợi. So sánh ấn dấu này với hai quả ấn ở Viện Bảo tàng
Lịch sử trên chúng tôi thấy có rất nhiều điểm tương đồng. Chúng đều có
chất liệu bằng đồng; hình thể gần giống nhau: khuôn ấn hình chữ nhật,
núm chuôi vồ to, tròn, thắt đáy. Mặt trên ấn phía bên phải đều khắc 5
chữ Hán: Tân Hợi niên đông tạo, bên trái khắc dòng chữ Hán giống như
dòng chữ trên mặt dấu. Dấu đều hình chữ nhật, để viền ngoài rộng và kiểu
chữ Triện mặt dấu trong dấu rất giống nhau. Chúng gần như được đúc ra
từ một khuôn vậy. Đây đều là ấn dấu của các chức võ tướng cấp Vệ, Hiệu
cũng là những cấp cao trong quân đội thời phong kiến. Từ đó chúng tôi
khẳng định năm Tân Hợi được khắc trên quả ấn ở Đại Lãnh, Quảng Nam cũng
chính là năm Tân Hợi niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791). Quả ấn này được
làm ra từ mùa đông năm Tân Hội 1791 triều Quang Trung thời Tây Sơn.

Giải nghĩa chữ Triện trong con dấu Quảng Nam thì đây là ấn dấu của viên
tướng Vinh Hoa hầu chức Hộ quân sứ thuộc Vệ thứ nhất Trung Tín phủ Tây
Kỳ. Trung Tín ở dấu này cũng như Trung lương và Hùng cự của hai ấn dấu
trên đều là tên đơn vị trong biên chế quân đội Tây Sơn. Tây Kỳ phủ là
tên địa danh cũ thuộc đất Bình Định, nơi phát tích phong trào Tây Sơn,
sang đời Gia Long thời Nguyễn bị xóa bỏ đổi tên. Những điều trên càng
chứng tỏ việc khẳng định quả ấn này thuộc triều Quang Trung thời Tây Sơn
là chính xác.

Sách Lê Quý dật sử cũng như nhiều sách sử khác chỉ nói chung chung biên
chế quân đội Tây Sơn ở cấp Doanh, Đạo, Cơ, Đội. Ba quả ấn trên đã chứng
minh cho việc Quang Trung Nguyễn Huệ đặt cấp Vệ và cấp Hiệu vào biên chế
quân đội, dưới nữa là cấp Đội, Thuyền. Ngoài việc phân theo Ngũ chế,
Quang Trung còn đặt Vệ, Hiệu theo số thứ tự như “Nhất Vệ”, “Nhị Vệ”,
“Tam Hiệu”, “Ngũ Hiệu”, “Khai Vệ”có lẽ là Vệ đầu tiên, mở đường, là Vệ
tiên phong.

Về chức danh cấp bậc ghi trong ấn dấu ta thấy đây là ba quả ấn của ba võ
tướng có chức danh khác nhau: Chức Trung lang tướng, chức Đô ty và chức
Hộ quân sứ. Theo nghiên cứu ấn chương thì chức vụ cấp bậc càng cao thì
ấn dấu càng lớn. Nếu đem so sánh các ấn này với nhau, ta thấy ấn của
viên tướng Đô ty có kích thước khuôn dấu 10x6,8cm và chiều cao là 5cm,
ấn của viên tướng Hộ quân sứ cỡ 9,8x6,6cm và chiều cao 4,5cm, ấn của
viên Trung lang tướng cỡ 9,6x6,2cm và chiều cao là 4,5cm. Như vậy khả
năng viên tướng Đô ty có chức vụ cao hơn và chức năng nhiệm vụ chắc chắn
cũng quan trọng hơn hai viên tướng kia. Thời Tây Sơn, chức Đô ty thường
được phân giữ những nơi xung yếu quan trọng, chức này phải chọn những
viên tướng giỏi và tâm phúc cho trấn nhậm. Vì viên tướng Đô ty này lại
lãnh Vệ tiên phong, nên giả thiết nêu trên có khả năng là đúng.

Về việc tìm lại tên tuổi của ba viên tướng qua những ấn dấu này quả thực
là khó khăn. Tư liệu chữ Hán thời Tây Sơn bị mất gần như toàn bộ, chỉ
dựa vào một số sách sử và một số văn bản hành chính còn lưu lại chúng
tôi không thấy nhắc đến tên tuổi viên Trung lang tướng, viên tướng Đô ty
hay Hộ quân sứ nào (!) Còn việc phong tước “Hầu” cho các quan tướng
thời Tây Sơn, với nhiều tên họ khác nhau như Nội hầu Nguyễn Văn Lân, Kỷ
Thiện hầu Trần Văn Kỷ, Thận Trực hầu Nguyễn Văn Thận v.v… cũng đã có tư
liệu nói tới. Do đó tên tuổi của viên tướng Hộ quân sứ Vinh Hoa hầu hy
vọng sẽ được các sử gia tìm thấy trong tương lai trên cơ sở tư liệu từ
ấn dấu này.

Công tác điền dã sưu tầm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thật đa dạng và rất
có hiệu quả, không có nó chắc chắn chúng tôi cũng không thể tìm thấy
một quả ấn đồng nữa thời Tây Sơn ở một làng quê Trung du Bắc Bộ. Tại một
gia đình họ Đèo (họ Ngô) ở xã Viên Sơn, huyện Mê Linh hiện còn lưu giữ
một quả ấn đồng cổ. Núm ấn hình chuôi vồ tròn, có đường kính 1cm chiều
cao tính cả đế ấn là 3,5cm. Mặt ấn được đúc theo hình chữ nhật có kích
thước 5,6x8,5cm và đầy 1cm. Mặt trên ấn phía bên phải khắc 5 chữ Hán:
Tân Hợi niên đông tạo (辛亥年冬造), phía bên trái khắc 5 chữ Hán Bằng Tuyền
huyện quản lý (憑泉縣管理). Nét chữ viết theo lối Chân thư dễ đọc. Dấu hình
chữ nhật có kích thước 9,8x6,6cm viền ngoài để cỡ 0,5cm. Văn khắc là năm
chữ Triện xếp theo hai hàng dọc, hàng bên phải là ba chữ Bằng Tuyền
huyện 憑泉縣, hàng bên trái là hai chữ Quản lý 管理, kích thước của hai chữ
“Quản lý” cao bằng ba chữ “Bằng Tuyền huyện”. (H.75 a, b)



Việc xác định niên đại và Chân hóa chữ Triện của dấu ấn này cũng thuận
lợi vì đã có được việc xác định niên đại và nội dung văn khắc của ba quả
ấn trên. So sánh chất liệu hình thể, khuôn dấu tự dạng chữ Chân và
Triện thư… đặc biệt là năm chữ Tân Hợi niên đông tạo của ấn đồng này với
ba quả ấn trên chúng tôi khẳng định đây là quả ấn được làm ra từ mùa
đông năm Tân Hợi niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791). Chính việc xác định
niên đại này cũng giúp cho việc Chân hóa chữ Triện và giải nghĩa cho
nội dung văn khắc của dấu. Năm chữ Triện “Bằng Tuyền huyện quản lý”
trong dấu cho ta khẳng định đây là ấn dấu của chức Quản lý huyện Bằng
Tuyền.

Trước hết xin nói về ba chữ “Bằng Tuyền huyện”. Theo sách Các trấn tổng
xã danh bị lãm[133] được soạn thảo giữa triều Gia Long (1810-1813) thì
Bình Tuyền 平泉 là tên một huyện thuộc phủ Phú Bình, xứ Thái Nguyên. Huyện
có 7 tổng 27 xã, thôn, trang trại, và địa danh này đã có từ lâu đời.
Xem xét địa danh phủ, huyện toàn miền Bắc từ Nghệ Tĩnh trở ra ở thời kì
Tây Sơn và từ thời Nguyễn chúng tôi không thấy có tên huyện Bằng Tuyền
hoặc Bình Tuyền nào khác. Như vậy huyện Bằng Tuyền này chính là huyện
Bình Tuyền ghi trong quả ấn mà triều Quang Trung đã kiêng húy tên tục
của Nguyễn Huệ là Bình nên mới đổi chữ Bình 平 làm chữ Bằng 憑 và hai chữ
Bình Tuyền 平泉 được đổi thành Bằng Tuyền 憑泉. PGS. TS. Ngô Đức Thọ cũng đã
viết về lý do kiêng húy chữ “Bình”, việc thời Tây Sơn đổi tên các địa
danh có chữ Bình như đã nêu trên xác nhận vua Quang Trung Nguyễn Huệ còn
có một tên khác là Nguyễn Quang Bình 阮光平 như Hoàng Lê nhất thống chí đã
chép. Bình cũng được dùng làm tên tước tự xưng của Nguyễn Huệ[134]… Do
đó các địa danh như Cao Bình 高平 được đổi làm Cao Bằng 高憑, Lộc Bình 祿平
được đổi làm Lộc Bằng 祿憑[135]. Tên huyện Bình Tuyền được đổi làm Bằng
Tuyền ở quả ấn này là một minh chứng nữa cho việc kiêng húy chữ Bình
thời Tây Sơn. Khi Gia Long lên ngôi thì tất cả địa danh và nhân danh có
liên quan đến nhà Tây Sơn đều bị xóa bỏ, như ấp Tây Sơn được đổi thành
An Tây, tên Cảnh Thịnh, Quang Trung khắc trên hiện vật đều bị đục và
những địa danh kiêng húy thời Tây Sơn hầu hết được đổi lại tên như cũ…
Vì vậy khi soạn thảo bộ Các trấn tổng xã danh bị lãm thời Gia Long, nhóm
biên soạn đã viết tên huyện Bình Tuyền (平泉) như cũ để từ đó không ai
được viết hoặc nhắc lại cái tên Bằng Tuyền (憑泉) được đặt ra dưới triều
Quang Trung nữa.

Trở lại hai chữ “Quản lý” 管理 được khắc trên ấn, đây là một tên chức quan
quản lý cấp huyện triều Quang Trung. Khi lên ngôi năm 1788 Quang Trung
Nguyễn Huệ đã chú ý xây dựng và củng cố chính quyền địa phương. Mô phỏng
chế độ tổ chức huyện quan thời Hậu Lê với hai chức quan huyện trong một
huyện[136], Nguyễn Huệ mới đặt chức quan ở cấp huyện với hai chức Tả
Quản lý và Hữu Quản lý. “Tả Quản lý thì coi việc hình luật, kiện tụng.
Hữu Quản lý thì coi về quân đội binh tình. Lại dùng người giàu có và thế
lực ở địa phương làm Huyện trưởng đốc suất việc lương thực cho quân
đội”[137].

Sách sử ghi như vậy nhưng trên thực tế chức Quản lý khắc trên ấn chúng
tôi không thấy có chữ Tả Quản lý hay Hữu Quản lý. Có thể chức Quản lý
đây là chức kiêm quan cả hai chức Tả và Hữu Quản lý của huyện Bằng Tuyền
(?) Tuy nhiên quả ấn này cũng là một hiện vật quý hiếm giúp cho việc
nghiên cứu thời Tây Sơn và cần được đưa về lưu giữ tại các cơ quan hữu
trách.

Xem xét hai dòng chữ khắc ở mặt trên ấn đặc biệt là niên đại Tân Hợi
niên đông tạo với bố cục, kiểu chữ, độ nét tương tự nhau, chúng tôi
khẳng định đây là những quả ấn được đúc cùng một thời gian, đợt đúc ấn
năm Tân Hợi (1791) này theo lệnh của Quang Trung là đợt đúc ấn lớn và có
qui mô nhất trong thời Tây Sơn. Nó khẳng định về một vương triều non
trẻ nhưng cũng khá hoàn chỉnh trong việc xây dựng một thể chế pháp luật,
tổ chức quân đội, chính quyền địa phương và cả về lĩnh vực công nghệ
đúc đồng chạm khắc trong giai đoạn chiến tranh còn ác liệt…
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:33

2. Dấu ấn trên văn bản Hán Nôm triều Quang Trung

Văn bản Hán Nôm triều đại Quang Trung còn lưu lại đến ngày nay tuy không
hiếm hoi như hiện vật ấn chương nhưng còn lại cũng rất ít và lại càng
ít hơn đối với những văn bản có đóng dấu ấn. Hiện nay những văn bản này
còn nằm tản mát ở một số cơ quan thuộc nhiều địa phương khác nhau. Riêng
số sắc phong có in hình dấu thì còn khá nhiều và nằm rải rác ở các di
tích văn hóa lịch sử trên phạm vi toàn quốc. Loại hình sắc phong tuy
nhiều nhưng đều có chung điển hình một loại dấu riêng biệt nên cũng chỉ
được giới thiệu vài ba sắc phong mà thôi. Giá trị nhất là những văn bản
gốc mà cố GS. Hoàng Xuân Hãn đã tặng lại Bộ Văn hóa mà Viện Bảo tàng
Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội đang lưu giữ. Chúng tôi sẽ chọn lọc và giới
thiệu những văn bản này bên cạnh những văn bản điển hình khác ở triều
Quang Trung. Trong phần giới thiệu chúng tôi không trình bày theo thời
gian niên đại và nội dung văn bản mà chủ yếu giới thiệu về hình con dấu
các loại trên mỗi văn bản khác nhau, mục đích để việc giới thiệu con dấu
có một hệ thống và gắn với phần mục trên.

Trước hết xin được giới thiệu một tờ chiếu của Quang Trung gửi La Sơn
phu tử Nguyễn Thiếp hiện được lưu giữ ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
tại Hà Nội. Bản chiếu này còn khá nguyên vẹn. Chính văn gồm 7 dòng chữ
Hán viết Chân với khoảng 200 chữ. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung nhị
niên thập nguyệt sơ ngũ nhật 光中二年十月初五日. Một hình dấu lớn màu son đỏ
đóng ở dòng niên hiệu dưới chữ Quang Trung. Dấu hình vuông, kích thước
lớn, 4 chữ Triện trong dấu là Quảng vận chi bảo 廣運之寶.

Dòng đầu là 9 chữ Chiếu dụ La Sơn Nguyệt Ao Nguyễn tiên sinh 詔諭羅山月澳阮先生
có hình dấu chữ nhật đóng trên các chữ La Sơn Nguyệt Ao Nguyễn. Họa tiết
viền ngoài là hình hai con rồng nét mảnh, bốn chữ Triện bên trong xếp
theo một hàng dọc là 4 chữ Ngự dụng chi ấn 御用之印.

Hai hình dấu Kiềm giống nhau được đóng trên chữ Khâm tai 欽哉 dòng cuối
phần chính văn và trên chữ “Ngũ nhật” 五日 dòng niên đại. Kiểu dấu đều có
hình bầu dục lõm cạnh, chữ Triện được khắc trong dấu là 2 chữ Tín ấn 信印.
(H. 76)

Văn bản này được làm vào ngày 5 tháng 10 năm Quang Trung thứ 2 (1789) và
là văn bản gốc có 3 loại hình dấu son chứng thực. Nội dung bài Chiếu là
lời Quang Trung trách Nguyễn Thiếp từ chối bổng lộc một xã mà Quang
Trung đặc ban cho làm lễ ưu lão. Bức thư cũng còn chứng thực việc xây
dựng kinh đô ở Nghệ An đã hoàn thành[138].



Ba loại hình dấu trên trùng lặp với 3 loại dấu in trên các văn bản thời
Thái Đức mà chúng tôi đã trình bày. Ở đây nó đã chứng minh cho việc sử
dụng dấu trên chiếu dụ thời Quang Trung cũng giống như việc dùng dấu
trên chiếu dụ đời Thái Đức và càng khẳng định vai trò của Quang Trung
Nguyễn Huệ trong phong trào Tây Sơn. Ngay trước khi lên ngôi vua Nguyễn
Huệ đã dùng những con dấu này trong những văn bản quan trọng với tính
chất như một nhà lãnh đạo số một. Lời văn thảo bức thư thật uyên bác
chứng tỏ Quang Trung biết sử dụng những người tài giỏi bên cạnh mình.

Xin giới thiệu tờ chiếu thứ hai mà Quang Trung gửi La Sơn Nguyễn Thiếp.
Văn bản đã bị rách mảng giữa, chính văn gồm 5 dòng chữ Hán, dòng cuối
chỉ còn lại 4 chữ. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung tứ niên thất
nguyệt sơ thập nhật 光中四年七月初十日, chữ “Quang” bị mất gần hết chữ. Hình dấu
lớn Quảng vận chi bảo đóng trước dòng niên đại, dấu Ngự dụng chi bảo
đóng trên 5 chữ “La Sơn tiên sinh Nguyễn” ở dòng đầu. Hai dấu Kiềm Tín
ấn được đóng trên chữ “Khâm tai” ở đoạn cuối văn và chữ thập ở dòng niên
hiệu. Văn bản này được làm ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 4
(1791).

Nội dung bản chiếu là lời mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân
(Huế) để hội kiến với Quang Trung. Bài chiếu đã được cố GS. Hoàng Xuân
Hãn dịch giới thiệu trong cuốn La Sơn phu tử[139], nhưng trong phần ảnh
minh họa (ảnh) Giáo sư chỉ giới thiệu phần chính văn là một nửa văn bản
mà không có phần ghi niên đại và hình dấu ấn. Chúng tôi xin được giới
thiệu toàn văn bản với đủ ba loại hình dấu trên để bạn đọc tham khảo.
(H. 77)



Tờ chiếu dụ thứ ba cũng của Quang Trung gửi La Sơn Nguyễn Thiếp với phần
chính văn là 8 dòng chữ Hán, những chữ đầu và cuối của dòng đầu đã bị
rách mất. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung ngũ niên lục nguyệt sơ nhất
nhật 光中五年六月初一日. Dấu lớn Quảng vận chi bảo 廣運之寶 in trên dòng niên đại.
Dấu Ngự dụng chi bảo đóng trên chữ “Tiên sinh Nguyễn Khải Xuyên” 先生阮啓耑.
Năm hình dấu kiềm giống nhau được đóng trên chữ ghi số thứ tự, chữ “Khâm
tai “ ở phần chính văn và chữ nhất nhật ở dòng niên đại. Đó là Kiềm dấu
Tín ấn 信印.

So sánh loại hình, kích cỡ, viền hoa văn, chữ Triện của ba loại hình dấu
này giống y như ba loại dấu chúng tôi đã trình bày ở hai văn bản trên.
Đây là văn bản được viết ngày mồng 1 tháng 6 năm Quang Trung thứ 5
(1792) có nội dung là lời khen của vua Quang Trung đối với Sùng Chính
viện Viện trưởng La Sơn phu tử Nguyễn Khải Xuyên về việc dịch sách[140].
Văn bản đã được GS. Hoàng Xuân Hãn giới thiệu và dịch trong cuốn La Sơn
phu tử[141], riêng phần ảnh minh họa thì các hình dấu Kiềm quá mờ không
thể đọc được. (H. 78)

Văn bản chữ Hán ở triều Quang Trung, ngoài những bản chiếu dụ có in các
hình dấu Quảng vận chi bảo, Ngự dụng chi bảo và Tín ấn như đã nói ở
trên, chúng tôi còn chụp được nguyên bản hai tờ “Truyền” 傳 của Triều
đường Quang Trung. Mỗi văn bản đều có in hình dấu lớn của Triều đường
đóng ở dòng niên đại và một loại Kiềm dấu nhỏ khác nữa đóng ở nhiều chỗ
nhấn mạnh trong phần chính văn.



Bản “Truyền” thứ nhất còn giữ được nguyên vẹn, duy độ nét có bị mờ đi
nhiều. Dòng đầu là 4 chữ Triều đường quan đẳng 朝堂官等 phần chính văn gồm 5
dòng chữ Hán khoảng hơn 100 chữ. Dòng niên đại với 10 chữ Quang Trung
ngũ niên nhuận tứ nguyệt thập tứ nhật 光中五年閏四月十四日 (Ngày 14 tháng 4 nhuận
năm Quang Trung thứ 5 [1792]).

Dấu lớn hình vuông màu son đỏ gạch, kích thước 11,3x11,3cm đóng ở dòng
niên hiệu dưới chữ Quang Trung, 4 chữ Triện trong dấu là Triều đường chi
ấn 朝堂之印 (ấn của Triều Đường). Bốn hình dấu kiềm nhỏ hình vuông cỡ
1,4x1,4cm đóng ở 4 điểm phần chính văn, trên chữ “Khâm truyền” và “Sùng
chính viện Viện trưởng”. Hai chữ Triện trong dấu Kiềm là Tiểu ấn 小印. (H.
79)



Như vậy văn bản này đã được viết ngày 14 tháng 4 nhuận năm Quang Trung
thứ 5 (1792). Nội dung văn bản là tờ Truyền của Triều đường Quang Trung
cho Viện trưởng Viện Sùng Chính là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp trách về
việc dịch sách. Văn bản cũng đã được GS. Hoàng Xuân Hãn dịch, giới thiệu
trong sách La Sơn phu tử, nhưng phần ảnh minh họa thì hình con dấu bị
mờ hoàn toàn không thể đọc được.

Bản “Truyền” đã cho ta thấy được tổ chức chính quyền trung ương thời
Quang Trung có hình thức tổ chức Triều đường. Triều đường ở đây tức là
triều đình mà đại diện là một số đại thần văn quan võ tướng số một của
chính quyền Quang Trung, chủ yếu là những văn quan tài giỏi thay mặt vua
giải quyết những vấn đề quan trọng, ra một số văn bản chỉ định. Tổ chức
này giống như tổ chức Đình thần (hay Công đồng) ở thời Nguyễn sơ sau
này. Quang Trung đã thu phục và sử dụng được nhiều văn thần tài giỏi như
Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích v.v…, họ đã thay mặt Quang Trung giải quyết
nhiều việc quan trọng về đối nội cũng như đối ngoại. Ấn dấu Triều đường
chi ấn cũng không phải là ấn dấu của một tổ chức, một cơ quan trung ương
riêng biệt nào trong chính quyền Quang Trung và phải chăng mô hình ấn
dấu Đình thần chi ấn, Công đồng chi ấn, với chức năng tương tự ở thời
Nguyễn sơ sau này có nhiều điểm tương đồng (?).

Tờ “Truyền” thứ hai cũng còn nguyên vẹn và giữ được mới, có độ nét hơn
tờ trên. Dòng đầu cũng có 4 chữ Triều đường quan đẳng, phần chính văn có
7 dòng chữ Hán khoảng 150 chữ. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung ngũ
niên lục nguyệt sơ tứ nhật. Dấu lớn hình vuông có 4 chữ Triện là Triều
đường chi ấn (朝堂之印) (ấn của Triều Đường), 4 dấu Kiềm nhỏ hình vuông đóng
trên chữ “Khâm truyền”, chỗ ghi số thứ tự và chữ Tứ nhật ở cuối dòng
niên đại. Dấu Kiềm được xác định là dấu Tiểu ấn 小印. (H. 80)

Như vậy tờ “Truyền” này đã được làm ngày 4 tháng 6 năm Quang Trung thứ 5
(1792). Nội dung tờ “Truyền” gửi Viện trưởng Viện Sùng Chính là La Sơn
phu tử Nguyễn Khai Xuyên về việc dịch và chú ba bộ kinh là kinh Thi,
kinh Thư và kinh Dịch… GS. Hoàng Xuân Hãn cũng đã dịch và giới thiệu
trong La Sĩ phu tử[142].



Tờ Truyền này càng khẳng định thêm về việc ấn dấu Triều đường chi ấn và
Kiềm dấu Tiểu ấn được chuyên dùng trong các loại hình công văn như
Truyền (傳) , Sai (差), đó là những văn bản hành chính quan trọng chỉ đứng
dưới chiếu, chỉ, dụ, cáo, sắc của Hoàng đế.

Mùa xuân năm 1789 Quang Trung đại phá quân Thanh, trước đó Nguyễn Huệ đã
nghe La Sơn phu tử bày mưu dự đoán rất đúng nên Nguyễn Huệ rất khen và
cũng muốn nài phu tử làm quân sư. Do đó tháng 3 năm 1789 khi quay về Nam
đến Nghệ An, Quang Trung mở hội nghị quốc sự đã lệnh cho Trấn thủ Nghệ
An Nguyễn Văn Thận viết thư mời. Bức thư này hiện nay vẫn còn lưu giữ ở
Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội mà chúng tôi may mắn chụp được
nguyên bản. Bức thư viết bằng giấy bản còn khá nguyên vẹn, toàn văn có
hơn 50 chữ Hán viết ngắn gọn có dòng đầu 10 chữ “Khâm sai Nghệ An trấn
thủ quan Thận Trực hầu” (欽差乂安鎭守官慎直侯). Dòng thứ hai với 3 chữ “Túc từ vu”
(肅詞于) và có 1 hình dấu chữ nhật in trên chữ “Từ vu”, dấu có kích thước
3,4x1,8cm bên trong là 4 chữ Triện Nghệ an trấn ký (乂安鎭記) dấu Tín ký của
Trấn thủ Nghệ An (?).

Dòng niên đại với 9 chữ Hán Quang Trung nhị niên tam nguyệt sơ thập nhật
(光中二年三月初十日). Một hình dấu son in đè lên đoạn chữ “nhị niên tam nguyệt”,
dấu hình vuông kích thước 6,8x6,8cm viền ngoài để đậm 1cm, bên trong là
5 chữ Triện Nghệ An trấn phủ chương (乂安鎭撫章). Đây là chương ấn của chức
Trấn phủ trấn Nghệ An.

Hai hình dấu Kiềm nhỏ giống nhau, một in ở trên chữ “từ” cuối phần chính
văn, một in ở dưới dấu lớn Nghệ An trấn phủ chương ở dòng niên đại. Dấu
thuôn theo dạng hình thoi bằng đầu có 8 cạnh, có khắc viền trong, hai
chữ Triện xếp theo hàng dọc là 2 chữ “Nghệ An” (乂安). (H. 81)

Nội dung bức thư ngắn gọn nên chúng tôi theo lời dịch của GS. Hoàng Xuân
Hãn.



“Khâm sai trấn thủ Nghệ An Thận Trực hầu kính thư cho La Sơn tiên sinh
xét rõ, nay tôi vâng chiếu truyền cho ngài tới bàn quốc sự cho nên có
thư này. Tiên sinh tạm dời gót ngọc đến Vĩnh Doanh để mà hội nghị.

Nay kính thư

Quang Trung năm thứ 2 ngày 10 tháng 3 (1789)”

Nội dung khá rõ và đơn giản, chúng tôi xin được trở lại với các hình dấu
của chức quan trấn Nghệ An trên.

So sánh văn bản này với văn bản của Khâm sai trấn thủ quan Thận Trực hầu
gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có niên đại Thái Đức thứ 11 (1788) mà
chúng tôi đã trình bày ở trên, chúng tôi thấy có một số điểm giống và
khác nhau giữa các hình dấu ở hai văn bản.

- Về dấu lớn Nghệ An trấn phủ chương ở hai văn bản đều có kích thước,
viền ngoài dấu, bố cục và kiểu chữ Triện giống nhau. Nhưng nét chữ Triện
ở 2 chữ “trấn” và chữ “chương” thì khác nhau.

- Dấu nhỡ hình chữ nhật Nghệ An trấn ký hoàn toàn giống nhau, nhưng vị
trí đóng dấu ở 2 văn bản khác nhau.

Ở văn bản Quang Trung có thêm 2 hình dấu Kiềm 8 cạnh đóng ở cuối phần
chính văn và dưới dấu lớn Nghệ An trấn phủ chương.

Qua đó có thể thấy rằng cùng một chức quan (Trấn thủ) trong cùng một con
người (Nguyễn Văn Thận) ở thời điểm gần nhau 1788 - 1789, nhưng dưới
hai triều khác nhau Thái Đức và Quang Trung thì việc sử dụng ấn dấu trên
văn bản cũng có sự khác nhau. Quang Trung lên ngôi vẫn để Nguyễn Văn
Thận làm Trấn thủ Nghệ An, nhưng dấu ấn tín có thay đổi. Ấn Nghệ An trấn
phủ chương làm lại khắc nét chữ khác, đồng thời làm thêm Kiềm ấn Nghệ
An để đóng vào cuối phần chính văn và cuối dòng ghi niên hiệu.

Xin giới thiệu tiếp 1 văn bản đời Quang Trung. Văn bản đã có các mép đã
bị rách sờn hiện được lưu tại một gia đình họ Nguyễn ở thị xã Quy Nhơn -
Bình Định, chuyến công tác gần đây chúng tôi đã chụp lại được nguyên
bản.

Đây là một bức thư chữ Hán có 5 dòng nội dung và một dòng ghi niên đại.
Hai chữ ở hai dòng đầu bị rách mờ mất gần hết chữ, chữ áp chót đầu cũng
bị mờ mất một nửa. Văn bản này đã được cố GS. Hoàng Xuân Hãn công bố
trong cuốn La Sơn phu tử. Ảnh chụp của Giáo sư còn giữ được nguyên vẹn
không bị mờ mất 3 chữ dòng đầu và dòng thứ 2 như bức ảnh này. GS. Hoàng
đã giới thiệu bản dịch (không phiên âm) và cũng khẳng định rằng đây là
bút tích của Trần Văn Kỷ. Ở đây chúng tôi muốn chứng minh rõ hơn về vấn
đề này qua một số tiêu chí được đặt ra trong công tác văn bản.

Kể cả dòng ghi niên đại toàn văn bản có 99 chữ. Dòng đầu với 14 chữ là
“Trung thư lệnh kỷ thiện hầu Trần Văn Kỷ tái bái cẩn thư vu”. Cuối phần
chính văn bản là 2 chữ “Cẩn thư”. Trên 3 chữ “cẩn thư vu” (ở trên) và
cẩn thư (ở dưới) là một hình dấu Kiềm nhỏ. Hai hình dấu này đều được
đóng từ một quả ấn ra. Dòng ghi niên đại có 10 chữ Quang Trung nhị niên
cửu nguyệt nhị thập tứ nhật (光中二年九月十四日).

hình dấu có màu mực tím đen in ngay ngắn, bên trong là 5 chữ Triện xếp
theo bố cục với chữ ở giữa lớn gấp đôi các chữ khác. Việc xác định con
dấu cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để khẳng định bút tích
của Trần Văn Kỷ.

Dịch nghĩa:

Trung thư lệnh Kỷ Thiện hầu Trần Văn Kỷ lạy hai lạy kính cẩn dâng thư
trình La Sơn đại lão tiên sinh.

Tôi biết là nhục quế rất cay không thể điều dụng được, vì từ lúc tạm
biệt ở trấn doanh, tôi nghĩ đến ngài đã dặn về việc ấy nên không dám bỏ
qua. Tôi bèn chọn Khánh Thọ quế bẩy phiến cân được ba lạng đóng gói lại,
đánh dấu rồi bỏ vào và nhờ ông Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Công khoa Đô
cấp sự trung Ôn Đình Bá chuyển đệ.

Rất mong tiên sinh xem xét nhận cho.

Nay kính thư

Quang Trung năm thứ 2 ngày 24 tháng 9 (1789)

Điều quan trọng ở đây là các hình dấu in trên bức thư, một hình dấu
chính ở cuối dòng ghi niên đại và hai hình dấu kiềm nhỏ. Dấu chính hình
vuông bên trong là năm chữ Triện xếp theo bố cục 3 hàng. Đó là 5 chữ
Trung thư lệnh chi chương (中書令之章) ấn chương của chức Trung thư lệnh. Chữ
“thư” ở đây được khắc kiểu cắt đôi xếp theo chiều ngang từ trái qua
phải, điều này ít thấy trong các chữ Triện ở các con dấu.

Hai dấu Kiềm in trên văn bản có cùng một nội dung với 4 chữ. Do chữ
trong dấu mờ và bị lấp nên chúng tôi chỉ có thể tạm đọc là 4 chữ Trung
thư phủ chính (中書府政) (?)

Dấu đóng có màu mực đen khác với các hình dấu trên nhiều văn bản thời
Tây Sơn như dấu của Triều đường, dấu của Trấn quan, của Khâm sai, của
Thái tử đều có màu mực son đỏ. (H. 82)

Trong bức thư này ghi rõ Trần Văn Kỷ giữ chức Trung thư lệnh ở Viện
Trung thư, gần như văn phòng của Hoàng đế, với chức năng như một viên Bí
thư thứ nhất rất quan trọng bên cạnh Quang Trung. Những hình dấu trên
văn bản khẳng định là hình dấu của Trần Văn Kỷ, cùng nội dung bức thư
với lời lẽ kính cẩn chân tình có xuất xứ rõ ràng như đã nêu, chúng tôi
khẳng định đây là bút tích mà Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ viết vào ngày
24 tháng 9 năm Quang Trung thứ 2 (1789).

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:34

Dấu ấn thời Quang Trung còn lưu tích trên loại hình sắc phong. Cũng
giống vương triều Lê trước đó, thời Tây Sơn mà chủ yếu là triều Quang
Trung và Cảnh Thịnh có ban hành sắc phong thần cho các vị thần được dân
gian thờ phụng, và sắc phong cho các quan lại và tướng lĩnh có công lao
lớn. Thời Tây Sơn có khác thời Lê và các vương triều khác là việc dùng
con dấu trên sắc phong. Ở thời Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng và Nguyễn sau
này trên sắc phong thần đều dùng dấu Sắc mệnh chi bảo; còn ở thời Tây
Sơn lại dùng con dấu Tiên nhu chi bảo đóng trên sắc phong thần.

Xin mô tả dấu in trên sắc do vua Quang Trung phong cho thần thôn Yên
Việt xã Nam Phù Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam
thượng[143]. Dấu hình vuông, kích thước khá lớn, cỡ 15,2x15,2cm, viền
ngoài để đậm 2,2cm không khắc họa tiết, bên trong là 4 chữ Triện Tiên
nhu chi bảo (秈柔之寶), ý nghĩa là các vị thần phù trợ cho mưa thuận gió
hoà, mầm lúa mọc tươi tốt. Dấu đóng ở dòng ghi niên hiệu ngày tháng
Quang Trung tam niên thập nguyệt nhị nhật (ngày 2 tháng 10 năm Quang
Trung thứ 3 [1790]). (H. 83)




Chứng tích về dấu trên sắc phong cho người có công thời Tây Sơn hiện nay
còn lại thật hiếm thấy. Tư liệu về dấu Sắc mệnh chi bảo thời Quang
Trung đã được cụ Hoa Bằng sao ghi lại rồi tặng cho một cán bộ ở Viện
Nghiên cứu Hán Nôm. Đó là bản sao lại hình dấu Sắc mệnh chi bảo (敕命之寶)
in trong đạo sắc mà vua Quang Trung sắc phong cho Phan Huy Ích chức Đặc
tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Thị trung Ngự sử, tước Thụy Nham hầu. Niên
đại của sắc phong ghi ngày 18 tháng 4 nhuận niên hiệu Quang Trung thứ 5
(1792). Trên tờ tư liệu này còn ghi bút tích chữ Quốc ngữ của cụ Hoa
Bằng ghi ngày 11 tháng 12 năm 1949: “Chính tôi biết rõ cái sử liệu này
là đúng chắc nhưng hiện nay không còn, vì nạn binh cách sau hồi tháng
Chạp 1946 - Kính tặng những bạn yêu người anh hùng áo vải ở trại Tây
Sơn”. (H. 84)

Xin được giới thiệu tiếp bản Lệnh chỉ hiện được lưu giữ tại Viện Bảo
tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội. Lệnh chỉ viết trên giấy bản đã bị rách
ố xung quanh. Chữ Hán viết Chân gồm 9 dòng kể cả 2 dòng kê khai ở cuối
văn bản. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung tam niên ngũ nguyệt thập ngũ
nhật (光中三年五月十五日) (Ngày 15 tháng 5 năm Quang Trung thứ 3 [1790]). Văn
bản có 2 loại con dấu. Một dấu lớn hình vuông đóng dưới chữ “Quang
Trung” (光中) ở dòng niên hiệu. Mười một hình dấu Kiềm giống nhau đóng
trên chữ “Lệnh chỉ” (令旨) đóng trên chữ “Thập ngũ” (十五) ở dòng niên hiệu,
đóng chỗ xuống dòng cuối văn bản và đóng kín ở 2 dòng kê khai số lượng
ruộng đất.

Dấu lớn hình vuông cỡ 11,3 x11,3cm, các góc vuông uốn hình vòng cung.
Viền ngoài để đậm 1,2cm. Bên trong là 5 chữ Triện, chia làm 3 hàng, 4
chữ ở hai hàng và ở giữa. Chữ ở giữa cao gấp hai lần mỗi chữ hai bên.
Nét chữ đậm 0,3cm khắc hơi uốn lượn, gần với tự dạng chữ Triện trong dấu
triều Nguyễn sau này. Đó là 5 chữ Hoàng thái tử chi bảo (皇太子之寶) Bảo ấn
của Hoàng thái tử. Dấu đóng ở dòng ghi niên hiệu ngày tháng. (H 85)



Có nhiều điểm đáng chú ý ở con dấu này. Theo quy định truyền thống các
triều đại, thì sắc, chiếu, chỉ dụ là do vua ban ra, còn Lệnh chỉ là loại
văn bản hành chính dành riêng cho nhà chúa hoặc Hoàng thái tử. Ở bản
Lệnh chỉ trên hình dấu Hoàng thái tử chi bảo đã khẳng định cho điều này.

Lê Quý dật sử chép vào tháng 12 năm Kỷ Dậu niên hiệu Quang Trung thứ 2
(1789): “Tây Sơn Nguyễn Huệ lập con trưởng là Quang Toản làm Hoàng thái
tử và phong tước cho các con: Con thứ là Nguyễn Thùy làm Khang công quản
lãnh miền Bắc, lãnh chức Tiết chế thủy bộ chư quân…”[144].

Các triều đại trước Tây Sơn và triều Nguyễn sau này, khi phong cho con
làm Hoàng thái tử, thường đặt thêm chức khá quan trọng. Như nhà Nguyễn
khi Gia Long còn sống phong Phúc Đảm (Minh Mệnh) làm Hoàng thái tử và
cho đứng đầu Tôn nhân phủ[145], Phúc Đảm được ban ấn khắc 5 chữ triện
Hoàng thái tứ thủ tín[146].

Ở đây ấn Hoàng thái tử chi bảo là ấn của Hoàng thái tử Nguyễn Quang
Toản. Như vậy là thời Tây Sơn Quang Toản đã được dùng ấn có chữ “Bảo”.

Lê Quý dật sử ghi lại, vào năm Nhâm Tý niên hiệu Quang Trung thứ 5
(1792): “Ngày 30 tháng 7 vua Tây Sơn mất, tôn miếu hiệu Thái tổ Vũ hoàng
đế. Thái tử là Nguyễn Quang Toản mới được 10 tuổi (tên tục là Kỷ) nối
ngôi…”. Như vậy ta thấy Quang Toản lúc đóng dấu lệnh chỉ trên mới 8
tuổi.

Ngoài ra, Viện Bảo tàng Lịch sử vẫn giữ những Lệnh chỉ khác, như Lệnh
chỉ về việc thu thuế ruộng đất đối với các địa phương thuộc trấn Hưng
Hóa và một số vùng ở miền Bắc. Ngày tháng trong Lệnh chỉ cũng là Quang
Trung tam niên ngũ nguyệt thập ngũ nhật (Ngày 15 tháng 5 năm Quang Trung
thứ 3 [1790]). Con dấu đóng trên Lệnh chỉ này cũng giống như dấu Hoàng
thái tử chi bảo của Lệnh chỉ nói trên. Đó là dấu của Hoàng thái tử Quang
Toản.

Về 11 hình dấu Kiềm bầu dục trên văn bản, đây là loại dấu có kích thước
nhỏ, cỡ 3,5x2,5cm hai bên cạnh lõm vào một ít theo hình vòng cung. Bên
trong khắc hình hai chữ Triện, xếp theo hàng dọc. Nét chữ rõ ràng, những
nét bên ngoài uốn theo khuôn dấu. Đó là hai chữ Quang hầu (光侯). Chữ
“hầu” ở đây chỉ ông vua nhỏ dưới mệnh lệnh ông thiên tử. Đây là Kiềm nhỏ
của Hoàng thái tử Nguyễn Quang Toản. Kiềm ấn này được dùng đóng vào chỗ
ghi ngày ở cuối dòng niên hiệu và những chỗ quan trọng được nhấn mạnh
trong bản Lệnh chỉ này. Các bản lệnh chỉ khác có dấu Hoàng thái tử chi
bảo thì các dấu Kiềm trên văn bản cũng chính là Kiềm dấu Quang hầu giống
như bản Lệnh chỉ chúng tôi đã nêu trên.

Nội dung đơn giản là Lệnh chỉ cho sắc mục xã trưởng xã Vĩnh Hưng Đặng,
tổng Vĩnh Hưng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, xứ Sơn Nam Thượng[147]
về vấn đề ruộng đất canh tác các hạng tương ứng với sổ sách biên chép,
cùng việc thu miễn tô thuế kèm kê khai số lượng diện tích đất canh tác ở
cuối văn bản.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:34

III. Ấn chương Việt Nam triều Cảnh Thịnh - Bảo Hưng

1. Hình dấu trên văn bản Hán Nôm triều Cảnh Thịnh


Năm 1792 Nguyễn Huệ mất đột ngột, Hoàng thái tử Quang Toản lên ngôi
Hoàng đế và đổi niên hiệu là Cảnh Thịnh. Sự kiện trọng đại này dẫn đến
một sự thay đổi và biến động trong triều đình Tây Sơn như việc ban bố ra
các chiếu, chỉ, sắc, dụ v.v… Việc Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền
cách biếm Trần Văn Kỷ, việc kiến tạo xây dựng, trùng tu, đúc chuông ở
một số di tích ở đồng bằng Bắc Bộ v.v… Trong đó có không ít việc có liên
quan đến ấn triện.

Số lượng hiện vật ấn triện và tài liệu có in hình dấu thời Cảnh Thịnh
cũng khá phong phú, nhưng vì chiến tranh ác liệt và cuối cùng là sự thất
bại của Tây Sơn nên tư liệu ấn triện giai đoạn này không còn. Cụ thể
như năm 1801 Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân, Quang Toản thua chạy, quân
Nguyễn Ánh đã thu được không ít ấn tín sách vở. Sử cũ đã ghi: “… Quang
Toản đã mang đồ báu bỏ thành chạy trước ra Bắc. Xa giá vào thành, xem
khắp các nơi cung điện, thu được 13 quả ấn ngụy và 33 bản sách
ngụy[148]. Niêm phong kho tàng, tịch biên của cải vật phẩm…”[149].

Một số văn bản chữ Hán có hình con dấu thời Cảnh Thịnh được giới thiệu
dưới đây là những văn bản may mắn còn sót lại trong dân gian mà chúng
tôi chụp từ nguyên bản gốc tại đất Quy Nhơn, Bình Định. Đầu tiên phải kể
đến văn bản có dấu tích của Khang công Nguyễn Quang Thùy - người con
của vua Quang Trung và người chiến sĩ của phong trào Tây Sơn.

Văn bản là những dòng chữ Hán viết trên giấy bản đã cũ, hai mép trên và
dưới bị rách mờ vài chỗ. Chữ Hán viết chân phương, dòng đầu là 20 chữ
“Đặc sai bắc biên tiết chế bộ thuỷ chư doanh kiểm tổng binh dân thứ vụ
hoàng đệ Khang công”. Chính văn gồm 8 dòng khoảng hơn 200 chữ mà phần
dưới có chữ đã bị mất do giấy bị rách. Dòng niên đại với 10 chữ Cảnh
Thịnh ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập tứ nhật. Một dấu son lớn hình vuông
in dưới đoạn ngày tháng dòng ghi niên hiệu và 6 hình dấu Kiềm nhỏ giống
nhau in ở 6 vị trí khác nhau trên tờ văn bản. Như vậy, niên đại văn bản
đã được xác định là ngày 24 tháng 5 năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1796).



Nội dung văn bản là một bản Phó giao cho các sắc mục ở một số thôn xã
thuộc hai huyện Thanh Trì và Thanh Oai về công việc nông vụ dẫn nước
tưới tiêu, ruộng đất canh tác ở các địa phương đó. Đây là một văn bản
chữ Hán nội dung không có gì đặc biệt, nhưng điểm nổi bật ở đây là hình
dấu của Khang công Nguyễn Quang Thùy. Dấu hình vuông có 12 chữ Khâm sai
tiết chế Hữu Khang kiêm dân thứ vụ chi ấn (欽差節制佑康兼民庶務之印) (ấn của Khâm
sai tiết chế kiêm dân thứ vụ Hữu Khang). (H. 86)

Những dòng chữ trong con dấu này cho ta thấy Nguyễn Quang Thùy còn có
tên là Nguyễn Hữu Khang, cũng như các con khác của Nguyễn Huệ là Quang
Toản còn có tên là Trát và Kỷ. Có lẽ vì thế sau khi lên ngôi Hoàng đế,
Quang Trung Nguyễn Huệ đã phong tước cho các con và Quang Thùy được
phong tước “công” nên gọi là Khang công. Một số văn bản chữ Hán khác
thời Quang Trung cũng ghi rõ Quang Thùy là Khang công và thời Cảnh Thịnh
ghi Quang Thùy là Hoàng đệ Khang công.

Những dấu Kiềm nhỏ có hình bầu dục hai cạnh lõm vào một ít theo hình
vòng cung, hai chữ Triện trong dấu xếp theo hình dọc, những nét chữ bên
ngoài uốn theo khuôn dấu. Đó là hai chữ “Quang hầu” (光侯). Chữ “hầu” ở
đây chỉ ông vua nhỏ dưới mệnh lệnh Thiên tử Hoàng đế. Điều này đã chứng
tỏ vai trò quan trọng của Quang Thùy trong vương triều Tây Sơn ở giai
đoạn chiến tranh ác liệt nhất như thế nào. Dấu “Quang hầu” được đóng
trên chữ “phó” (付) ở đầu và cuối phần chính văn và trên chữ tên các xã
trong văn bản.

Trở lại lịch sử, khi bắt đầu khởi binh (khoảng năm 1771 - 1773) Nguyễn
Huệ đã lấy vợ, bà tên là Phạm Thị Liên người ấp Phú Phong, huyện Tuy
Viễn, Bình Định và sinh được 2 con trai, trưởng tử là Nguyễn Quang Thùy
còn thứ là Nguyễn Quang Bàn. Về sau bà Liên ốm chết và khoảng năm 1782
Nguyễn Huệ lấy vợ kế là bà Bùi Thị Nhạn người ở ấp Xuân Hòa, huyện Tuy
Viễn. Bà sinh được 3 trai 2 gái, người con đầu là Nguyễn Quang Toản và
hai em trai là Nguyễn Quang Thiệu và Nguyễn Quang Hưng. Còn Nguyễn Quang
Khanh và Nguyễn Quang Duy mà chính sử ghi là con người vợ thứ nữa của
Nguyễn Huệ.

Như vậy Quang Thùy phải hơn Quang Toản khoảng hơn 10 tuổi và phải chăng
bà Phạm Thị Liên là vợ đích của Quang Trung (?) còn Quang Thùy là con
đích của người anh hùng áo vải Tây Sơn này?

Năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi vua và cũng định lập Quang Thùy làm Thế tử.
Chính vì thế mà khi nhà Thanh đòi Quang Trung sang chầu, Nguyễn Huệ xin
cho Quang Thùy sang thay nhưng họ không chịu và đoàn sứ giả vương Phạm
Công Trị phải sang Trung Quốc. Sau vụ này vua Thanh đã sắc phong cho
Nguyễn Quang Thùy làm An Nam Quốc vương thế tử. Thực tế lúc này Quang
Thùy đã đến tuổi thành niên và cũng từng trải, còn Nguyễn Quang Toản lúc
này mới được 6-7 tuổi. Nhưng rồi đến tháng 12 năm Kỷ Dậu 1789 Nguyễn
Huệ quyết định phong Quang Toản làm Hoàng thái tử và phong Quang Thùy
làm Khang công lãnh chức Tiết chế thuỷ bộ chư doanh cho quản lĩnh miền
Bắc và lại gọi Quang Toản là con trưởng và Quang Thùy là con thứ (?) Vua
Thanh khi được thông báo lại cũng đổi phong Quang Toản làm An Nam Quốc
vương thế tử.

Trong tập Lê triều vinh phong huân thần chế văn[150] ghi rõ Biểu văn
Khang công Quang Thùy mừng cha lên ngôi niên hiệu Quang Trung và biểu
văn mừng Hoàng hậu triều Tây Sơn. Điều đó càng chứng tỏ sự khẳng định
chững chạc của Quang Thùy ở giai đoạn này. Phải chăng việc phong Hoàng
thái tử cho Quang Toản và để Quang Thùy quản lĩnh Bắc Hà cũng nằm trong ý
đồ chiến lược của Quang Trung (?) Lúc này đất nước còn rối ren, nhân
tâm Bắc Hà chưa phục, Quang Toản còn nhỏ tuổi chưa thể đảm đương được
trọng trách ở miền Bắc. Tuy rằng những sĩ phu đã theo về với Tây Sơn như
Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích là những văn thần tài giỏi, nhưng người
quyết định vẫn phải là Quang Thùy thi hành theo đường lối của Quang
Trung ở Phú Xuân.

Năm 1792 Nguyễn Huệ mất, Quang Toản lên ngôi vẫn đóng đô ở Phú Xuân và
phong Quang Thùy là Khâm sai Bắc biên Tiết chế thủy bộ chư doanh kiêm
Tổng binh dân thứ vụ. Bắc Hà - một miền đất đai rộng lớn, dân cư đông
đúc và trị an chưa ổn định. Được sự giúp đỡ của các văn thần người Bắc,
Quang Thùy đã làm được một số việc đáng kể mà chính sử nhà Nguyễn không
ghi lại. Mặt kinh tế nông nghiệp rất được chú trọng, chính sách ruộng
đất được ban hành ở hầu hết các tỉnh, khắc phục cảnh ruộng hoang, làm
thủy lợi dẫn nước tưới tiêu, động viên và phấn đấu tăng sản lượng nông
nghiệp v.v… văn bản chữ Hán đã nói ở trên và một số tờ lệnh chỉ thời Tây
Sơn còn giữ được đã chứng minh điều này. Về mặt văn hóa, việc sửa sang
đình chùa, đúc chuông, dựng bia thời Tây Sơn không chỉ có ý nghĩa về mặt
văn hóa mà thể hiện rõ quan điểm của chính quyền Tây Sơn về lĩnh vực
tôn giáo tín ngưỡng, đó cũng chính là đường lối chính trị đúng đắn của
nhà Tây Sơn trong giai đoạn này.

Con dấu thời Cảnh Thịnh còn lưu lại trên loại hình sắc phong thần và sắc
phong cho tướng lĩnh có công lớn đương thời. Hiện nay ở một số điểm di
tích ở đồng bằng Bắc Bộ còn lưu giữ sắc phong triều Cảnh Thịnh, trên sắc
phong ở dòng ghi niên đại có hình dấu son lớn hình vuông, kích thước
15,2x15,2cm, bên trong là 4 chữ Triện Tiên nhu chi bảo (秈柔之寶) viền ngoài
dấu để đậm 2,2cm. Ở bản sắc phong thần thôn Yên Việt, xã Nam Phù Liệt,
huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng, trên dòng ghi niên
hiệu ngày tháng Cảnh Thịnh tứ niên ngũ nguyệt nhị thập nhất nhật (Ngày
21 tháng 5 năm Cảnh Thịnh thứ 4 [1795]) có hình dấu son Tiên nhu chi
bảo. So sánh với dấu Tiên nhu chi bảo ở sắc phong triều Quang Trung trên
chúng tôi thấy dấu có kích thước, bố cục, tự dạng và nội dung giống
nhau. Chúng được đóng ra từ một quả ấn. Đối chiếu dấu ở sắc phong này
với các hình dấu ở nhiều bản sắc phong triều Quang Trung, Cảnh Thịnh và
Bảo Hưng, chúng tôi khẳng định rằng dấu Tiên nhu chi bảo là con dấu
chuyên đóng trên sắc phong thần thời Tây Sơn. (H. 87)



Hiện nay tại Bảo tàng Quang Trung, Bình Định còn giữ được một số tài
liệu thời Tây Sơn trong đó có sắc phong cho tướng lĩnh có công lao. Các
văn bản này đã bị rách ố, nhưng vẫn giữ được cơ bản phần nội dung chữ
Hán và phần quan trọng là dòng ghi niên đại và hình dấu. Văn bản thứ
nhất, chất liệu giấy dó cũ, chữ Hán viết chân đã bị rách phần đầu và
dưới chân văn bản. Những chữ cuối cùng phần chính văn là “Khâm tai cố
sắc”( 欽哉故敕) đã chứng tỏ đây là một bản sắc phong. Dòng niên đại có 10
chữ Cảnh Thịnh tứ niên nhị nguyệt nhị thập tứ nhật (景盛四年二月二十四日) (Ngày 24
tháng 2 năm Cảnh Thịnh thứ 4 [1795]). Một hình dấu son đỏ đóng ở dòng
niên hiệu. Dấu hình vuông. Bốn chữ Triện trong dấu là Sắc mệnh chi bảo
(敕命之寶). Những chữ còn lại trên văn bản cho ta thấy đây là một bản sắc
phong cho viên quan chỉ huy vệ thứ ba đạo Hổ dực là Nguyễn Đăng Lâm làm
chức Hộ quân sứ tước Phú Nhuận hầu năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1795). (H. 88
a,b)



Văn bản này là cứ liệu chứng minh cho tư liệu của cụ Hoa Bằng đã nói
trên là sắc phong cho Phan Huy Ích triều Quang Trung có dùng dấu Sắc
mệnh chi bảo là hoàn toàn chính xác. Thời Tây Sơn (triều Quang Trung và
Cảnh Thịnh) dùng ấn Sắc mệnh chi bảo đóng trên sắc phong cho quan lại
tướng lĩnh có công. Đồng thời xem xét một số tài liệu còn lại ở Bào tàng
Quang Trung, Bình Định qua ảnh chụp chúng tôi thấy có hai văn bản liên
quan đến việc phong chức cho quan tướng thời Tây Sơn.

Văn bản thứ nhất giấy dó đã ố vàng, bị rách xung quanh, chính văn có 4
dòng chữ Hán và dòng đầu có 5 chữ viết rất to là Thống soái thiếu truyền
công (統帥少傳公) (chức Thống soái tước Thiếu Truyền công). Dòng niên đại có
10 chữ Cảnh Thịnh bát niên tứ nguyệt nhị thập nhị nhật (景盛八年四月二十二日)
(Ngày 22 tháng 4 năm Cảnh Thịnh thứ 8 [1799]). Đoạn ghi ngày tháng có
hình một dấu son lớn hình vuông, bên trong là 4 chữ Triện, nét chữ kéo
dài nhiều nét gấp khúc. Đó là 4 chữ Thiếu truyền chi ấn (少傳之印) (ấn của
Thiếu Truyền công). Trên văn bản còn các hình dấu Kiềm khác gồm 2 hình
dấu kiềm bầu dục lõm cạnh giống nhau đóng trên 2 chữ “Khâm phó” (欽付) ở
đầu và cuối phần chính văn. Một dấu Kiềm chữ nhật đứng đóng chỗ tên chức
tước, một dấu kiềm bầu dục đóng chỗ xuống dòng. Vì văn bản bị ố mờ còn
các hình dấu Kiềm bị quá mờ và nhỏ (ảnh chụp) nên chúng tôi không thể
chân hóa được chữ Triện trong dấu. Nội dung tạm gọi đây là bản “Khâm
phó” (欽付) của một viên Thống soái tước Thiếu Truyền công khâm mệnh trao
phong tước cho viên tướng Nguyễn Đăng Lâm chức Đô ty (都司), tước Phú Lộc
hầu (富祿侯) vì có nhiều công lao trong chiến trận… Nguyễn Đăng Lâm năm
Cảnh Thịnh thứ 4 (1795) đã được phong chức Hộ quân sứ, tước Phú Nhuận
hầu. (H. 89)



Văn bản thứ 2 giấy dó ố vàng bị rách thủng nhiều chỗ, chính văn có 5
dòng chữ Hán với dòng đầu cũng viết 5 chữ Thống soái thiếu truyền công
(統帥少傳公) (chức Thống soái tước Thiếu Truyền công). Dòng niên đại có 10
chữ Cảnh Thịnh cửu niên ngũ nguyệt nhị thập nhị nhật (景盛九年五月二十二日) (Ngày
22 tháng 5 năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1800). Đoạn ghi ngày tháng có dấu son
hình vuông giống như văn bản trên, với 4 chữ Triện trong dấu là Thiếu
truyền chi ấn (少傳之印) (ấn của Thiếu Truyền công). Trên văn bản còn có 5
hình dấu Kiềm khác đóng ra từ 3 Kiềm ấn ở vị trí ghi tên riêng, tên chức
vụ, chữ “Khâm phó” và cuối dòng. Cũng vì các dấu Kiềm quá mờ và nhỏ nên
chúng tôi cũng không thể chân hóa được chỉ thấy hình thức của 5 dấu
Kiềm này cũng giống như các dấu Kiềm ở văn bản trên. Nội dung cũng tương
tự văn bản trên, đây là bản “Khâm phó” của viên Thống soái tước Thiếu
Truyền công khâm mệnh trao phong chức cho viên Điển sự[151] Trần Bá Hữu
chức Tư vụ (司務)[152] ở bộ Hộ vì đã đóng góp nhiều công sức trong công vụ
(H. 90)



Ở hai văn bản này dòng đầu đều có 5 chữ “Thống soái Thiếu Truyền công”,
cỡ chữ viết lớn hơn phần chính văn. Hai hình dấu lớn trên hai văn bản có
hình thức, kích cỡ, bố cục và tự dạng chữ Triện trong dấu giống nhau
hoàn toàn là 4 chữ Thiếu truyền chi ấn. Ngoài ra vị trí đóng dấu và màu
mực của hai con dấu trên cũng giống nhau. Đây là con dấu của viên Thống
soái Thiếu Truyền công in trên văn bản thăng chức cho thuộc hạ cấp dưới.
Con dấu này không ghi chức vụ mà lại ghi tước vị, đó là trường hợp ít
thấy trong hệ thống ấn triện của các triều đại phong kiến Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng gặp một số trường hợp ghi tước
vị trong dấu nhưng thường là ghi đầy đủ cả chữ công hoặc hầu chứ không
ghi tắt như ấn dấu trên. Tài liệu ghi việc chức tước thời Tây Sơn không
có, nên việc tra tìm viên Thống soái Thiếu truyền công trên là ai ? Chức
năng nhiệm vụ như thế nào ? v.v… là vấn đề còn bỏ ngỏ. Ở đây chỉ cho ta
thông tin thêm về tên quan chức tướng lĩnh và tước vị đời Cảnh Thịnh
nói riêng và thời Tây Sơn nói chung.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:35

2. Hình dấu trên văn bản Hán Nôm triều Bảo Hưng

Hình dấu cuối cùng trên văn bản Hán Nôm thời Tây Sơn được trình bày dưới
đây có niên đại Bảo Hưng năm thứ 2. Tài liệu này được viết bằng chữ Hán
lối Chân trên giấy bản cũ, dòng đầu đã bị rách hẳn, phần dưới văn bản
cũng bị rách nên có 4 dòng bị mất những chữ cuối. Toàn văn có 7 dòng,
khoảng trên dưới 100 chữ. Dòng niên đại có 9 chữ Bảo Hưng nhị niên nhị
nguyệt thập tứ nhật 寶興二年二月十四日(Ngày 14 tháng 2 năm Bảo Hưng thứ 2
[1802]). Dưới chữ niên đại là một hình dấu son hình vuông. Trong dấu là 5
chữ Triện xếp theo bố cục 2 hàng, hàng đầu 3 chữ, hàng 2 có 2 chữ. Bố
cục chữ Triện ở con dấu này chúng tôi ít thấy có trong dấu của các vương
triều trước và sau thời Cảnh Thịnh - Tây Sơn. Năm chữ Triện trong dấu
là Đại tư mã chi ấn (大司馬之印) (ấn của chức Đại Tư mã).

Chính văn có hình 4 dấu Kiềm cỡ nhỏ và 1 dấu Kiềm rất nhỏ, chúng đều có
hình bầu dục. Vị trí 4 dấu Kiềm nhỏ đóng trên chỗ viết tước vị (Tây Lĩnh
hầu), tên địa danh (Thanh Hoa nội), trên 2 chữ “Từ phó” ở cuối văn bản
và trên giữa trang giấy (giáp phùng). Dấu Kiềm rất nhỏ đóng ở chữ cuối
cùng…



Vì văn bản chụp lại rất nhỏ nên các dấu Kiềm trên có kích thước nhỏ, nét
chữ Triện nhỏ và mờ nên việc chân hoá khó khăn. Tuy nhiên qua kính
phóng, ghép nét chữ chúng tôi khẳng định chữ Triện trong dấu Kiềm rất
nhỏ là chữ “Tín” (信). Còn 4 dấu Kiềm nhỏ cũng được khẳng định là đóng ra
từ 1 con dấu và 2 chữ Triện trong dấu là 2 chữ “Tín chương” (信章) xếp
theo bố cục chiều dọc trên xuống dưới. (H. 91)

Nội dung văn bản là lời kêu gọi những dân phiêu tán trước đây vì nạn
binh hỏa nghèo đói phải bỏ ruộng đồng quê quán, nay nên quay về với làng
quê ruộng vườn. Đồng thời hô hào các đinh tráng còn sức đến đầu quân ở
Thanh Hoa nội trấn gắng sức lập công. Hình dấu Đại tư mã chi ấn trên
dòng niên đại chứng tỏ đây là ấn tín của chức Đại Tư mã, một chức vụ lớn
thời Tây Sơn. Qua đối chiếu hình dấu, nội dung văn bản với sách sử
chúng tôi đã tìm được chủ nhân của con dấu này. Sử ghi rằng năm 1801 sau
khi bị mất Phú Xuân, Quang Toản chạy ra Bắc cùng Quang Thùy và các
tướng lĩnh tập trung lực lượng đồng thời ổn định lại tình hình Bắc Hà.
Cuối năm 1801, Quang Toản phong Phan Huy Ích làm Thượng thư bộ Lễ,
Nguyễn Thế Lịch làm Thượng thư bộ Lại và sai Đại Tư mã Nguyễn Văn Tứ hô
hào thu nạp thêm nghĩa binh, lương thảo…[153] Nguyễn Văn Tứ đã gửi văn
bản xuống các địa phương thuộc trấn Thanh Hoa, trên văn bản có đóng dấu
Đại tư mã chi ấn. May mắn là văn bản này còn được cất giữ trong dân gian
không bị tiêu hủy, nó là tài liệu cuối cùng ghi về vương triều Tây Sơn
với niên hiệu cuối cùng Bảo Hưng.

Nguyễn Văn Tứ trước đời Cảnh Thịnh còn giữ chức quan thấp, khi Quang
Toản lên ngôi, một số đại thần tướng lĩnh đã chết như Trần Văn Kỷ… hoặc
bỏ Tây Sơn theo Nguyễn Ánh như Ngô Văn Sở, Lê Chất… Riêng Nguyễn Văn Tứ
có lòng trung, Quang Toản cất nhắc tin dùng cho giúp Quang Thùy coi Bắc
Hà. Sau thăng làm Đại Tư mã trấn giữ Thanh Hóa Cuối đời Bảo Hưng được
Quang Toản phong làm Tứ Quận công. Khi Nguyễn Ánh đánh đến Thanh Hóa,
Nguyễn Văn Tứ chống không nổi thua chạy rồi bị bắt và bị giết.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:35

PHẦN THỨ HAI

ẤN CHUƠNG VIỆT NAM THỜI NGUYỄN (1802-1945)

CHƯƠNG I

KIM NGỌC BẢO TỶ CỦA HOÀNG ĐẾ VÀ ẤN CHƯƠNG TRONG HOÀNG TỘC THỜI NGUYỄN


I. Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế thời Nguyễn

Vương triều Nguyễn bắt đầu từ thời Gia Long Nguyễn Ánh (1802-1820) đến
Hoàng đế cuối cùng Bảo Đại Nguyễn Vĩnh Thụy (1926-1945). Ngôi vị Hoàng
đế đều kế thừa mô hình quân chủ chuyên chế cha truyền con nối của các
nước Đông phương, mà các triều đại phong kiến Việt Nam trước thời Nguyễn
đã thực hiện. Lễ đăng quang nhận kiếm báu, ấn vàng truyền quốc của các
vua Nguyễn diễn ra hết sức trọng thể và mang mầu sắc chính trị rõ rệt.

Hoàng đế Nguyễn cũng như các vua chúa phong kiến Việt Nam trước đó đều
lấy Kim ngọc Bảo Tỷ để biểu thị cho quyền lực tối cao của mình và cả
vương triều. Kim ngọc Bảo Tỷ là những ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa
quốc gia trọng đại. Ấn được làm bằng ngọc gọi là Ngọc Tỷ 玉璽 , ấn được
đúc bằng vàng, bằng bạc gọi là Kim Bảo Tỷ 金寶璽. Có thể nói Bảo Tỷ là báu
vật của quốc gia và tượng trưng cho đế quyền.

1. Giới thiệu các Kim ngọc Bảo Tỷ thời Nguyễn

Theo thống kê tương đối đầy đủ thì có hàng trăm Bảo Tỷ bằng ngọc, bằng
vàng và bạc được làm ra từ thời Nguyễn, do chiến tranh binh hỏa triền
miên nên các hiện vật quí báu đó hầu hết đã bị thất lạc. Hiện nay các cơ
quan chức năng của chúng ta đang giữ vài ba quả ấn vàng là những Bảo Tỷ
của các vua Nguyễn, vì điều kiện khó khăn phức tạp nên chúng tôi không
thể in chụp được. Ở Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và Trung tâm Quản lý di
tích cố đô Huế còn giữ được số ít Bảo ấn, nhưng là những ấn bình thường
với chất liệu bằng đồng, bằng ngà và đá đẹp. Do đó việc giới thiệu Kim
ngọc Bảo Tỷ chúng tôi chỉ căn cứ vào những hình dấu trên văn bản Hán Nôm
còn lưu lại trong Châu bản triều Nguyễn ở Cục Lưu trữ, ở Viện Nghiên
cứu Hán Nôm và trong dân gian. Đồng thời trên cơ sở tài liệu, thư tịch
bằng chữ Hán và các bộ chính sử đã dịch, đặc biệt qua cuốn Cơ mật viện
túc trình[154] chúng tôi tạm hệ thống sơ lược về Kim ngọc Bảo Tỷ thời
Nguyễn.

Bảo Tỷ nhà Nguyễn gồm hai loại chính bằng vàng và bằng ngọc. Các Bảo Tỷ
dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại thì làm bằng đồng dát bạc, bằng
ngà, bằng đá quí và bằng gỗ thơm. Bảo Tỷ cũng như các trọng khí khác của
các vua Nguyễn thường lấy hình rồng và kỳ lân (hai trong tứ linh) làm
biểu tượng. Hình rồng và hình kỳ lân trên mỗi Bảo Tỷ cũng được cách điệu
khác nhau: thế cuốn, thế đứng, thế ngồi, thế đi bay.

Trọng lượng và thể tích của Bảo Tỷ thường lớn hơn nhiều so với các loại
hình dấu khác, nó có thể lớn gấp đôi, gấp ba lần ấn Quan phòng, lớn gấp
năm hoặc gần chục lần Tín ký và Triện. Mặt dấu của Bảo Tỷ thường làm
theo hình vuông, số ít làm theo hình tròn và các hình khác, viền vòng
ngoài chữ Triện hay khắc hình lưỡng long chầu nhật nguyệt, càn khôn.

a. Kim Bảo Tỷ

Trừ một vài ấn được làm từ thời chúa Nguyễn, nói chung các Kim Bảo Tỷ
được làm từ thời Nguyễn sơ (1802-1847), những Bảo Tỷ ở giai đoạn sau là
những Bảo Tỷ làm ra để thay cho cái cũ hoặc dùng về thường sự. Kim Bảo
có niên đại sớm nhất của triều Nguyễn còn giữ lại được đến đời Bảo Đại
là Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo. Kim Bảo này được làm từ
thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). Chính sứ ghi: “Năm Canh Tý (1780)
vua (Nguyễn Ánh) mới theo, lên ngôi vương ở Sài Gòn. Văn thư đưa xuống
gọi là chỉ truyền, sai phái gọi là chỉ sai, dùng ấn Đại Việt quốc Nguyễn
chúa vĩnh trấn chi bảo. Ấn này do Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế chế, nay
dùng làm của báu truyền ngôi”[155]. Hiện nay trên tấm bia đá rất lớn ở
chùa Thiên Mụ (Huế) có khắc hình dấu Kim Bảo này. Đợt công tác tại Huế
năm 1989 chúng tôi đã in rập được nguyên bản hình dấu Kim Bảo nói trên.
Dấu hình vuông, kích thước 11x11cm viền ngoài để rộng 1,1cm, 9 chữ Triện
bên trong xếp thành 3 hàng dọc, mỗi hàng 3 chữ. Lối Triện tự viết theo
kiểu thời Lê - Trịnh, nét chữ vuông vức uốn nhiều nét. Đó là 9 chữ Đại
Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo 大越國阮主永鎭之寶 (Bảo của chúa Nguyễn
nước Đại Việt trấn giữ lâu dài). Hình dấu khắc đè lên dòng chữ ghi niên
đại lập bia Vĩnh Thịnh thập nhất niên tuế thứ ất mùi sơ đông chi cát đán
lập 永盛十一年歲次乙未初冬之吉旦立. Cách dưới chữ “lập” 3cm là hình một dấu hình tròn
có đường kính 6,8cm khắc hình lưỡng long chầu vào một dòng chữ Triện ở
giữa. Đó là 4 chữ Hiệp nhất chúa nhân 協一主人 (Bậc chúa nhân thu hợp tất
cả)[156]. Như vậy dấu Bảo ấn Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo
cùng 3 dấu khác trên bia được khắc vào ngày tốt đầu đông năm Ất Mùi
niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) nhà Lê. Niên đại của dấu cùng với
niên đại của tấm bia, chúa Nguyễn Phức Chu đã cho lập bia đá, khắc chữ
và dấu[157]. (H. 92, 93, 94)

Kim Bảo Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo là của báu truyền
ngôi của các chúa Nguyễn kế vị, nên được các vua Nguyễn giữ gìn rất cẩn
trọng.

Khi mới lên ngôi Hoàng đế, Gia Long đã ra ngay sắc lệnh dùng vàng để đúc
ấn Bảo Tỷ. Sử cũ ghi lại “Đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta, dựng
thành quy chế, lập ra pháp luật, trăm chế độ đều mới cả, ra sắc lệnh đúc
các loại ấn như Chế cáo chi bảo, Ngự tiền chi bảo, Mệnh đức chi
bảo…“[158].





Tiếp xúc với những văn bản chữ Hán tập 2, 3, 4, 5 - Gia Long trong Châu
bản triều Nguyễn, chúng tôi thấy một số hình dấu trên như Quốc gia tín
bảo, Ngự tiền chi bảo, ngoài ra còn những dấu Bảo Tỷ khác mà trong các
bộ chính sử của ta không thấy ghi như dấu Văn lý mật sát, Thú tín thiên
hạ văn vũ quyền hành.

Theo chỉ dụ của Hoàng đế thì mỗi một Bảo Tỷ đều theo cách sử dụng riêng
và phải dùng một loại văn thư chỉ định. Dưới đây xin liệt kê những Kim
Bảo Tỷ có từ thời Gia Long.

* Chế cáo chi bảo 制誥之寶: Bằng vàng. Dùng đóng trên tờ huân giới, sắc,
chiếu lệnh sai phái các quan văn võ cùng chiếu văn thăng giáp cấp bậc,
răn dạy quan tướng.

* Quốc gia tín bảo 國家信寶: Bằng vàng. Dùng đóng trên các văn kiện triệu
tập các tướng lĩnh, phát động binh sĩ trưng binh nhập ngũ.

* Sắc chính vạn dân chi bảo 敕正萬民之寶: Bằng vàng. Đóng trên các đạo sắc
văn, khuyến giới dân chúng tứ phương, nêu gương các nhân vật tiết nghĩa
hiếu hạnh.

* Thảo tội an dân chi bảo 討罪安民之寶: Bằng vàng. Dùng đóng trên tờ chiếu văn
sai phái các tướng mang quân đi đánh dẹp giặc giã trong và ngoài nước.

* Ngự tiền chi bảo 御前之寶: Đúc hai chiếc một vàng một bạc. Dùng đóng trên
các tờ dụ, chương sớ, sổ sách thuộc về thường sự.

* Mệnh đức chi bảo 命德之寶: Bằng vàng. Đóng trên các bản văn ban thưởng các
quan viên có công lao lớn, có thành tích đặc biệt hay trung thành.

* Văn lý mật sát 文理密察: Đúc bằng bạc. Đóng trên những bản dụ, chỉ, chương
sớ, sổ sách thuộc về thường sự. Bảo Văn lý mật sát chức năng như một
Kiềm Bảo trong loại hình Kim Ngọc Bảo Tỷ.

* Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành 守信天下文武權行: Đúc hai chiếc một vàng,
một bạc. Dùng đóng trên đầu tờ giấy trong các đạo chiếu văn.

* Phong tặng chi bảo 封贈之寶: Đúc bằng vàng. Dùng đóng trên các đạo sắc,
cáo phong tặng các quan văn võ, công thần hay thần nhân.

* Trị lịch minh thời chi bảo 治曆明時之寶: Đúc bằng bạc. Dùng đóng trên các
bản lịch, bản chính sóc.

Xin giới thiệu dấu Chế cáo chi bảo in trên văn bản Hán Nôm. Đây là một
bản sắc phong kích thước 3,4x5,4cm, chữ Hán viết chân[159]. Nội dung văn
bản là bản sắc phong chức và tước cho một người Pháp tên là Michel Đức
Chaigneau có công lao giúp Gia Long Nguyễn Ánh trong cuộc chiến chống
Tây Sơn. Ông được Gia Long phong chức Khâm sai thuộc nội Cai cơ, Chánh
quản hai đội Kiên thủy tàu đồng Long Phi thuộc Trung quân, tước Thắng
Toàn hầu với tên Việt Nam là Nguyễn Văn Thắng. Dòng niên đại ghi trên
văn bản có 11 chữ Gia Long nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập ngũ
nhật (Ngày 25 tháng 11 niên hiệu đầu Gia Long [1802]). Hình một dấu son
in dưới chữ “Long”. Dấu hình vuông kích thước 10,5x10,5cm, bốn chữ Triện
trong dấu xếp theo hai hàng, nét khắc ngắn đơn giản. Đó là 4 chữ Chế
cáo chi bảo 制誥之寶[160]. Hai chữ cố sắc 故敕 ở cuối phần chính văn càng
khẳng định đây là bản sắc phong cho quan tướng cao cấp. Văn bản này đã
cho ta biết Kim Bảo Chế cáo chi bảo được làm ra trước Kim Bảo Phong tặng
chi bảo và Sắc mệnh chi bảo (thời Minh Mệnh) là những Bảo ấn chuyên
dùng đóng trên sắc phong thời Nguyễn. (H. 95)

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:35

Về dấu Quốc gia chi bảo còn chứng tích trong tờ chiếu đời Gia Long và
trong Châu bản triều Nguyễn dưới đây. Bài Tờ chiếu của vua Gia Long
phong cho Nguyễn Du tước Du Đức hầu trong Tạp chí Hán Nôm số 3-1997 có
giới thiệu bản sao tờ chiếu của vua Gia Long phong chức Hữu Tham tri bộ
Lễ và tước Du Đức hầu cho Nguyễn Du, tác giả cho rằng dòng niên đại ghi
trong tờ chiếu là Gia Long thập tứ niên ngũ nguyệt thập cửu nhật tức
ngày 19 tháng 5 năm Ất Hợi niên hiệu Gia Long thứ 14 (1815). Bức ảnh
chụp tờ chiếu của vua Gia Long có ghi xuất xứ, khổ 5,5x6cm cho thấy phần
trên và bên trái văn bản đã bị rách, giấy ố nhăn nhưng toàn văn chữ Hán
dòng niên đại và hình con dấu còn nguyên tuy có bị nhòe, mờ. Dấu hình
vuông mép trên in bên dưới chữ Long, mép dưới in trên chữ thập. Bên
trong viền dấu là bốn chữ xếp theo chiều dọc, hai chữ ở hàng hai tuy có
bị nhòe mờ gần hết nhưng chúng tôi vẫn khẳng định được đây là 4 chữ Quốc
gia tín bảo 國家信寶[161].

Kim bảo Quốc gia tín bảo được làm từ năm Gia Long thứ 1 (1802), giai
đoạn này mọi quy chế chưa ổn định, số lượng Kim Bảo rất ít nên Quốc gia
tín bảo còn được dùng đóng trên một số loại văn kiện hành chính quan
trọng khác nhau. Dấu Quốc gia tín bảo in trên tờ chiếu này đã chứng minh
cho chức năng sử dụng của nó trên chiếu thăng chức tước cho quan tướng
chứ không chỉ riêng có chức năng dùng đóng trên văn kiện “Trưng phát
quân lính tuyên triệu tướng súy” như trong lời dụ của vua Minh Mệnh năm
thứ 9 (1828) mà chính sử đã ghi[162]. Sau cải cách đời Minh Mệnh đất
nước đã tương đối ổn định, việc binh nhung thường dùng ấn Duệ vũ chi tỷ
曳武之璽. Quốc gia tín bảo ít được dùng nhưng vẫn được giữ gìn đến đời vua
Bảo Đại. (H. 96)



Xem xét Châu bản triều Nguyễn đời Gia Long chúng tôi đã tìm thấy dấu
Quốc gia tín bảo ở dòng ghi niên hiệu, đồng thời cũng đã đo được chính
xác kích thước của dấu và đồ họa lại rõ chữ hình dấu mà ở văn bản trên
bị mờ nhòe. Dấu hình vuông kích thước 11,3x11,3cm, viền ngoài để cỡ 1cm.
Bốn chữ Triện Quốc gia tín bảo 國家信寶 khắc theo khuôn hình vuông viền
ngoài để cỡ 1cm, nét chữ ngắn, dễ đọc. (H. 97)



Xin giới thiệu tiếp một số hình dấu Kim Bảo hiện còn lưu giữ trong Châu
bản. Kim Bảo Ngự tiền chi bảo 御前之寶 được làm hai cái một bằng vàng, một
bằng bạc, núm ấn đều được đúc hình rồng. Ấn bằng vàng mặt dấu đúc theo
hình bầu dục, ấn bằng bạc mặt dấu đúc theo hình lục giác. Hai Kim Bảo
này về chất liệu và hình thể có khác nhau, nhưng tự dạng trong dấu có
cùng một kiểu. Dấu Ngự tiền chi bảo bằng vàng hình bầu dục có kích thước
2,5x3cm, viền ngoài cỡ 0,5cm và có khắc họa tiết. Điều đặc biệt ở đây
là tất cả các Kim Ngọc Bảo Tỷ tự dạng dấu đều khắc theo kiểu chữ Triện,
riêng ấn Ngự tiền chi bảo và một vài ấn nữa, mặt dấu khắc theo lối Chân
thư, nét chữ khắc đậm nhạt như chữ viết trên giấy. Vị trí đóng dấu trên
các văn bản, nếu ở những chữ bản phiến, phiếu, chỉ dụ thì dấu Ngự tiền
chi bảo được đóng ở phần trên dòng ghi niên hiệu năm tháng; nếu ở những
bản sớ hay tấu tập thì dấu Ngự tiền chi bảo được đóng trên mặt chữ “Khâm
thử” ở cuối bản. (H.98)

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:36

Kim Bảo Văn lý mật sát 文理密察 được đúc bằng vàng, đóng vai trò một Kiềm
Bảo trong đội ngũ Kim Ngọc Bảo Tỷ. Mặt dấu hình vuông, kích thước
2,6x2,6cm, bốn chữ Triện xếp hai hàng, nét chữ khắc vuông vức. Vị trí
đóng ở những chỗ tẩy xóa, sửa chữa, viết thêm và những nơi giáp trang.
Trong các tập Châu bản triều Nguyễn giai đoạn Nguyễn sơ xuất hiện rất
nhiều hình dấu Văn lý mật sát, còn các tập từ thời Tự Đức trở đi ít thấy
xuất hiện. (H. 99)



Kim Bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành 守信天下文武權行 có từ thời chúa
Nguyễn được coi là ấn truyền quốc, đương thời và về sau gọi là Tiểu long
bảo 小龍寶. Kim Bảo này được đúc làm hai chiếc một bằng vàng và một bằng
bạc có hình thức như nhau, với núm hình con rồng thế như bay. Dấu có
hình chữ nhật đứng cỡ 3,4x4,9cm, viền ngoài để rộng 0,6cm và khắc hai
con rồng nhỏ nét mảnh (Có lẽ vì ấn có hình thể như vậy nên triều Nguyễn
gọi là Tiểu long bảo). Chữ Triện xếp theo chiều dọc 2 hàng, mỗi hàng 4
chữ, đó là 8 chữ Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành. (H. 100)



Bảo ấn Tiểu long bảo dùng đóng trên đầu tờ giấy trong những đạo chiếu
văn, đến đời Minh Mệnh thứ 9 (1828) nhà vua thấy ý nghĩa của dấu ấn này
chỉ nặng về hình thức nên bỏ không dùng. Lời dụ của Minh Mệnh đã ghi
“Còn như các chiếu văn việc cũ dùng ấn Tiểu long đóng trên đầu tờ giấy
đều phải đình chỉ…“[163].

Khi lên ngôi với ước vọng xây dựng đất nước thành một quốc gia hùng
cường vua Minh Mệnh đã tiến hành công cuộc cải cách hành chính từ trung
ương đến địa phương, trong đó vấn đề hoàn thiện các loại Bảo Tỷ, ấn
triện được Minh Mệnh đặc biệt chú trọng. Sau này khi Minh Mệnh đổi quốc
hiệu là Đại Nam để sánh với nhà Đại Thanh Trung Quốc thì hai chữ “Đại
Nam” từ đó được khắc trên một số Bảo Tỷ.

Ngay từ năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) nhà vua đã cho đúc Kim Bảo Hoàng đế
chi bảo bằng vàng mười, hình thể hai tầng, núm hình rồng ngồi xổm, vuông
3 tấc 2 phân, dày 5 phân. Lại dùng vàng tám tuổi đúc Kim Bảo Minh Mệnh
thần hàn hình thể cũng làm núm hình rồng.

Đến Minh Mệnh thứ 8 (1827) bộ Lễ cùng phủ Nội vụ, ty Vũ khố nhận chỉ dụ
đúc 5 quả Kim Bảo bằng vàng: Bảo Sắc mệnh chi bảo hình thể hai đài chồng
núm chạm hình rồng ngồi xổm, vuông 3 tấc 2 phân dày 2 ly. Bảo Hoàng đế
tôn thân chi bảo vuông 3 tấc 2 phân dày 3 phân 6 ly. Kim Bảo Trị lịch
minh thời chi bảo bằng vàng, vuông 2 tấc 6 phân 1 ly để thay cho quả
bằng bạc làm từ thời Gia Long.

Sử cũ ghi lại ý thức của vua Minh Mệnh trong việc làm và dùng ấn Bảo Tỷ,
chi tiết đến cả chữ kiêng húy trong dấu. Lời dụ năm Minh Mệnh thứ 9
(1828) chép rằng “Ấn báu của Nhà nước là để làm việc tuyên bố mệnh lệnh,
chỉ bảo rõ ràng những việc phải làm, về khí cụ thì cực kỳ quan trọng,
về điển lệ thì cực kỳ to lớn… đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta định
chế độ lập pháp luật, trăm việc đều mới, nhiều lần ban sắc lấy vàng đúc
các quả ấn như là ấn Chế cáo chi bảo, ấn Quốc gia tín bảo, ấn Sắc chính
vạn dân chi bảo, ấn Thảo tội an dân chi bảo, và ấn Mệnh đức chi bảo. Từ
trước đến nay đã kính thi hành, song là lúc mới làm chưa được mười phần
chu đáo. Ta vâng nối ngôi báu, may gặp thái bình, những mong làm cho
quy mô trước thêm rực rỡ, để tỏ rõ cho đời sau, cũng dùng vàng tốt đúc
thêm ấn Hoàng đế chi bảo, Sắc mệnh chi bảo và Trị lịch minh thời chi
bảo. Chữ “Thời” là trọng nhưng phải viết chữ “Nhật” sang bên phải và chữ
“Tự” sang bên trái, hiện đã lần lượt đúc xong”[164].

Việc định lệ dùng ấn cũng được làm ngay khi đã hoàn thành việc đúc ấn,
mỗi Bảo Tỷ được đúc ra cũng đều có cách sử dụng riêng và dùng cho một
loại văn thư chỉ định, những định lệ này thực hiện theo chỉ dụ của vua
Minh Mệnh ban năm 1828. Tiếp theo xin giới thiệu những Kim Bảo Tỷ được
đúc bằng vàng có từ đời Minh Mệnh.

* Hoàng đế tôn thân chi bảo 皇帝尊親之寶: Dùng đóng trên các bản văn tiến dâng
húy hiệu hay thụy hiệu.

* Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶: Dùng đóng trên các sắc cáo cho các quan văn võ
công thần, phong tặng các nhân thần.

* Hoàng đế chi bảo 皇帝之寶: Dùng đóng trên các bản về khánh tiết ban ơn,
đại xá thiên hạ, ban sắc thư với ngoại quốc, khi đi tuần thú các địa
phương, và trên các bản cáo dụ ban xuống cho các bậc huân thần và quan
lại cao cấp.

* Khâm văn chi tỷ 欽文之璽: Đóng trên các văn kiện về vấn đề văn hóa, dựng
việc học, mở khoa thi, cầu hiền sĩ, làm sách, mọi việc về bên văn.

* Duệ vũ chi tỷ 曳武之璽: Đóng trên các văn kiện liên quan đến việc binh
nhung, cáo văn cho binh sĩ, huấn luyện quân binh, mở khoa võ thí, những
việc võ bị.

* Trị lịch minh thời chi bảo 治曆明時之寶: Được đúc bằng vàng thay cho ấn cũ
bằng bạc. (Chữ “Thời” viết kiêng húy). Dùng đóng trên các bản lịch, bản
chính sóc.

* Đại Nam hiệp kỷ lịch chi bảo 大南協紀曆之寶, như kim bảo Trị lịch minh thời
chi bảo dùng đóng trên các bản lịch, bản chính sóc.

* Minh Mệnh thần hàn 明命宸翰: Đóng trên những bài văn thơ vua làm, chữ son
vua viết. Những khi trong cung có thưởng phạt, ban hành các chỉ dụ đều
mượn dấu Minh Mệnh thần hàn.

Năm 1828 sau khi đúc ấn Tề gia chi bảo, Minh Mệnh lại cho đúc hai quả ấn
vàng đều khắc chữ Minh Mệnh đồ thư, 1 quả hình vuông 1 tấc 2 phân 3 ly
cao 9 phân rưỡi, một quả hình tròn đường kính 1 tấc dày 2 phân 3 ly cao 8
phân 1 ly. Hai ấn này đều khắc núm hình rồng.

Trong số những Bảo ấn trên thì Hoàng đế tôn thân chi bảo còn giữ được
chứng tích hiện vật. Chính sử đã ghi về việc chế tác và sử dụng Bảo ấn
này: “Minh Mạng năm thứ 8, xuống chỉ cho bộ Lễ chọn ngày tốt, hội đồng
với phủ Nội vụ, ty Vũ khố kính cẩn đúc một quả Hoàng đế tôn thân chi
bảo, vuông 3 tấc 2 phân, dày 3 phân 6 ly… núm chạm rồng ngồi xổm… làm
bằng vàng mười”[165].

“Ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo núm hình con rồng cuốn, phàm có việc kính
cẩn dâng húy hiệu thì đóng ấn này…”[166].
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:36

Năm 1994, từ tư liệu gián tiếp ở Huế chúng tôi có được bản chụp hiện vật
và hình dấu của Hoàng đế tôn thân chi bảo đời Minh Mệnh. Ảnh cho thấy
rõ núm ấn là hình rồng cuốn, đầu rồng ngắn, sừng có ngạnh. Thân rồng uốn
theo hình số 8 quanh đầu rồng, thế vươn cổ ngẩng đầu. Mặt trên ấn hình
vuông, có hàng chữ Hán khắc hai bên chân rồng. Bên phải là 9 chữ Minh
Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo 明命八年十月吉日造 (ngày tốt tháng 10 năm
Minh Mệnh thứ 8 [1827]) Bên trái là 14 chữ Thập tuế kim trọng nhị bách
tam thập tứ lượng tứ tiền tam phân 拾歲金重貳百叁拾肆兩肆錢叁分 (vàng mười tuổi nặng
234 lạng 4 tiền 3 phân). Mặt đế ấn hình vuông, không để viền ngoài, 6
chữ Triện khắc chìm kiểu “Bạch văn” xếp theo 3 hàng, nét chữ khắc ra gần
mép ấn. Đây là hiện tượng ít thấy trong Kim Ngọc Bảo Tỷ và các ấn
chương quan trọng khác. Triện văn ở đây là 6 chữ Hoàng đế tôn thân chi
bảo 皇帝尊親之寶. (H. 101 a,b,c,d)

Hiện nay Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đang
lưu giữ một chiếc ấn giống Kim Bảo Hoàng đế tôn thân chi bảo. Năm 1995
hai nhà Bảo tàng học Đặng Văn Thắng và Phạm Hữu Công đã đăng bài Về
chiếc ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo trong Những phát hiện mới về khảo cổ
học 1995. Dưới góc độ khảo cổ học hai tác giả đã mô tả chi tiết hình
thức quả ấn này và so sánh với quả ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo được ghi
trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Từ đó có những kết luận về sự
khác nhau của hai quả ấn cùng tên này. Quả ấn hiện còn ở Viện Bảo tàng
Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh có kích thước nhỏ hơn, chất
liệu bằng ngà voi chỉ nặng 275 gram chứ không phải 234 lạng vàng mười
tuổi (8,8452 kg). Đồng thời hai tác giả cho rằng quả ấn ngà có thể được
tái tạo ở thời Tự Đức khoảng thập kỷ 60 của thế kỷ XIX.



Năm 1998 chúng tôi đã vào Nam trực tiếp xem xét chụp ảnh ấn Hoàng đế tôn
thân chi bảo tại Bảo tàng Lịch sử tại thành phố Hồ Chí Minh. Đúng như
mô tả của hai tác giả Đặng Văn Thắng và Phạm Hữu Công. Ấn có chất liệu
bằng ngà, thân ấn là một khối hình trụ vuông cạnh 6,1cm. Núm ấn là hình
rồng cuốn (ngồi xổm), cao từ mặt ấn đến đầu rồng 11,1cm, từ mặt ấn đến
đuôi rồng 11,2cm. Phần bệ rồng có kích thước 4,6x4,4x0,5cm. Từ bệ lên
đầu rồng cao 3,6cm, từ bệ lên đuôi rồng cao 3,7cm, từ đầu rồng đến đuôi
dài 5,1cm. Đầu rồng ngắn, trán vồ, mũi hỉnh, mắt lồi, sừng có một ngạnh.
Miệng rồng ngậm ngọc, mở thấy 2 răng nanh hàm trên và 12 răng nanh hàm
dưới. Thân rồng uốn lượn hình số 8 bẻ cong lên, đuôi cặp bên cổ trái,
thân có vẩy cá, kỳ nổi răng cưa, cổ có 6 khoang. Bốn chân rồng mỗi chân
có 4 móng, đuôi rồng xoắn có 11 tia. Ấn gồm bốn phần gắn lại, mặt ấn có 4
ốc vít nhỏ ở 4 góc trong phần khắc lõm gắn vào thân ấn, một ốc vít nữa
đặt ở giữa cạnh phía đuôi rồng. Các ốc vít này được bắt lõm xuống gắn
chặt mặt ấn và thân ấn. Phần rồng và bệ được bắt dính liền trên mặt ấn.

Mặt trên ấn hình hơi chữ nhật có kích thước 5,8x6,0x0,4cm, cao 6,1cm dày
bằng mặt đế ấn. Trên có khắc hai hàng chữ Hán, nhưng chữ được khắc
ngược, bên phải là 9 chữ Minh Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo
(Ngày tốt tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 8 [1827]). Bên trái là 10 chữ Thập
tuế kim trọng nhị bách tam thập tứ lượng (Vàng mười tuổi nặng 234 lạng).

Mặt đế ấn hình hơi chữ nhật kích thước 5,8x6,0x0,4cm bằng cỡ mặt trên
ấn. Viền ngoài đế cỡ 0,6cm. Văn khắc bên trong là 6 chữ Triện khắc ngược
xếp theo ba hàng dọc từ trái sang phải, là 6 chữ Hoàng đế tôn thân chi
bảo. Hình dấu có hình thức kích cỡ giống như mặt đế ấn với 6 chữ Triện
Hoàng đế tôn thân chi bảo 皇帝尊親之寶 xếp từ phải sang trái[167]. (H.102
a,b,c,d)



So sánh ảnh chụp của hai quả ấn cùng tên trên, chúng tôi thấy có nhiều
điềm khác biệt ngoài ý kiến của hai nhà Bảo tàng học đã nêu ra về kích
thước, trọng lượng và chất liệu quả ấn.

Về núm ấn hình rồng ở quả ấn đời Minh Mệnh cổ rồng dài hơn; chiều uốn
của bờm và vây, thế cuốn của thân rồng và thế móng hai chân sau khác với
hình rồng ở quả ấn ở Báo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí
Minh.

Hàng chữ bên trái khắc trên mặt ấn đời Minh Mệnh có 14 chữ là Thập tuế
kim trọng nhị bách tam thập tứ lượng tứ tiền tam phân khác với hàng chữ
trên ấn ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chỉ có 10 chữ.

Mặt đế ấn đời Minh Mệnh không để viền ngoài (rìa cạnh), văn khắc chìm
khác với ấn ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam để rìa cạnh 0,6cm và văn khắc
chữ nổi. 4 chữ Triện Hoàng đế tôn thân 皇帝尊親 ở hai quả ấn này có nét chữ
cách điệu khác nhau rõ rệt.

Chất liệu ấn đời Minh Mệnh bằng vàng mười nặng 234 lạng 4 tiền 3 phân
khác với ấn kia có chất liệu bằng ngà và chỉ nặng 275 gram. Kích thước
quả ấn vàng lớn hơn quả ấn ngà.

Về niên đại của ấn ngà Hoàng đế tôn thân chi bảo chúng tôi cho rằng nó
có thể được tái tạo sau biến cố 1885 khi kinh đô Huế thất thủ, điều này
có thể thấy rõ hơn ở cuối tiểu mục này.

Những Kim Bảo Tỷ được đúc ở đời Minh Mệnh, ngoài những cái mới dùng cho
các loại văn thư riêng biệt mới mẻ, ở đây còn có những Kim Bảo Tỷ được
làm ra dùng thay cho Kim Bảo cũ, như Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo được đúc
để thay cho Kim Bảo Phong tặng chi bảo. Chính sử đã ghi lại vào năm Minh
Mệnh thứ 1 (1820) “Người Thanh Hoa là Trần Hữu Bảo đào được một cái ấn
bằng đồng có chữ Sắc mệnh chi bảo (Sau lưng khắc Nguyên Hòa ngũ niên
tạo, Nguyên Hòa là niên hiệu của vua Lê Trang Tông)[168].

Người Quảng Đức là Hồ Quang đào được một cái ấn ngọc, trong có chữ Trung
hòa vị dục. Đều do quan địa phương dâng lên. Vua sai thưởng bạc theo
bực khác nhau”[169]. 8 năm sau (1828) vua Minh Mệnh cho đúc Kim Bảo Sắc
mệnh chi bảo bằng vàng để thay cho Phong tặng chi bảo. Lời dụ của Minh
Mệnh năm 1828 về việc này: “Từ trước đến nay phong tặng các thần kỳ cùng
văn võ quan phẩm, thì đều dùng ấn Phong tặng chi bảo. Nay mới đúc ấn
Sắc mệnh chi bảo, từ nay phàm có ban cấp cho văn võ phong tặng cho thần
dân đều cho dùng…“[170].

Xem xét một loại sắc phong, chỉ có một loại dấu Phong tặng chi bảo. Xin
giới thiệu dấu Phong tặng chi bảo trên sắc phong thần ở thôn Đoài xã Phù
Xá huyện Kim Anh tỉnh Bắc Ninh. Dấu hình vuông kích thước 10,5x10,5cm,
viền ngoài để đậm 1,3cm. 4 chữ Triện Phong tặng chi bảo 封贈之寶 xếp theo
hình vuông. Dấu đóng đè trên đoạn năm tháng của dòng niên hiệu Minh Mệnh
nhị niên thất nguyệt nhị thập nhất nhật 明命二年七月二十一日. Như vậy dấu Phong
tặng chi bảo được đóng vào ngày 21 tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821).
(H. 103)



Từ năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) trở đi, trên sắc phong không thấy hình dấu
Phong tặng chi bảo nữa, thay thế nó là dấu Sắc mệnh chi bảo có kích
thước lớn hơn. Xin giới thiệu tiếp hình dấu này trên sắc phong thần cũng
ở thôn Đoài xã Phù Xá huyện Kim Anh tỉnh Bắc Ninh. Dấu có hình vuông
kích thước 13,5x13,5cm. Viền ngoài để cỡ 1,3cm, 4 chữ Triện Sắc mệnh chi
bảo 敕命之寶 khắc theo hình vuông, dấu đóng ở đoạn năm tháng dòng ghi niên
hiệu Tự Đức tam niên thất nguyệt sơ tam nhật 嗣德叁年柒月初叁日. Dấu Sắc mệnh chi
bảo này được đóng vào ngày 3 tháng 7 năm Tự Đức thứ 3 (1849). (H.104)

So sánh dấu Sắc mệnh chi bảo thời Lê, chúng tôi thấy dấu thời Lê có kích
thước nhỏ hơn, cỡ 11,5x11,5cm, viền ngoài để khuôn nhỏ hơn cỡ 0,8cm,
nét chữ cũng nhỏ hơn một chút. Dấu được đóng trên đoạn ngày tháng dòng
ghi niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên lục nguyệt nhị thập nhị nhật, tức
là ngày 22 tháng 6 năm Chiêu Thống thứ 1 (1788)[171]. (H. 105)

Theo tài liệu cung cấp ở Huế chúng tôi được biết ấn Sắc mệnh chi bảo
triều Nguyễn nặng tới 395 lượng vàng, một võ quan khỏe mạnh rất vất vả
vì sức nặng của ấn khi phụ giúp việc đóng dấu[172]. Những hình dấu Sắc
mệnh chi bảo chứng minh điều đó, đây là hình dấu có kích thước lớn nhất
trong tất cả dấu ấn thời Nguyễn.




Quy định dùng Sắc mệnh chi bảo trong chính sử còn ghi thêm: “Người quyền
thự chức hàm tuy chưa được cấp sắc, nhưng đối với người tầm thường sai
phái có khác biệt thì chiếu văn, thăng chức quyền thự cũng chuẩn cho
dùng ấn sắc mệnh”[173].

Về dấu Minh Mệnh thần hàn 明命宸翰 được khắc in trên Kim sách chép Đế hệ thi
và 20 chữ thuộc bộ nhật (日). Dấu có hình hơi vuông, viền ngoài có 2
dòng, 4 chữ Triện khắc nét ngắn. Dấu có vị trí gần dòng ghi niên hiệu
Minh Mệnh thứ 4 (1823). (H. 106)



Ta còn thấy dấu Minh Mệnh thần hàn in dưới dấu Thể thiên hành kiện 體天行键
trong sách in đời Minh Mệnh. (H.107)



Kim Bảo Tỷ nói chung đáng lưu ý là những trường hợp vì kiêng tên húy nên
Bảo đã sử dụng rồi lại phải đúc ấn mới thay thế. Như Bảo Trị lịch minh
thời chi bảo đời Gia Long đúc bằng bạc dùng cho đến năm Minh Mệnh thứ 9
(1828) đổi đúc lại bằng vàng, khắc lại chữ “Thời” vì kiêng húy cho sử
dụng, còn Kim Bảo cũ bằng bạc không được sử dụng nữa.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:37

b. Ngọc Tỷ

Ngọc Tỷ là loại ấn được làm bằng ngọc với các mầu loại khác nhau, thường
là bạch ngọc và bích ngọc. Ngọc Tỷ thời Nguyễn chủ yếu được làm ở đời
Minh Mệnh và Thiệu Trị, vì chất liệu quí hiếm nên số lượng Ngọc Tỷ ít
hơn Kim Bảo Tỷ nhiều lần.

Không chỉ những hiện vật mà tư liệu Hán Nôm có đóng dấu Ngọc Tỷ thời
Nguyễn cho đến nay còn lại quá ít, kho Châu bản triều Nguyễn phong phú
đa dạng như vậy mà cũng không có hình dấu Ngọc Tỷ nào. Do đó việc giới
thiệu Ngọc Tỷ chúng tôi chỉ căn cứ trên các bộ chính sử, một số tư liệu
có ghi về Kim ngọc Bảo Tỷ và chủ yếu dựa vào cuốn Cơ mật viện túc trình,
và bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.

Ngọc Tỷ được coi là cổ nhất thời Nguyễn mà thực chất nó được làm từ thời
vương triều trước là Vạn thọ vô cương 萬壽無彊. Đây là Ngọc Tỷ rất đẹp sắc
xanh biếc, mặt dấu khắc 4 chữ Triện Vạn thọ vô cương. Ngọc Tỷ này do một
người đào đất đụng phải đem dâng vua, Minh Mệnh cùng triều thần mừng
rỡ, lập tức xuống chỉ cho dùng Ngọc Tỷ này đóng trên các ân chiếu cáo
văn khánh tiết trong dịp lễ Vạn thọ, đồng thời cũng là nhân dịp lễ mừng
thọ của nhà vua.

Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) nhà vua cho chạm khắc ấn ngọc khác bằng ngọc
trắng với hình thể núm cầm hình hai con rồng, cao 9 phân vuông 2 tấc 1
phân, dày 1 tấc, mặt dấu khắc 4 chữ Triện Hoàng đế chi tỷ 皇帝之璽 (Ngọc Tỷ
của Hoàng đế). Ngọc Tỷ này dùng đóng trên các chiếu văn ban trong dịp
cải niên hiệu, đại xá thiên hạ, ban ơn nhân ngày lễ lớn cho toàn dân và
ra ơn ban sắc thư cho ấn quan trong kinh ngoài tỉnh.

Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) nhân lại có ngọc trắng, Minh Mệnh sai làm
Ngọc Tỷ, núm chạm hình con rồng cuốn, cao 1 tấc 7 phân 1 ly, vuông 2 tấc
3 phân, dày 3 phân. Mặt dấu khắc 4 chữ Triện Hành tại chi tỷ 行在之璽 (Ngọc
tỷ của nơi hành tại vua) dùng đóng trên các bài huấn dụ hoặc sắc thư
trong thời kỳ tuần thú các địa phương ở hành tại của vua.

Vào năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) khi đổi quốc hiệu là “Đại Nam” lại được
ngọc biếc quý vua Minh Mệnh xuống dụ cho khắc ấn ngọc, núm chạm hình
rồng, cao 2 tấc 4 phân vuông 2 tấc 9 phân, dày 1 tấc 2 phân 3 ly. Mặt
dấu khắc 6 chữ Triện Đại Nam thiên tử chi tỷ 大南天子之璽 (Ngọc Tỷ của Thiên
tử nước Đại Nam). Ngọc Tỷ này dùng đóng trên các văn kiện ban sắc thư
cho người nước ngoài, và khi vua đi tuần thú xem xét các địa phương.

Năm 1841 Thiệu Trị lên ngôi, tuân thủ triệt để quy chế về Kim Ngọc Bảo
Tỷ của vua cha. Ngay năm này vào mùa đông tháng 11 nhà vua sai đúc Kim
Bảo bằng vàng mười, cao 1 tấc 4 ly, dày 3 phân 1 ly, núm ấn đúc hình
rồng cuốn, khuôn dấu hình tròn. Đường kính dấu 1 tấc 4 ly, khắc 4 chữ
Triện Thiệu trị thần hàn 紹治宸翰 (Văn từ ở cung vua Thiệu Trị). Kim Bảo này
dùng đóng trên các chỉ dụ của vua viết bằng son.

Ba năm sau tức năm 1844, nhân có hai viên ngọc biếu Thiệu Trị cho chạm
khắc 2 Ngọc Tỷ đều núm hình 2 con rồng cuốn. Quả lớn cao hai tấc dầy 1
tấc, dấu hình vuông 2 tấc 4 phân bên trong khắc 6 chữ Triện Đại Nam
hoàng đế chi tỷ 大南皇帝之璽. Ngọc Tỷ này dùng đóng trên các văn kiện ban sắc
thư cho người nước ngoài và khi vua đi tuần thú xem xét các địa phương.

Quả thứ hai nhỏ hơn, cao 1 tấc 6 phân 5 ly, dầy 8 phân, dấu vuông 1 tấc 8
phân 9 ly, khắc 4 chữ Triện Thần hàn chi tỷ 宸翰之璽 y như Kim Bảo Thiệu
Trị thần hàn ở trên, những văn bản và chỉ dụ của vua viết bằng chữ son
đều dùng Ngọc Tỷ này.

Ngọc Tỷ quí và lớn nhất triều Nguyễn là Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh
truyền quốc tỷ 大南受天永命傳國璽. Sử cũ ghi lại năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) có
người dâng vua một viên ngọc cực lớn, nó là sản vật của núi ngọc huyện
Hòa Điền vùng đất Quảng. Thiệu Trị mừng rỡ sai quan Hữu tư giũa thành
Ngọc Tỷ, một năm sau thì xong. Núm ấn làm theo hình rồng uốn khúc, cao
hơn 3 tấc 2 phân, vuông 2 tấc 1 phân, tổng số vuông cao làm thành quy
tắc tượng trưng về thiên thành địa bình. Sau đó việc khắc chữ Triện vào
Ngọc Tỷ cũng phải theo nghi lễ: chọn ngày tốt (15 tháng 3) vua Thiệu Trị
thân làm lễ Đại tự và khắc 9 chữ Triện: Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh
truyền quốc tỷ[174] lên mặt ấn ngọc. Lời dụ sau của Thiệu Trị năm 1847
cho ta thấy được sự tồn tại của Ngọc Tỷ gắn bó mật thiết với vương triều
Nguyễn mang tính chất truyền quốc kế thừa:

“… Nay gặp tiết Vạn thọ, Ngọc Tỷ đã làm xong, kính lấy mồng 1 tháng này
sắm sửa lễ nghi ta thân nâng Ngọc Tỷ kính cáo tổ miếu, rồi kính để ở
cung Càn thành, cùng ấn truyền quốc đều long trọng, kéo dài cơ nghiệp mở
mang khó nhọc, giữ gìn cũng không phải là dễ. Phải nghĩ lo theo, cố
công tiếp nối. Phải cẩn thận từ trước để trọn vẹn về sau, nên giữ đầy
đặn mà được yên ổn, may ra sự nghiệp lớn lao giữ được mãi mãi, mà truyền
cho con cháu muôn đời thì tốt lắm !…”[175].

Ngọc Tỷ này được dùng đóng trên những bản sắc mệnh ban cho các nước như
chư hầu, những việc ban bố cho thiên hạ, nó được coi trọng và bảo vệ như
Kim Bảo truyền quốc Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo.

Xin giới thiệu hình dấu một Ngọc Tỷ trên văn bản Hán Nôm còn lưu giữ đến
nay. Đó là bản phúc thư của vua Tự Đức gửi cho Hoàng đế Pháp vào ngày
28 tháng 11 năm Tự Đức thứ 12 (1859)[176]. Phần đầu trang giấy có 2 chữ
“Túc phục” 肅復 nghĩa là kính phúc đáp. Dưới sát chữ “phục” là dấu Ngọc Tỷ
hình vuông, bên trong dấu là 6 chữ Triện chia làm 3 hàng Đại Nam hoàng
đế chi tỷ 大南皇帝之璽 (Ngọc Tỷ của Hoàng đế Đại Nam). Tiếp bên dấu là các
dòng chữ “Đại Nam quốc hoàng đế - Túc phục - Đại phú lãng sa quốc hoàng
đế…“ (Hoàng đế nước Đại Nam kính phúc đáp Hoàng đế nước Đại Pháp…).
(H.108 a, b)



Ngoài số Ngọc Tỷ quí trình bày ở trên, triều Nguyễn còn làm ra một số
Ngọc Tỷ khác dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại, số Ngọc Tỷ này được
ghi trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Cơ mật viện túc trình:

Ấn ngọc biếc có 3 cái: Phong cương vạn cổ túy ngọc tỷ, Thiên địa tâm, Ký
thọ vĩnh xương. Ấn ngọc trắng có 4 cái là: Khâm minh văn tứ, Thể thiên
hành kiện, Tuân triết văn minh và Khuê bích lưu quang. 6 ấn ngọc tốt là:
Cửu đạo hóa thành, Tân hựu nhật tân, Kỷ vương tứ phương và Vân hán
chương thiên[177].

Sách Cơ mật viện túc trình còn bổ sung số lượng Ngọc Tỷ mà chính sử
không ghi. Đó là hai Ngọc Tỷ của Hoàng đế Khải Định Khải Định hoàng đế
ngọc tỷ 啓定皇帝玉璽, Khải Định hoàng đế chi tỷ 啓定皇帝之璽.

Đời Thiệu Trị có một quả ấn tuy không phải là ấn ngọc ấn vàng, nhưng lại
có ý nghĩa về mặt lịch sử, đó là Bảo ấn Hoan phụng ngũ đại đồng đường
nhất thống Thiệu Trị chi bảo. Hiện nay Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội còn
lưu giữ được nguyên vẹn Bảo ấn ngà này. Ấn có ký hiệu Lsb - 62 - 78 chất
liệu bằng ngà, núm trên chạm hình con rồng ở thế đứng, thân rồng cuộn
lẫn mây, nửa non phần dưới ấn làm theo khuôn tròn. Dấu hình tròn có
đường kính 10,8cm, viền vòng ngoài rộng 5cm khắc hình lưỡng long chầu
nhật nguyệt. Vòng trong gồm 12 chữ Triện Hoan phụng ngũ đại đồng đường
nhất thống thiệu trị chi bảo 歡奉五大同堂一統紹治之寶. Nhân lễ ngũ đại đồng đường
năm 1846-1847, Thiệu Trị cho làm Bảo ấn này để ghi lại niềm vui của nhà
vua và cả vương triều. (H. 109 a,b)


Tự Đức lên ngôi cuối năm 1847 vẫn giữ nguyên qui chế về Kim Ngọc Bảo Tỷ
của cha ông mình. Ngay thời gian này nhà vua cho đúc ấn vàng Đại Nam
hiệp kỷ lịch chi bảo 大南協紀曆之寶[178] có hình thể hai đài chồng, núm hình
rồng bò xổm, vuông 2 tấc 6 phân 1 ly, dày 3 phân 2 ly làm theo mẫu ấn
dấu làm lịch trước. Kim Bảo này dùng đóng trên các bản lịch, bản chính
sóc của vương triều.

Ở ngôi Hoàng đế, Tự Đức còn làm thêm một số Bảo ấn khác cũng được coi là
có giá trị bổ sung cho số lượng Kim Ngọc Bảo Tỷ thời Nguyễn, tiêu biểu
là 2 Bảo ấn Tự Đức ngự lãm chi bảo và Tự Đức thần hàn.

Chuyến công tác vào Huế năm 1989 chúng tôi được Ban Quản lý di tích Huế
cho tham quan chụp ảnh, in rập lại số ấn triện ở các lăng tẩm và di tích
cố đô. Tại lăng Tự Đức còn giữ được một số ấn và hộp đựng ấn, đặc biệt
là ấn Tự Đức ngự lãm chi bảo vẫn còn bảo quản được nguyên vẹn. Chất liệu
ấn bằng ngà quí, núm ấn hình rồng đứng, mặt dấu hình chữ nhật, toàn
chiều cao là 6,8cm. Dấu hình chữ nhật cỡ 6,0x7,5cm, viền ngoài khắc họa
tiết lưỡng long chầu nguyệt, 6 chữ Triện bên trong: Tự Đức ngự lãm chi
bảo 嗣德御覽之寶 xếp theo 3 hàng (Bảo của vua Tự Đức ngự lãm). Bảo ấn này dùng
đóng trên các văn bản mà Nội các dâng trình vua trực tiếp xem xét. (H.
110 a,b)

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:37

Bảo ấn Tự Đức thần hàn, trong cuốn Cơ mật viện túc trình ghi rõ chất
liệu Bảo ấn này bằng vàng, núm ấn hình rồng. Mặt dưới phần dấu làm theo
khuôn hình vuông, nhưng dấu lại có hình hơi chữ nhật, kích thước
8,0x8,3cm. Viền ngoài không khắc họa tiết, bên trong là 4 chữ Triện Tự
Đức thần hàn (Văn từ ở cung vua Tự Đức).

Năm 1996, chúng tôi được ông Nguyễn Hữu Tưởng cung cấp một bản Ngự chế
có bút tích và dấu ấn của vua Tự Đức[179]. Tờ ngự chế này có họa tiết
hình rồng mây xung quanh, bút tích mực son của vua Tự Đức theo thể Thảo
thư. Dòng đầu dưới chữ “Ngự chế” 御制 là hai dấu kiềm như hình vuông đều
có cỡ 3x3cm, mỗi dấu có hai chữ khác nhau và kiểu khắc cũng khác nhau.
Dấu chữ nét chìm nằm ở trên với hai chữ Triện “Hoàng đại” 皇大. Dấu nét
nổi là 2 chữ “Thần tảo” 宸藻.

Dòng cuối ghi niên đại Tự Đức bát niên thất nguyệt sơ thất nhật. Dấu Tự
Đức thần hàn 嗣德宸翰 có cỡ 8,0x8,3cm đóng ở đoạn năm tháng của dòng niên
đại. Như vậy dấu ấn ở văn bản trên mà chúng tôi đã có rất phù hợp với
quy chế dùng Bảo Tỷ của các vua Nguyễn: Kim Bảo có chữ “Thần hàn” dùng
đóng trên những bài văn, thơ và chỉ dụ của vua viết bằng son. Dấu Tự Đức
thần hàn ở đây được đóng trên một bản “châm” có chữ son của vua Tự Đức
viết vào ngày 7 tháng 7 năm Tự Đức thứ 8 (1855). (H. 111)



Cũng tại Khiêm Lăng đến nay vẫn lưu giữ một số ấn ngà có hình thức và
kích thước giống nhau. Đó là những Tư chương của Tự Đức, một Nhà thơ -
Hoàng đế trọng văn tài, đề cao bút nghiên, ngợi ca chữ tâm, chữ hiếu.
Ông đã cho khắc lên mặt ấn những dòng chữ Triện mang chủ đề đó như những
lời nhắc nhở về quan niệm sống đối với quan lại và nho sỹ đương thời.
Các Tư chương này có khuôn dấu hình tròn đều có đường kính 6,5cm. Họa
tiết vòng ngoài khắc hình lưỡng long chầu nhật nguyệt. Vòng trong là
hình 4 chữ Triện xếp theo bố cục khác nhau. Dấu Tâm chính bút chính 心正筆正
có bố cục vuông góc (H. 112 a,b). Dấu Hiền ư tâm hảo 賢於心好 lại có bố cục
chữ thập. Cho dù nét khắc họa tiết và nội dung văn khắc có khác nhau
nhưng tựu chung vẫn là ý tưởng của một tác giả. (H. 113)




Tại Bảo tàng Huế ngày nay, bên cạnh các cổ vật quý là số ít ấn tín bằng
đồng, bằng ngà và đá quý. Đáng chú ý là chiếc ấn ngọc hình bầu dục có
núm hình núi. Mặt dấu hình bầu dục có kích thước 5,5x6,5cm, họa tiết
khắc hình lưỡng long chầu càn khôn. Ở giữa là 4 chữ Triện xếp theo kiểu
chữ thập, là 4 chữ Văn hành hóa thành 文行化成. Đây cũng là một Tư chương
của một trong các vua Nguyễn với nội dung văn khắc có chủ đề như Tư
chương của vua Tự Đức trên. (H. 114)

Năm 1883 Hàm Nghi lên ngôi, biến cố đã xảy ra bằng cuộc chiến giữa người
Pháp và triều đình Nguyễn. Năm 1885 kinh đô Huế thất thủ, Tôn Thất
Thuyết phò vua Hàm Nghi rời bỏ kinh thành, khi đi mang theo một số Kim
ngọc Bảo Tỷ như Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát v.v… và nhiều báu vật
khác. Chiếu cần vương và nhiều văn bản có đóng dấu Ngự Bảo của Hàm Nghi
sau này đã bị tiêu hủy hầu hết. Người Pháp và phái chủ hòa đã dựng Đồng
Khánh lên ngôi, Đồng Khánh chú trọng ngay đến việc làm Bảo Tỷ để thay
thế cho số Bảo ấn bị Tôn Thất Thuyết mang đi, cùng những ấn khác khi
đánh nhau bị thất lạc. Sử cũ chép cuối năm Đồng Khánh Ất Đậu (1885): “…
Sai làm hai ấn Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát, cùng là ấn, phòng
(Quan phòng), kiềm bài ở các nha có bỏ mất, đều cho làm ra để
dùng”[180].



Bảo ấn Ngự tiền chi bảo trước đúc bằng vàng hình bầu dục. Đồng Khánh cho
rằng nếu đúc theo khuôn cũ sẽ nhầm với Bảo ấn cũ mà Tôn Thất Thuyết
giữ. Nên mới sai làm Bảo Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát mới theo hình
bát giác, còn tất cả ấn khác đều theo khuôn cũ. Vì không đủ điều kiện
nên Đồng Khánh cho làm tạm Bảo ấn bằng ngà voi, mấy tháng sau năm Đồng
Khánh thứ 1 (1886), khi mọi việc tạm yên Đồng Khánh sai lấy vàng đúc lại
hai Bảo ấn Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát. Núm của hai ấn đều đúc
theo hình rồng. Bảo Ngự tiền chi bảo mặt dưới theo hình bát giác dài 8
phân 5 ly rộng 7 phân 5 ly, khắc chữ chân phương như ấn cũ. Kiềm Bảo Văn
lý mật sát, mặt dưới hình hơi chữ nhật dài 90 phân rộng 8 phân, khắc
chữ Triện như ấn cũ và quy định dùng 2 Bảo ấn trên vẫn theo quy chế xưa
không thay đổi.

Tháng 12 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) triều đình Pháp tặng Đồng Khánh và
triều đình Nguyễn một ấn ngọc khắc 4 chữ Triện Triều đình lập tín 朝廷立信.
Hai nước quy định những công văn, văn kiện có tính chất thông báo với
nước Pháp thì nhà Nguyễn đóng ấn này làm tin. Như vậy người Pháp cũng
như vua tôi Đồng Khánh vô hình trung phủ nhận quy chế một số Bảo Tỷ của
tiền nhân họ. Những Bảo Tỷ như Hoàng đế chi bảo, Đại Nam hoàng đế chi tỷ
v.v… (Dùng đóng trên sắc thư và văn kiện gửi đi nước ngoài) chúng tôi
cũng không hiểu rằng lúc này còn hay mất, nếu còn thì Đồng Khánh sử dụng
chúng như thế nào (?) Vì nhiều lẽ nên ấn ngọc Triều đình lập tín không
được nhà Nguyễn xếp vào hàng ngũ Kim ngọc Bảo Tỷ, và sách Cơ mật viện
túc trình đời Bảo Đại cũng không ghi.



Giai đoạn tiếp theo từ Thành Thái đến Bảo Đại (1889-1945). Đây là thời
kỳ mà thể chế quân chủ Việt Nam không còn chuyên chế nữa, vua và triều
đình chỉ là bù nhìn trước sức mạnh của người Pháp. Chữ Hán mất dần vai
trò quốc ngữ, quy chế được thay đổi, do đó một số Bảo Tỷ bỏ không dùng
hoặc ít được sử dụng hơn. Nhưng các vua Nguyễn như Khải Định vẫn làm
thêm những Bảo Tỷ mới như hai Ngọc Tỷ đã nêu là Khải Định hoàng đế ngọc
tỷ, Khải Định hoàng đế chi tỷ. Kim Bảo bằng bạc dát vàng nặng 51 lượng
là Khải Định thần hàn 啓定宸翰 và Khải Định thần khuê 啓定宸奎 có chất liệu bằng
ngà. Tuy nhiên những Bảo Tỷ này chỉ nặng về mặt hình thức, còn giá trị
của chúng thì chẳng được là bao. Bảo ấn Khải Định thần khuê vẫn còn giữ
được cho đến nay tại Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội. Ấn ngà này có ký hiệu
62-77, núm hình kỳ lân ở thế đứng, khuôn dấu hình bầu dục, chữ mặt dấu
khắc theo thể Chân thư. (H. 115 a,b)

Ngoài số Kim ngọc Bảo Tỷ chúng tôi đã trình bầy ở trên nhà Nguyễn còn
làm ra nhiều ấn khác với chất liệu bằng cẩm thạch, bằng ngà voi, bằng gỗ
đàn hương và bằng thuỷ tinh. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đã
xếp số lượng loại ấn này vào mục “Đồ thư văn bảo”[181], với tính chất
riêng biệt, mượn những lời hay ý đẹp trong cổ thư Trung Quốc v.v… khắc
lên mặt ấn, nhất là ông vua thi gia như Tự Đức rất tâm đắc ở việc này.

Ở đây chúng tôi xin giới thiệu thêm việc có ấn tất phải có hòm đựng ấn,
khay đựng ấn như đầu đời Minh Mệnh, hòm đựng Bảo Tỷ của vua được làm
bằng gỗ hoa lê chạm rồng mây, 4 góc bịt vàng, khóa cũng bằng vàng, hộp
đựng son bằng bạc. Hiện nay tại Bảo tàng và một số lăng ở Huế còn giữ số
ít hòm và khay đựng ấn được trưng bầy cùng hiện vật ấn triện. (H. 116
a1,a2,b)


Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:37

2. Quy cách sử dụng các Kim ngọc Bảo Tỷ

Việc đúc Kim Bảo Tỷ phải được tiến hành theo đúng chỉ dụ của vua ban
xuống. Sử cũ ghi: “Phàm khi có đúc ấn bằng vàng, thì trước đó bộ Lễ tư
cho Khâm thiên giám chọn ngày tốt, phủ Thừa Thiên sắm sửa lễ vật. Đến
ngày đã định Hữu tư kính cáo với thần tư công. Rồi Bộ hội đồng với kho
Vũ khố, phủ Nội vụ kính cẩn giám thị, theo như quy thức chế tạo, khi đúc
xong dâng lên”[182].

Việc làm Ngọc Tỷ, nhất là khi được ngọc quí vua chuẩn định làm ấn ngọc
thì phải qua nhiều nghi lễ, như quá trình làm Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên
vĩnh mệnh tuyền quốc tỷ chúng tôi đã trình bày.

Về quy cách sử dụng các Kim ngọc Bảo Tỷ, ngay từ thời Gia Long đã có
những quy định dùng Bảo Tỷ, những quy chế này được hoàn thiện trong thời
Nguyễn sơ và tồn tại đến năm 1945.

Kim Ngọc Bảo Tỷ đều được cất giữ ở điện Trung Hòa, mỗi khi Nội các dùng
đến Bảo Tỷ nào thì Bảo Tỷ ấy do các cung giám phụng đưa ra. Những Bảo Tỷ
thường dùng như Sắc mệnh chi bảo, Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát mỗi
khi được dùng thì các quan Nội các phải họp nhất trí với Bộ quan đương
trực đặt một cái án giữa tả vu của điện Cần Chánh để “hầu Bảo” (tức đóng
dấu). Cung giám bưng hòm ấn từ cửa giữa điện Cần Chánh đi ra kính cẩn
đặt lên bàn ở giữa gian tả nhất, quan văn võ đại thần đương trực mỗi ban
một người, một viên Sung biện Nội các, một viên thuộc Các đều mặc phẩm
phục hội đồng kính cẩn “hầu Bảo”. Bảo ấn Ngự tiền chi bảo đóng trên mặt
chữ “Khâm thử”. Những tập sớ tấu có chữ châu phê thì đóng ở chỗ giấy bỏ
không cuối tập. Những sách tâu của các thành, doanh, trấn (sau này là
tỉnh) cùng nha môn các nơi ấy - Nếu là bản Giáp 甲 mà có châu phê thì
đóng Ngự tiền chi bảo ở dòng ghi niên hiệu. Bản Ất 乙 là phụ thì đóng dấu
triện, Quan phòng, Đồ ký của nha môn trên chỗ tháng “mỗ” ở dòng ghi
niên hiệu.

Tất cả các sách tâu ở kinh, các sớ tâu ở trong kinh ngoài tỉnh nếu có
chỗ tẩy xóa, bổ sung và chỗ giáp trang thì đóng Kiềm Bảo Văn lý mật sát
để kiểm giáp.

Những khi có công việc quan trọng cần phải dùng đến những Bảo Tỷ đặc
biệt như Hoàng đế chi bảo, Hoàng đế chi tỷ là những Bảo Tỷ ít dùng hơn
các Kim Bảo trên thì phải theo nghi thức riêng. Đầu tiên cơ quan hữu
trách làm phiến tấu trình Hoàng đế, những phiến tấu, phiếu nghĩ lấy hạn
trong 3 ngày.

Bộ Lại trong khi chờ chiếu văn, thì trước một ngày phải làm phiếu xin
“hầu Bảo”, nội dung phiếu trình bầy sơ lược về số mục và đem bản thảo
các đạo chiếu sắc các năm cần dùng giao cho Nội các sát hạch trước đề
phòng sai sót nhầm lẫn. Ngày “hầu Bảo” phải đặt hương án ở gian thứ nhất
bên tả điện Cần Chánh. Quan Nội các kính cẩn bưng ấn báu để lên án. Hai
bên có hai viên quản vệ đầu đội mũ đầu hổ, áo thụng thêu hình mãng xà,
cầm gươm tuốt trần đứng chầu. Quan Nội các, quan Thị vệ, Khoa đạo cùng
trực thần mặc phẩm phục màu xanh bước vào chiếu mở tráp… Quan Nội các
niêm phong, rồi Nội thần nhận lấy kính cẩn bưng cất vào chỗ cũ. Mỗi lần
dùng ấn vào công việc gì hội đồng phải lập biên bản ghi vào sổ, hòm chìa
khóa phải dâng vào Đại nội trước khi ra về.

Việc “hầu Bảo” và kiểm duyệt “hầu Bảo”[183] không được hoàn thiện thì
tất cả các quan ở hệ thống Giám sát, Bộ quan đương trực và Nội các đều
bị khép tội.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:38

3. Lệ phong khóa Bảo Tỷ và lễ Phất thức

Phong khóa Báo Tỷ tức là niêm phong khóa kín hòm ấn Bảo Tỷ. Khi các Kim
Ngọc Bảo Tỷ dùng xong thì các Trực thần dùng hai mảnh giấy có chữ viết
của vua dán niêm phong vào mặt trước rồi lấy the vàng che mặt chữ. Tiếp
theo là dán hai mảnh giấy niêm phong vào hai bên có chữ ghi của Bộ quan,
trực thần. Rồi đóng ấn Quan phòng của Cơ mật đại thần vào bìa khóa hòm
niêm phong làm bằng chứng. Cơ mật viện hội đồng cùng quan Thị vệ dán
niêm phong và chịu trách nhiệm giữ chìa khóa và mảnh giấy vua viết niêm
phong. Biên bản ngày hôm đó ghi rõ có bao nhiêu loại hình giấy tờ và số
lượng giấy tờ được đóng ấn Bảo Tỷ. Cuối tờ biên bản có chữ ký của các
thành viên trong hội đồng cùng dấu Quan phòng các cấp. Thời Gia Long và
đầu Minh Mệnh, Tam nội viện và sau là Thượng Bảo tào coi giữ chìa khóa
hòm Bảo Tỷ, đến đời Minh Mệnh thứ 11 (1830) chuyển cho Cơ mật đại thần
giữ.

Với Kim ngọc Bảo Tỷ còn một nghi thức quan trọng nữa mà chúng tôi được
biết qua chuyến công tác tại Huế năm 1989: Lễ “Phất thức”[184] 拂拭. Nghi
lễ này bắt đầu có từ năm 1837 và tồn tại cho đến năm 1945 khi Bảo Đạt
thoái vị. Lễ “Phất thức” gắn liền với lệ phong ấn, nhưng ở lễ “Phất
thức” mỗi năm chỉ diễn ra một lần.

Cứ vào hạ tuần tháng Chạp hàng năm lễ “Phất thức” được cử hành long
trọng tại điện Cần Chánh. Trước ngày hành lễ, Nội các dâng trình nhà vua
bản danh sách các Hoàng tử, văn võ đại thần trật nhất phẩm cùng các
trưởng quan ở Nội các và Cơ mật viện. Trên cơ sở đó, nhà vua chọn lựa
những người được dự lễ. Đúng ngày lễ, Trực quan đặt hương án giữa điện
Cần Chánh. Các Hoàng tử cùng các quan văn võ trong danh sách đều mặc lễ
phục đứng dàn hàng. Khi nội thần bưng các hòm Bảo Tỷ ra chia đặt trên
các bàn ở gian giữa điện Cần Chánh, Hoàng tử và các quan bước vào kiểm
thị rồi dùng lụa đỏ để lau và dùng nước hương thang chùi các ấn. Riêng
hòm ấn truyền quốc Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo và Đại
Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ thì chỉ được kiểm tra niêm phong
và khóa mà thôi, không được mở ra. Khi việc lau chùi đã xong các hòm ấy
lại được niêm phong cẩn thận. Hòm truyền quốc cũng được dán niêm phong
mới có chữ của vua, xong xuôi nội thần lại bưng Kim Ngọc Bảo Tỷ cất vào
chỗ cũ. Ngày làm lễ “Phất thức” trên cũng là ngày giờ đầu năm sau triều
đình lựa ngày tốt làm lễ khai ấn rồi mới được dùng lại.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:38

4. Vài nét về Bảo ấn của Thái hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu và một
số cung trong kinh thành Huế


Nói đến Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế thời Nguyễn cũng cần phải nói tới
các Bảo ấn của Thái hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu, Quốc mẫu, Thái phi
và một số cung trong kinh thành Huế.

Định lệ nhà Nguyễn có lễ tấn tôn Hoàng thái hậu dâng sách vàng, ấn vàng.
Bảo làm bằng vàng mười tuổi, vuông 2 tấc 4 phân, dầy 4 phân, núm rồng
phủ phục, cao 1 tấc 5 phân. Mặt dấu khắc 4 chữ Triện Hoàng thái hậu bảo
皇太后寶 (Bảo ấn của Hoàng thái hậu).

Nhà Nguyễn cũng có định lệ sách lập Hoàng hậu ban sách vàng ấn vàng.
Nhưng trên thực tế các vua Nguyễn từ Minh Mệnh trở đi đã bỏ định lệ này.
Cuốn Cơ mật viện túc trình đã cung cấp cho chúng tôi tư liệu chính xác
về loại Bảo ấn này. Vì điều kiện khuôn khổ có hạn, chúng tôi xin liệt kê
số lượng tên gọi một số Bảo ấn nói trên để tiện tham khảo.

* Hoàng thái hậu bảo 皇太后寶 - bằng vàng.

* Hoàng thái hậu chi bảo 皇太后之寶 - bằng bạc.

* Thái hậu chi bảo 太后之寶 - bằng vàng.

* Quốc mẫu chi bảo 國母之寶 - bằng bạc.

* Chánh hậu chi bảo 正后之寶 - bằng vàng.

* Hoàng thái phi bảo 皇太妃寶 - bằng bạc.

* Nhân tuyên từ khánh Hoàng thái hậu chi bảo 仁宣慈慶皇太后之寶 - bằng vàng.

* Nhân tuyên từ khánh Thái hoàng thái hậu chi bảo 仁宣慈慶太皇太后之寶 - bằng
vàng.

* Gia Thọ cung Hoàng thái hậu chi bảo 嘉壽宮皇太后之寶 - bằng vàng.

* Gia Thọ cung Từ DũThái hoàng thái hậu chi bảo 嘉壽宮慈裕太皇太后之寶 - bằng vàng.

* Gia Thọ cung Từ Dũ bác huệ Thái hoàng thái hậu chi bảo 嘉壽宮慈裕博惠太皇太后之寶 -
bằng vàng.

* Gia Thọ cung Từ Dũ bác huệ khang thọ Thái hoàng thái hậu chi bảo
嘉壽宮慈裕博惠康壽太皇太后之寶 - bằng vàng.

* Trang ý Hoàng thái hậu kim bảo 莊懿皇太后金寶 - bằng vàng.

* Khôn nghi xương đức Thái hoàng thái hậu chi bảo 坤儀昌德太皇太后之寶 - mạ vàng.

* Trang ý thuận hiếu Thái hoàng thái hậu kim bảo 莊懿順孝太皇太后金寶 - bằng vàng.


* Diên Thọ cung bảo 延壽宮寶 - bằng vàng.

* Trường Sinh cung bảo 長生宮寶 - bằng vàng.

* Khánh Ninh cung bảo 慶寧宮寶 - bằng ngà.

Xin được giới thiệu Bảo ấn của một Thái hoàng thái hậu cuối thời Nguyễn.
Quả ấn này hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội. Ấn
có chất liệu bằng đồng, mạ vàng ta. Núm ấn được đúc hình rồng thế phủ
phục, thân bằng đầu. Đế ấn làm theo khuôn hình vuông kích thước
10,5x10,5cm. Mặt trên núm ấn không khắc chữ Hán ghi niên đại, trọng
lượng hay nội dung ấn. Mặt dấu hình vuông, kích thước bằng mặt đế ấn,
viền ngoài để trơn 1cm không khắc họa tiết. Bên trong là 10 chữ Triện
vuông vức chia làm 3 hàng, 2 chữ hàng giữa dài gấp đôi 8 chữ hàng bên.
Đó là 10 chữ Khôn nghi xương đức thái hoàng thái hậu chi bảo 坤儀昌德太皇太后之寶.




Qua nghiên cứu chúng tôi khẳng định Bảo ấn này được tạo tác khoảng đầu
năm 1933 và chủ nhân của nó là Thái hoàng thái hậu Dương Thị Thục. Bà
sinh năm Mậu Thìn 1868 là con gái Phú Lộc Quận công là mẹ vua Khải Định
và là bà nội vua Bảo Đại. Năm 1916 bà được phong Khôn nghi Hoàng thái
hậu. Ngày 25 tháng 2 năm Quý Dậu (1933) vua Bảo Đại tấn tôn phong bà làm
Khôn nghi xương đức Thái hoàng thái hậu và ban cho Kim sách Bảo ấn này.
Bà mất ngày 2 tháng 8 năm Giáp Thân (1944) táng ở Tư Thông lăng và được
dâng tôn thụy là Hựu thiên tương thánh Khôn nghi xương đức khoan hậu từ
hòa thọ khang trang túc Thuần hoàng hậu. (H. 117 a,b)

Cuối phần mục này chúng tôi sẽ nói về Bảo ấn của một cung điện trong
kinh thành Huế. Đó là cung Khánh Ninh mà hiện vật ấn chương còn lưu giữ
tại Bảo tàng Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh[185]. Ấn có chất liệu bằng
ngà, núm cầm kiểu hình Tam sơn, đế hình tròn đường kính 6,5cm. Mặt dấu
hình tròn đường kính bằng mặt đế ấn, viền ngoài để rộng cỡ 1,4cm khắc
hình lưỡng long chầu nhật nguyệt. Bốn chữ Triện trong dấu khắc theo bố
cục chữ thập là 4 chữ Khánh Ninh cung bảo 慶寧宮寶 (Bảo ấn cung Khánh Ninh).

Qua tư liệu Huế từ nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì cung Khánh Ninh được
xây dựng từ năm 1825 triều Minh Mệnh. Đó là một hệ thống cung điện được
làm khá quy mô ở bờ bắc Ngự Hà trong kinh thành Huế, phạm vi ngoài Đại
nội, tổng cộng khoảng hơn 100 công trình lớn nhỏ. Cung Khánh Ninh là
cung vua Minh Mệnh trực tiếp chuẩn bị cho lễ Diễn canh hàng năm, và là
nơi ông thường ra nghỉ ngơi thư giãn. Ở gần cung Khánh Ninh, Minh Mệnh
còn cho làm một chiếc cầu và đặt tên là Khánh Ninh kiều. Sau khi ông qua
đời bài vị của ông được đưa vào thờ ở cung Khánh Ninh ngoài những nơi
thờ khác như lăng Minh Mạng, Thế miếu và điện Phụng Thiên. (H. 118
a,b,c)
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:38

II. Ấn chương ở phủ Tôn nhân thời Nguyễn

1. Đặc điểm bộ ấn kiềm ở phủ Tôn nhân thời Nguyễn


Phủ Tôn nhân 宗人府 là cơ quan quản lý hoàng tộc tồn tại từ các vương triều
trước nhà Nguyễn. Khi Gia Long lên ngôi chính thức lập ra phủ Tôn nhân
triều Nguyễn.

Người đứng đầu phủ Tôn nhân do nhà vua trực tiếp đặt cử, Tôn nhân lệnh
là chức cao nhất, được coi trọng hơn cả đại thần trật nhất phẩm, dưới là
chức Tả và Hữu Tôn nhân hàm chánh nhị phẩm, tiếp đến Tả và Hữu Tôn
khanh lấy một văn một võ hàm tam phẩm trong tôn thất. Dưới nữa là chức
Tả, Hữu Tá lý đều lấy chức Lang trung ở bộ Lại và bộ Lễ là người Tôn
thất kiêm giữ, các chức Tư giáo, Tộc trưởng, Thừa biện ty mỗi hệ một
người giúp việc ở phủ.

Thời vua Minh Mệnh, Hoàng tử Nguyễn Miên Tông (Tức vua Thiệu Trị sau
này) được vua cha cho đứng đầu quản lãnh phủ Tôn nhân.

Chức năng của phủ Tôn nhân là phân biệt trật tự hàng chiêu mục, ghi chép
họ hàng ai gần ai xa, nuôi nấng chu cấp trẻ em mồ côi, thưởng cấp cưới
xin ma chay v.v… trong họ nhà vua. Những dịp lễ, tết hàng năm Tôn nhân
phủ phải thực hiện theo đúng quy định đã ban hành về nghi thức, nhân sự,
trang phục v.v… việc phụng mệnh biên soạn Ngọc diệp tôn phả và mọi nghi
thức khác trong Hoàng tộc đều do phủ Tôn nhân đảm nhiệm.

Chủ trương “Thân thân” của các vua Nguyễn thể hiện rõ ở sự ưu đãi đặc
biệt trong Hoàng tộc. Hoàng tử, Hoàng thân và người trong Hoàng tộc đều
hưởng chế độ riêng biệt, từ việc đặt tên, phong cấp, phong tước, ban lộc
nhất nhất đều được Hoàng đế quan tâm và phủ Tôn nhân thực hiện. Hầu hết
người trong Hoàng tộc đều nắm những trọng trách chủ yếu ở lục Bộ, lục
Tự, chư nha, hệ thống giám sát, ở chính quyền cấp tỉnh và hệ thống kế
cận nhà vua.

Ấn chương ở phủ Tôn nhân triều Nguyễn có những nét đặc thù riêng không
giống các cơ quan khác, phủ Tôn nhân được ban cấp một bộ ấn kiềm dùng
cho cả Hoàng tộc. Khi làm tờ khải, biểu lên Hoàng đế, hoặc công việc với
các cơ quan ngang hàng hoặc công văn truyền xuống cấp dưới, tức là tất
cả các việc công hay những việc trong Hoàng tộc, phủ Tôn nhân đều sử
dụng bộ ấn kiềm Tôn nhân phủ ấn. Điểm đặc biệt là các Hoàng tử, Hoàng
thân, chư công trong phủ Tôn nhân khi được phong tước, tập tước mỗi
người đều được ban ấn riêng cùng cặp và sách phong. Hoặc cá biệt Hoàng
tử, Hoàng thân được ban ấn riêng ngoài lệ chung,những ấn tín này đại
diện cho mỗi phủ đệ riêng của Hoàng tử, Hoàng thân, chư công trong văn
bản giấy tờ ở tất cả các công việc riêng và chung.

Ngay từ thời Gia Long phủ Tôn nhân đã được ban cấp bộ ấn kiềm Tôn nhân
phủ ấn, các đời vua Nguyễn sau đó còn làm tiếp những ấn gần như ấn cũ để
lưu giữ, hoặc ban thêm cho phủ Tôn nhân ấn mới loại nhỏ để dùng vào
công việc khác. Sử cũ ghi: “Năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) dụ chuẩn: Lấy
giờ tốt đúc chế một quả ấn bằng bạc cho Tôn nhân phủ 2 tầng, núm chạm
con kỳ lân, vuông 2 tấc 1 phân, dày 3 phân 6 ly. Một dấu kiềm cũng bằng
bạc… khi đúc xong vẫn giao cho Nội các cất giữ, đợi sau ban cấp sử
dụng”[186]. Hay đời Thiệu Trị năm đầu vua cũng sai nha Hữu tư theo kiểu
mẫu làm cho phủ Tôn nhân một ấn và kiềm nhỏ bằng ngà để khi đi theo hộ
giá tuần hạnh vài ba ngày trở lên, viên quan của phủ Tôn nhân mang theo
để dùng, khi về lại phong khóa cất một nơi[187].

Trên các văn bản chữ Hán trong Châu bản triều Nguyễn chúng tôi thấy xuất
hiện rất nhiều hình dấu lớn Tôn nhân phủ ấn và kiềm nhỏ Tôn nhân trong
các tập sách khác nhau, qua nhiều đời vua thời Nguyễn khác nhau. Chúng
tôi thấy những con dấu này có sự thay đổi, không phải thay đổi về ngoại
hình, hoa văn, … mà điều đặc biệt ở đây là sự thay đổi hoàn toàn chữ
“Tôn” trong dấu: Hai chữ “Tôn” khác nhau đồng âm những khác tự dạng.
Trong Châu bản triều Nguyễn, tính từ đời Gia Long đến trước đời Đồng
Khánh, dấu của phủ Tôn nhân có hình vuông, mặt dấu có kích thước 9x9cm,
viền vòng ngoài để cỡ 0,7cm. 4 chữ Triện bên trong xếp vuông góc cỡ
3x3cm, đó là 4 chữ Tôn nhân phủ ấn 宗人府印 (ấn của phủ Tôn nhân). (H. 119)



Hình dấu Kiềm của phủ Tôn nhân cùng đi liền với dấu lớn trên. Dấu kiềm
hình vuông, kích thước 2x2cm, bên trong khắc 2 chữ Triện vuông theo hình
chữ nhật để cân đối với bố cục dấu hình vuông, đó là hai chữ Tôn nhân
宗人[188]. (H. 120)



Ở quyển 2 - Đồng Khánh trong Châu bản triều Nguyễn lại thấy xuất hiện
dấu Tôn nhân phủ ấn mới. Ở con dấu này bố cục chữ không thay đổi, nhưng
chữ “Tôn” 宗 đã được thay thế bằng chữ “Tôn” 尊. Bốn chữ trong dấu đời
Đồng Khánh là Tôn nhân phủ ấn 尊人府印. (H. 121)



Ở dấu kiềm cũng có thay đổi, Kiềm dấu đời Đồng Khánh có kích thước nhỏ
hơn dấu đời trước, và điều khác biệt là chữ “Tôn” 宗 trong dấu cũng được
thay bằng chữ “Tôn” 尊. Hai chữ trong dấu kiềm đời Đồng Khánh là Tôn nhân
尊人. (H. 122)



Như vậy chúng ta thấy ý nghĩa 2 chữ “Tôn” khác hẳn nhau: Chữ “Tôn” 宗
nghĩa là tông tộc; còn chữ “Tôn” 尊 nghĩa là tôn kính. Sức khác nhau rõ
rệt của hai hình dấu này, phải chăng là sự khác biệt về quan điểm, lập
trường chính trị của vua Đồng Khánh và những ông vua Nguyễn trước đó,
trước biến cố của xã hội Việt Nam đương thời, khi người Pháp đã thôn
tính gần xong nước Đại Nam của các vua Nguyễn? Năm 1895 khi ra đi vua
Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết có mang theo một số ấn triện quí như Ngự
tiền chi bảo v.v… Do vậy dưới sức ép của người Pháp, khi tổ chức lại
chính quyền, thay đổi ít nhiều thang quan chế, Đồng Khánh có làm lại và
thay đổi một số ấn triện. Cho nên không chỉ một ấn Tôn nhân phủ ấn có
thay đổi mà một số ấn triện khác cũng có thay đổi theo.

Lật giở những trang chữ Hán đời Thành Thái trong Châu bản triều Nguyễn,
chúng tôi lại thấy xuất hiện một loạt dấu lớn Tôn nhân phủ ấn và Kiềm
dấu Tôn nhân. Những dấu này có kích thước 7,2x7,2cm, còn tự dạng thì tất
cả giống y như dấu Tôn nhân phủ ấn và Kiềm dấu Tôn nhân ở các đời vua
trước đời Đồng Khánh. Như vậy vua Thành Thái đã dùng chữ “Tôn” 宗 của
tiên đế mình và bỏ chữ “Tôn” 尊 của đời Đồng Khánh trong dấu Tôn nhân phủ
ấn và Kiềm dấu Tôn nhân[189]. Như chúng ta đã biết ấn triện có gắn bó
mật thiết với tổ chúc hành chính quan chế triều Nguyễn, do vậy suy ngược
lại vấn đề thì việc tổ chức, quan chế đời Thành Thái cũng có ít nhiều
thay đồi (?) Ở đây chúng tôi chỉ xin cung cấp một số cứ liệu và những
nhận định chung như vậy, còn việc đánh giá, khẳng định v.v… xin dành cho
các nhà viết sử.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:38

2. Lệ phong ấn cho Hoàng thái tử, Hoàng tử, Hoàng tôn và Hoàng thân ở
phủ Tôn nhân triều Nguyễn


Ngay từ thời Gia Long đã có lệ dùng sách ấn vàng tấn phong tước cho các
Hoàng tử, Hoàng tôn, Hoàng thân tước công trở lên. Lễ sách lập Hoàng
thái tử diễn ra với nghi lễ hết sức long trọng. Hoàng thái tử cùng đại
thần văn võ, Hoàng tử, Hoàng thân phủ Tôn nhân quỳ lạy nghe chiếu, rồi
Hoàng thái tử làm lễ nhận sách vàng, ấn vàng và ngồi vào vị trí của
người kế vị sau này. Sử cũ ghi lại: “Gia Long năm thứ 15 (1816) có chỉ:
Chuẩn cho làm sách tấn phong cho Hoàng thái tử thì dùng vàng 5 tờ… ấn
làm bằng vàng, núm đúc hình con rồng ngồi, vuông 2 tấc 4 phân dày 3 phân
2 ly”[190].

Ngoài lễ tấn phong sách vàng ấn vàng cho Hoàng thái tử theo lệ chung,
còn có trường hợp Hoàng thái tử được ban ấn tín riêng. Đó là việc cuối
đời Gia Long không được thực hiện việc truyền ngôi kế thừa theo dòng
trưởng, lẽ ra Gia Long phải truyền ngôi cho con trai Hoàng tử Cảnh là
Hoàng Tôn Đán, nhưng với một nhãn quan chính trị đúng đắn, ông đã đặt
giang sơn vào tay Nguyễn Phúc Đảm là người con thứ (tức vua Minh Mệnh
sau này), bất chấp sự bất đồng của một số đại thần. Việc vua Gia Long
ban thêm ấn Hoàng thái tử thủ tín cho Hoàng thái tử Phúc Đảm cũng nằm
trong định hướng này. Chính sử ghi (Gia Long) năm thứ 19 (1820) có chỉ:
“Chuẩn cho đúc ấn Thủ tín nhỏ và vuông bằng bạc cho Hoàng thái tử (vuông
6 phân 7 ly, dày 3 phân) núm đúc con rồng ngồi, trong khắc 5 chữ Triện
Hoàng thái tứ thủ tín”[191]. Như vậy trước khi lên ngôi, Minh Mệnh đã
được dùng ấn riêng có giá trị rất cao về mặt pháp lệnh, hơn hẳn những ấn
được phong cùng với sách vàng.



Trên những văn bản chữ Hán - Kho Châu bản triều Nguyễn còn in lại nhiều
ấn Hoàng thái tử thủ tín. Dấu hình vuông có kích thước 3,2x3,2cm, bên
trong khắc 5 chữ Triện Hoàng thái tử thủ tín 皇太子守信 chữ “Tử” 子 dài gấp
đôi các chữ khác để cân đối với bố cục dấu hình vuông. Xem xét những văn
bản có đóng dấu Hoàng thái tử thủ tín thì đều là những văn bản quan
trọng, điều này chứng tỏ cho luận cứ chúng tôi nêu trên[192]. (H. 123)

Lễ phong sách ấn cho Hoàng tử, Hoàng tôn cũng diễn ra nghi thức gần bằng
lễ tấn phong Hoàng thái tử. Sách sử ghi: “… Hoàng tử, Hoàng tôn được
phong tước công… ban ấn bằng vàng mạ, núm ấn đúc hình rồng, vuông 2 tấc 3
phân 4 ly, dày 2 phân 7 ly. Hoàng tử, Hoàng tôn được ban sách mạ vàng
mười, ấn mạ vàng mười… núm ấn hình rồng của mỗi chiếc ấn vuông 2 tấc 3
phân 4 ly dày 2 phân 4 ly”[193].

Đối với những Hoàng tử, Hoàng tôn tuổi còn nhỏ quá thì sách vàng vẫn ban
phong, duy có ấn thì chưa trao cho vội, sợ rằng trẻ nhỏ chưa phân biệt
rõ mọi việc, dùng ấn tín có sự lầm lỡ, đợi đến khi nào Hoàng tử, Hoàng
tôn đó lớn thì phủ Tôn nhân mới theo lệnh vua cấp cho để dùng.

Đối với Hoàng thân công, việc phong sách ấn cũng được Tôn nhân phủ thực
hiện theo đúng quy chế, nghi thức lễ phong cũng giống như lễ phong sách
ấn cho Hoàng tử. Ngay từ năm Gia Long thứ 16 (1817) đã quy định lễ sách
phong cho Hoàng thân công đều làm sách ấn nền bạc mạ vàng, nhưng trên
thực tế các Hoàng thân có lúc được ban ấn bằng gỗ thơm chứ không phải là
vàng mạ cả. Như trường hợp Thiệu Hóa Quận vương năm Minh Mệnh thứ 5
(1824) được ban sách bạc mạ vàng, 1 ấn bằng gỗ thơm, núm ấn hình rồng
vuông 2 tấc 3 phân 4 ly, dày 2 phân 7 ly. Con trai của Thiệu Hóa Quận
vương lại được ban ấn bạc, sách chép rằng “Năm Minh Mệnh thứ 16 có nghị
chuẩn cho Thiệu Khê là con trưởng của Thiệu Hóa Quận vương đã quá cố
được tập phong làm Thiệu Hóa Quận công… 1 quả ấn bạc núm hình kỳ lân,
vuông 2 tấc 7 ly, dày 2 phân 7 ly”[194].

Các Hoàng thân sau khi được phong sách ấn, nếu làm tờ khải lên Hoàng đế
thì xưng là thần và ấn dấu được phong quy định phải đóng ở dưới chữ niên
hiệu, nếu có công văn truyền xuống dưới thì dùng chữ “giáo” ở trên chữ
“truyền sai” còn ấn dấu chỉ được đóng ở dưới chữ hoàng hiệu thôi.

Ấn chương của Hoàng tử, Hoàng thân công tuy ở mỗi phủ đệ riêng biệt
nhưng vẫn phải tuân thủ theo quy chế của phủ Tôn nhân cũng như Hoàng đế
ban hành: về việc cất giữ, niêm phong hòm ấn, chìa khóa hòm ấn phải
chính người được phong cất giữ. Mọi công việc ở phủ nào thì đóng dấu
Hoàng tử, vương công phủ ấy, những quan hệ giữa các Hoàng tử, Hoàng thân
đối với chư nha, lục Bộ v.v… trong vấn đề văn bản giấy tờ, đóng dấu
cũng phải thực hiện đúng như quy định.

Năm 1990 trong đợt công tác ở các tỉnh phía Nam chúng tôi đã in chụp
được một số ấn triện tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh. Trong
số ấn triện đó có một quả ấn bằng đồng lớn của một vương công thuộc
Hoàng tộc triều Nguyễn, xin được giới thiệu quả ấn đồng đó ở cuối đề mục
này.

Ấn có ký hiệu BTLS 1262 chất liệu bằng đồng, hình thể quả ấn đúc hình
con kỳ lân ở thể đứng hơi khụy chân sau, đầu và thân kỳ lân tròn có chạm
hình xoáy dáng nét rất đơn giản hơn nhiều so với Bảo Tỷ hình rồng triều
Nguyễn. Trên thành bệ con lân phía bên trái khắc 5 chữ Hán Trọng tam
cân ngũ lượng, phía bên phải khắc 6 chữ Hán Hoài Đức Quận vương chi ấn.
Mặt ấn không thấy khắc dòng ghi niên đại. Mặt dấu của ấn hình vuông có
kích thước 7,8x7,8cm, viền ngoài dấu để nét đậm cỡ 1,3cm. Bên trong khắc
6 chữ Triện xếp theo 3 hàng, mỗi hàng 2 chữ, đó là sáu chữ Hoài Đức
quận vương chi ấn 懷德郡王之印. Đây là ấn dấu của Hoài Đức Quận vương. (H. 124
a,b)

Việc xác định niên đại quả ấn là cần thiết vì mặt trên ấn chỉ ghi trọng
lượng nặng 3 cân 3 lạng mà không ghi năm chế tạo ấn, đồng thời chúng tôi
cũng muốn xác định một cách chính xác về chủ sở hữu của quả ấn này.

Từ thời Gia Long đã có việc phong tước lấy địa đanh để đặt tên như thân
vương thì lấy tên tỉnh đặt, quận vương, thân công, quận công thì lấy tên
phủ đặt; huyện công, huyện hầu thì lấy tên huyện đặt; hương công, hương
hầu, đình hầu thì lấy tên xã đặt. Hoài Đức Quận vương là vị Quận vương
thời Nguyễn được phong tước lấy tên phủ Hoài Đức để đặt[195].



Qua phả hệ của các vua Nguyễn, chúng tôi được biết Hoài Đức Quận công
Miên Lâm là con thứ 57 của Thánh tổ Nhân Hoàng đế, sinh năm Minh Mệnh
thứ 12 (1833), từ nhỏ đã thông minh hiếu học, giỏi kinh sử. Năm Thiệu
Trị thứ 6 (1846) được tấn phong làm Hoài Đức Quận công, năm Kiến Phúc
thứ 1 (1884) được thăng chức Tôn nhân phủ Tả Tôn nhân, sung Phụ chính
thân thần. Nước loạn ông một lòng trung quân ái quốc được Hàm Nghi phong
là Lạc Quốc công, sau đổi phong là Hoài Đức công. Đời Đồng Khánh ông
giữ chức Tôn nhân phủ Hữu Tôn chính. Đời Thành Thái thứ 1 (1889) sung
làm Phụ chính thân thần, đến mùa thu năm 1894 ông được tấn phong làm
Hoài Đức Quận vương. Năm Thành Thái thứ 9 (1897) ông qua đời thọ 67 tuổi
thụy là Đoan Cung, có đền thờ ở phường thứ 6 thuộc huyện Hương Trà,
Huế. Ông tính trời trung hậu, khiêm tốn, giữ lễ độ, có công dạy con em
trong Hoàng tộc được các triều vua hậu đãi. Ông vừa là một đại thần vừa
là người thân tín của mấy đời vua Nguyễn lúc đó. Như vậy quả ấn đồng
Hoài Đức Quận vương chi ấn trên đã được xác định rõ ràng. Chủ nhân của
nó là Hoài Đức Quận vương Miên Lâm, và ấn đã được làm ra vào mùa thu năm
Thành Thái thứ 6 (1894) thời gian mà Miên Lâm được tấn phong làm Hoài
Đức Quận vương.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:39

CHƯƠNG II

ẤN CHUƠNG Ở MỘT SỐ CƠ QUAN TRUNG UƠNG VÀ TRONG BINH CHẾ QUÂN ĐỘI THỜI
NGUYỄN


I. Ấn chương ở một số cơ quan trung ương thời Nguyễn

Tổ chức hành chính trung ương thời Nguyễn gồm các hệ thống lục Bộ, lục
Tự, chư nha, Giám sát trong đó có rất nhiều các cơ quan khác nhau.

Ở đây chúng tôi chỉ trình bày những cơ quan có liên hệ mật thiết đến ấn
triện như lục Bộ, Nội các; vì điều kiện không cho phép nên việc trình
bày ở đây chỉ mang tính chất giới thiệu để công trình đảm bảo được tính
hệ thống.

1. Nội các với chức năng gắn liền với Kim ngọc Bảo Tỷ và các loại
hình ấn chương khác


Tiền thân của Nội các là Tam nội viện tức Văn phòng của Hoàng đế được
lập từ năm Gia Long thứ 1 (1802). Chức Thượng bảo khanh được đặt ra là
nơi coi giữ các Bảo Tỷ, ấn triện và chịu trách nhiệm “hầu Bảo” khi cần
thiết. Năm 1820 khi lên ngôi, vua Minh Mệnh đã tinh giảm tổ chức Tam nội
viện đổi làm Văn thư phòng. Văn thư phòng không dùng ấn quan mà dùng
Quan phòng chức vụ trong giấy tờ văn bản. Ngay năm này nhà vua đã cho
đúc ấn Quan phòng bằng đồng cho Văn thư phòng. Núm ấn chạm hình rau tảo,
dây đeo màu đen. Mặt ấn hình chữ nhật, dài 1 tấc ngang 7 phân 2 ly, dày
2 phân 2 ly, khắc 5 chữ Triện Văn thư phòng quan phòng.

Xem xét văn bản chữ Hán trong kho Châu bản triều Nguyễn, chúng tôi thấy
hình dấu Văn thư phòng quan phòng đóng trong một bản tấu có niên đại năm
Minh Mệnh thứ 7 (1826). Dấu hình chữ nhật, kích thước 3,2 x4,2cm. Năm
chữ Triện chia 3 hàng, chữ “Phòng” ở giữa dài gấp đôi chữ khác, đó là 5
chữ Văn thư phòng quan phòng 文書防關防. Là ấn Quan phòng của Văn thư
phòng[196]. (H. 125)



Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) Văn thư phòng được đổi làm Nội các với biên
chế lớn hơn và chức năng cũng quan trọng hơn trước. Bốn tào Thượng bảo,
Ký chú, Đồ thư và Biểu bạ được hoàn thiện, trong đó Thượng bảo tào (có
từ năm 1821) là nơi coi giữ các loại Bảo Tỷ cùng Quan phòng, ấn kiềm, Đồ
ký của các nha môn. Những văn bản chữ Hán như các bản thảo chiếu biểu,
bản phó dụ, châu dụ cũng được Thượng bảo tào coi giữ. Khi những chiếu,
chỉ dụ đã được phân định hoặc những bản chương sớ, sách đã được vua xem
xét ưng thuận thì Thượng bảo tào cùng với các cơ quan hữu trách họp
thống nhất và tiến hành “hầu Bảo”. Khi đổi làm Nội các thì ấn Quan phòng
cũng được thay đổi, ấn Văn thư phòng quan phòng cũ được bộ Lễ thu hồi
không dùng nữa và thay vào đó là Quan phòng mới khắc 8 chữ Triện Sung
biện nội các sự vụ quan phòng 充辨內閣事務關防. Trong Châu bản triều Nguyễn còn
lưu giữ một số hình dấu này, dấu có kích thước 3,2x4,2cm, 8 chữ Triện
chia 3 hàng, 2 chữ hàng giữa cao bằng 2/3 mỗi chữ hàng bên[197]. Đây là
Quan phòng các chức quan được sung làm công việc Nội các[198]. Dấu Quan
phòng trên khi đóng trên văn bản được gọi là Quan phòng của người phụng
dụ (ở đầu bài) đóng đối diện mỗi tên người (khi có nhiều người phụng dụ ở
các cơ quan khác nhau cùng chung một văn bản). Hoặc đóng dưới tên mình
(khi chỉ có một người phụng dụ). Đây là bản phụng dụ Thiện bản, tức là
bản sao thị thực của phiếu nghĩ phụng dụ, ở những bài dụ khi đến khâu
“phê phụng” người ta lập thêm một bản sạch sẽ để lưu chiểu nên gọi là
“Thiện bản”. Giá trị của bản sao này cao hơn bản thảo vì nó có dấu Quan
phòng của người phụng dụ. (H. 126)



Những bản có chữ vua phê thì quan Nội các họp cùng trực quan khác để
duyệt, việc thuộc Bộ nào thì Nội các sao ra rồi đóng ấn Quan phòng Sung
biện nội các sự vụ quan phòng đưa cho Bộ ấy thực hiện. Bản chính Nội các
lưu giữ, những bản thảo dụ chỉ vua phê ban xuống, Nội các cùng trực
quan duyệt và quan Nội các viết ra tập khác, nếu viết nhầm phải tẩy sửa
thì những chỗ sửa đó phải đóng ấn Quan phòng của Nội các. Đời Đồng Khánh
sau này, những chỗ sửa chữa đóng dấu kiềm có 2 chữ “Nội các”.

Khi quan Nội các được phê phụng lời chỉ dụ thì sau này cũng phải đóng
dấu Quan phòng Nội các vào đầu trang trước dòng ghi niên hiệu và phải
ghi tên họ viên Nội các phê phụng. Khi vua có ban lời dụ chỉ cho nha môn
nào thì đường quan của nha môn ấy trực tiếp hầu duyệt, sau đó giao bản
cam kết và Quan phòng ấn triện của đường quan ấy lưu tại Nội các tâu
lại, viết rõ rồi đóng ấn Quan phòng của nha môn và cả của Nội các vào
các văn bản đó.

Những tập tấu hoặc sắc văn có Châu phê, Châu cải, Châu khuyên hoặc Châu
điểm thì Nội các lấy ngay bản phụ ấy, hoặc giấy khác viết theo đúng mẫu
trên. Phần cuối viết rõ chữ “Nội các kính sao” rồi đóng ấn Quan phòng
Sung biện nội các sự vụ quan phòng và phát xuống trực ty tuân nhận.
Những bản chính dụ chỉ có Châu phê xuống các địa phương thì Nội các nhận
sao lại rồi viết rõ năm tháng ngày truy sao và kí tên đóng ấn Quan
phòng Nội các làm bằng cứ đối chiếu.

Tất cả những văn bản phải đóng ấn Bảo Tỷ đều được Nội các cùng trực
quan, lục Bộ, Khoa đạo thực hiện hết sức nghiêm cẩn, phạm lỗi nhẹ cũng
bị tội. Năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) chỉ vì giấy niêm vàng phiếu nghĩ bộ
Binh chưa được Châu điểm mà Bộ, Ty không xem kỹ đã vội chuyển cho Nội
các đóng ấn Kim Bảo. Lỗi bị phát hiện, lập tức chức Đãi chiếu ở Nội các
và các viên Tư vụ, thư lại ở bộ Binh đều bị phạt 100 trượng và cách bãi.
Viên Nội các trực cùng Khoa đạo thời điểm đó bị giáng một cấp. Đường
quan bộ Binh chính tay phê phụng và trực thần Nội các đều bị giáng 3
cấp.

Xem xét những tập tiếp theo trong Châu bản triều Nguyễn từ cuối năm
Thiệu Trị thứ 4 (1844) trở đi, chúng tôi phát hiện thấy dấu Quan phòng
Sung biện nội các sự vụ quan phòng có sự thay đổi về kích thước, nội
dung, bố cục và loại chữ của dấu không thay đổi, nhưng cách viết nét chữ
Triện của 2 dấu ở hai thời kỳ trên hoàn toàn khác nhau về kiểu chữ. (H.
127)



Sách chính sử có ghi về vấn đề này. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) nhà
Nguyễn lại có sự cải tổ đối với Nội các, Thượng bảo tào được đổi làm
Thượng bảo sở, Bí thư tào đổi thành Ty luân sở và Biểu bạ tào đổi làm
Bản chương sở. Quan phòng Sung biện nội các sự vụ quan phòng cũng được
khắc lại với hình thức, nội dung như cũ, chỉ khác về kiểu nét chữ Triện.
Cuộc cải tổ này mặc dù đúng theo nguyên tắc cũ nhưng chức năng của Nội
các với những việc được phân chia rõ rệt hơn trước, hình dấu Sung biện
nội các sự vụ quan phòng đánh dấu cho cuộc cải tổ này.

Chức năng của Thượng bảo sở có trọng trách hơn Thượng bảo tào, phụng giữ
chiếu, chỉ, châu thư, kim phượng đồng, Kim ngọc Bảo Tỷ, ấn kiềm, Quan
phòng, Đồ ký, Kiềm ký của Nội các và các nha môn trong kinh ngoài tỉnh,
phụ trách viết chiếu dụ để “hầu Bảo”, và nhiều việc khác.

Cùng với lục Bộ và Khoa đạo, Nội các đóng vai trò quan trọng của bộ ba
để thực hiện chức năng Văn phòng của Hoàng đế, việc “hầu Bảo” đã thực
hiện rõ chức năng này. Khi phải dùng đến Bảo Tỷ Ngự tiền chi bảo, Văn lý
mật sát hoặc Sắc mệnh chi bảo thì nghi thức “hầu Bảo” diễn ra như đã
trình bầy ở mục 3 “Quy cách sử dụng các Kim Ngọc Bảo Tỷ” đã nói ở phần
trên.

Đời Đồng Khánh đã tinh giản chức quan và lại thuộc ở Nội các làm hai
lần: Đợt 1 - năm Đồng Khánh thứ 1 (1886) và đợt 2 - năm Đồng Khánh thứ 2
(1887). Từ đây trở đi Nội các giảm bớt vai trò trung tâm hành chính.

Năm Đồng Khánh nguyên niên (1885), các quan ở Nội các vì thấy ấn Quan
phòng Sung biện nội các sự vụ quan phòng hình thức chỉ đơn giản làm kiểm
tay quai, thế nhỏ và xấu, nét chữ Triện khắc mỏng và thời điểm này
kiêng húy chữ “biện”, nên tâu xin cho đúc Quan phòng mới bằng đồng, hình
thể đẹp hơn, núm hình sư tử ngồi, mặt dấu khắc 8 chữ Triện Sung lý nội
các sự vụ quan phòng 充理內閣事務關防. Đồng thời Nội các lại xin làm 1 kiềm nhỏ
khắc 2 chữ Nội các 內閣. Sau đó các ấn đã được đúc và sử dụng.

Chúng tôi cũng đã in được dấu kiềm Nội các trong Châu bản triều Nguyễn ở
tập đời Đồng Khánh nguyên niên, dấu hình vuông kích thước 2,2x2,2cm,
khắc 2 chữ Triện Nội các, được đóng ở nơi giáp trang và chỗ sửa
chữa[199]. (H. 128)



Đến giữa năm Đồng Khánh thứ 1 (1886) các đại thần ở Viện cơ mật tâu hạch
tội của Nội các về việc làm trên cho rằng Nội các cố tình làm trái lệ
cũ về hình thức của ấn, và lại đúc thêm kiềm nhỏ, như vậy khi phê phụng
không biết dùng thế nào. Dấu Quan phòng của Nội các chỉ dùng cho nha môn
ở các tỉnh. Họ yêu cầu thu lại Quan phòng Sung lý nội các sự vụ quan
phòng và Kiềm nhỏ Nội các để hủy, theo mẫu cũ làm lại như xưa. Đồng
Khánh đã nhất trí với các đại thần Cơ mật viện và phạt 3 viên quan Nội
các là Cao Đệ, Phạm Phú Lâm và Nguyễn Văn Trung 9 tháng lương.

Những chi tiết này đã giải quyết cho chúng tôi điều thắc mắc về sự vắng
mặt của dấu Sung lý nội các sự vụ quan phòng trong bảng sưu tập. Như vậy
chúng ta thấy rõ quy chế về việc làm và sử dụng ấn triện đến đời Đồng
Khánh đã bị vi phạm song song với việc Đồng Khánh tinh giảm chức quan và
lại điển không riêng gì ở Nội các.

Ngày 2 tháng 5 năm 1935 Nội các đã được thay thế bằng Ngự tiền Văn phòng
do Bảo Đại thiết lập, chấm dứt 104 năm hoạt động.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:39

2. Ấn chương ở hệ thống lục Bộ

Lục Bộ 六部 gồm có 6 Bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Lục Bộ là hệ thống
quan trọng và lớn nhất trong các hệ thống cơ quan trung ương thời
Nguyễn, do đó việc giới thiệu ấn chương ở hệ thống lục Bộ là việc làm
cần thiết. Việc giới thiệu sẽ không riêng ra từng Bộ mà trình bày chung
để đảm bảo tính thống nhất của ấn chương trong hệ thống này.

Năm 1804 khi mới thành lập lục Bộ, Gia Long mô phỏng theo cơ cấu tổ chức
tên hiệu, chức danh, phẩm trật của lục Bộ thời trước. Đứng đầu mỗi Bộ
là chức Thượng thư rồi đến Tham tri, Thiêm sự, Câu kê, Thủ hợp. Thuộc
viên gọi là Lệnh sử ty, Bản ty. Từ tháng 2 năm 1804 Gia Long đã đặt quốc
hiệu là Việt Nam, đồng thời cho đúc ấn 6 Bộ. Ấn khắc 5 chữ Triện (Mỗ)
bộ đường chi ấn (Ví dụ ấn của bộ Lễ là Lễ bộ đường chi ấn). Các Kiềm ấn
của mỗi Bộ khắc 4 chữ Triện là Khâm ty (Bộ mỗ) chính, riêng bộ Lễ Kiềm
ấn khắc 4 chữ Khâm ty lễ điển.

Hiện nay trong Châu bản triều Nguyễn đời Gia Long còn lưu giữ một số ấn
các Bộ. Trong bản công văn đề niên hiệu Gia Long chúng tôi đã sao lại
được hình dấu của bộ Lễ. Dấu có kích thước 9,2x9,2cm. Viền ngoài để
khuôn rộng 1cm, 5 chữ Triện bên trong xếp 3 hàng, chữ “Đường” 堂 ở giữa
to gấp đôi các chữ khác, là 5 chữ Lễ bộ đường chi ấn 禮部堂之印 (ấn của bộ
Lễ)[200]. (H. 129)



Dấu đóng ở đoạn chữ “Nguyệt” 月 dòng ghi niên hiệu đời Gia Long thứ 5
(1806). Mặt trước trang có dấu ghi dòng chữ Hán: Lễ bộ Thượng thư nguyên
thự lại bộ thần Nguyễn Đăng Hưng. Đây là ấn dấu của Thượng thư bộ Lễ
Nguyễn Đăng Hưng, nguyên giữ chức quyền thự bộ Lại. Thực chất đây là ấn
dấu của Thượng thư bộ Lễ. Thời đầu Gia Long, tổ chức trung ương mới hình
thành, số văn quan vừa có tài vừa có công trạng không nhiều, nên việc
kiêm nhiệm chức vụ là việc tất yếu.

Khi mới lên ngôi, Minh Mệnh đã tiến hành cải cách chính quyền trung
ương, trong đó có lục Bộ. Đến năm 1827, tổ chức hàng ngũ lãnh đạo cấp Bộ
mới được hoàn thiện, chức Thượng thư và Tham tri vẫn giữ nguyên. Tiếp
theo là việc bổ nhiệm các chức Thị lang, Lang trung, Viên ngoại lang,
Chủ sự, Tư vụ và các Lại điển. Việc thay đổi chức vụ quan chế cấp Bộ
cũng dẫn đến việc thay đổi ấn triện cho từng chức vụ để phù hợp với thực
tại, nhưng phải đến cuối năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), việc thay đổi ấn
kiềm và cấp ấn kiềm trong cấp Bộ mới được hoàn thiện.

Trong việc thay đổi ấn triện cấp Bộ, thì những ấn kiềm cũng được thu hồi
không dùng nữa, thay vào đó là ấn mới trang trọng hơn. Ấn mới bằng bạc
trắng đúc hình con kỳ lân, vuông 2 tấc 1 phân, dày 3 phân 6 ly, khuôn
dấu dưới hình vuông có kích thước 9x9cm, khắc 4 chữ Triện (Mỗ) bộ chi
ấn. Như vậy chữ “Đường” 堂 trong ấn dấu cũ đã được lược bỏ đi, đồng thời
đúc các kiềm bằng ngà cho lục Bộ để thay thế kiềm cũ. Kiềm mới làm theo
hình tháp bằng đầu, khuôn dấu hình vuông 2,7x2,7cm, khắc 2 chữ Triện
(Mỗ) bộ. Tự dạng ở ấn lớn và kiềm nhỏ được khắc chung một kiểu chữ.

Vua Minh Mệnh rất chú trọng hệ thống lục Bộ, Thượng thư ở mỗi Bộ được
coi là chức quan cao nhất trong hàng ngũ văn quan, nên hình thức ấn cấp
Bộ được làm theo hình kỳ lân, chỉ sau Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế. Ở
tập Công văn cổ chỉ trong tờ “Tư di” (Công văn chuyển di) có hình con
dấu kích thước 9x9cm, viền ngoài đậm 1cm, 4 chữ Triện Hình bộ chi ấn
刑部之印 (ấn của bộ Hình) khắc vuông vức. Dấu đóng trên chữ “Nguyệt” dòng
ghi niên hiệu: Minh Mệnh thập tam niên chính nguyệt thập ngũ nhật (Ngày
15 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 13 [1832]). Bên cạnh là dòng chữ Hán Thừa
Thiên phủ dĩ bắc chí Hà Nội chư địa phương quan. Đây là bản công văn
chuyển đi cho các địa phương quan từ phủ Thừa Thiên ra Bắc đến Hà Nội.
Phần giáp trang ở phía dưới của văn bản này có hình dấu kiềm, đóng 2 chữ
Triện Hình bộ. Kích thước 2,7x2,7cm, kiểu chữ giống ấn lớn Hình bộ chi
ấn trên. Đây là dấu kiềm của bộ Hình cùng cặp với ấn lớn, chuyên dùng
đóng chỗ tẩy xóa và nơi giáp trang trên các văn bản chữ Hán của Bộ. (H.
130)

Bên cạnh ấn kiềm của cơ quan Bộ thì từ Thượng thư trở xuống đến Tả, Hữu
Thị lang, Biện lý của lục Bộ đều được sử dụng ấn Quan phòng chức vụ. Năm
1820 Minh Mệnh đã cho làm Quan phòng chức vụ của Thượng thư lục Bộ,
chất liệu bằng bạc, núm ấn hình sư tử, dài 9 phân, ngang 6 phân 3 ly,
dầy 2 phân 7 ly, dây đeo ấn mầu vàng. Quan phòng của Tham tri, Thị lang,
Biện lý lục Bộ chất liệu bằng ngà, núm ấn hình chuôi vồ dài 8 phân 4
ly, ngang 5 phân 4 ly.

Một số tập trong Châu bản triều Nguyễn còn lưu giữ nhiều hình dấu Quan
phòng chức vụ của Thượng thư, Tả, Hữu Tham tri, Tả, Hữu Thị lang, Biện
lý ở lục Bộ và một số Quan phòng chức vụ của các quan chức khác. Những
hình dấu này đóng trên tập biên bản ghi về hội nghị Công đồng của triều
đình Nguyễn. Hội nghị Công đồng[201] là đại hội công nghị một tháng họp
một lần 4 ngày liền, vua tham khảo ý kiến đình thần để quyết định những
việc trọng đại. Biên bản ghi nội dung hội nghị, đoạn ghi ngày tháng của
dòng niên hiệu được đóng ấn lớn Công đồng chi ấn. Ví dụ một văn bản
trong có dòng niên hiệu ghi Gia Long tứ niên cửu nguyệt thập cửu nhật
(Ngày 19 tháng 9 năm Gia Long thứ 4 [1805]), có lưu hình dấu đóng dưới
chữ cửu nhật. Dấu hình vuông kích thước 9,6x9,6cm, bốn chữ Triện bên
trong chia 2 hàng là 4 chữ Công đồng chi ấn 公同之印. (H. 131)

Đây là ấn của Sở Công đồng. Phía dưới dấu Công đồng thường có một loạt
Quan phòng nhỏ đại diện cho mỗi Bộ hoặc một cơ quan, binh chủng được dự
họp.

Trong quyển 18 - Chư bộ Nha - Minh Mệnh thứ 7, Châu bản triều Nguyễn
hiện lưu giữ nhiều hình dấu Quan phòng chức vụ của các chức quan cấp Bộ
dưới đây.

- Dấu của Thượng thư bộ Lại có cỡ 2,5x3,8cm, 6 chữ Triện bên trong chia
làm 3 hàng là chữ Lại bộ thượng thư quan phòng 吏部尚書關防, dấu đóng dưới
dòng chữ Hán Lại bộ thượng thư kiêm quản tào chính sự vụ thần Trần Lợi
Trinh. Đây là dấu Quan phòng của đại thần Trần Lợi Trinh giữ chức Thượng
thư bộ Lại kiêm Quản Tào chính sự vụ. (H. 132)





- Dấu Hình bộ thượng thư quan phòng 刑部尚書關防 đóng dưới dòng chữ Thự hình
bộ thượng thư thần Hoàng Kim Xán. Là dấu Quan phòng của đại thần Hoàng
Kim Xán giữ chức quyền Thượng thư bộ Hình. Dấu có kích thước bằng dấu
của bộ Lại. (H. 133)



- Dấu Công bộ thượng thư quan phòng 工部尚書關防 đóng dưới dòng chữ Công bộ
thượng thư thần Trần Văn Tính. Là dấu Quan phòng của Thượng thư bộ Công
Trần Văn Tính. Dấu có kích thước bằng hai dấu trên. (H. 134)



- Dấu Lễ bộ tả tham tri quan phòng 禮部左參知關防 có kích thước 2,1x3,3cm đóng
dưới dòng chữ Lễ bộ tả tham tri thần Nguyễn Đăng Tuân. Là dấu Quan phòng
của Nguyễn Đăng Tuân giữ chức Tả Tham tri bộ Lễ. (H. 135)

- Dấu Hộ bộ hữu tham tri quan phòng 戶部右參知關防 đóng dưới dòng chữ Thự hộ bộ
hữu tham tri thần Hoàng Văn Diễn. Có kích thước 2,1x3,3cm. Đây là dấu
Quan phòng của quyền Hữu Tham tri bộ Hộ Hoàng Văn Diễn. (H. 136)


Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:39

- Dấu Công bộ tả tham tri quan phòng 工部左參知關防 có kích thước 2,1x3,3cm.
Đóng dưới dòng chữ Thự công bộ tả tham tri thần Bùi Đức Cẩn. Là dấu Quan
phòng của Bùi Đức Cẩn giữ chức quyền Tả Tham tri bộ Công (H. 137)



- Dấu Binh bộ hữu tham tri quan phòng 兵部右參知關防 có kích thước 2,1x3,3cm.
Đóng dưới chữ Thự binh bộ hữu tham tri Hoàng Văn Quyền, là dấu Quan
phòng của Hoàng Văn Quyền giữ chức quyền Hữu Tham tri bộ Binh. (H. 138)



- Dấu Biện lý hộ bộ quan phòng 辨理戶部關防 có kích thước 2,1x3.3cm. Đóng dưới
chữ Cai bạ[202] biện lý hộ bộ sự vụ thần Nguyễn Đức Hội. Là dấu Quan
phòng của chức Cai bạ kiêm Biện lý sự vụ ở bộ Hộ tên là Nguyễn Đức Hội.
(H. 139)



- Dấu Biện lý binh bộ quan phòng 辨理兵部關防 có kích thước 2,1x3,3cm, đóng
dưới dòng chữ Cai bạ biện lý binh bộ sự vụ thần Đặng Văn Hòa. Là dấu
Quan phòng của chức Cai bạ kiêm Biện lý sự vụ bộ Binh tên là Đặng Văn
Hòa. (H. 140)
- Dấu Biện lý hình bộ quan phòng 辨理刑部關防 có kích thước 2,1x3,3cm, đóng
dưới dòng chữ Hiệp trấn[203] biện lý hình bộ sự vụ thần Nguyễn Kim Bảng.
Là dấu Quan phòng của Nguyễn Kim Bảng, giữ chức Hiệp trấn kiêm Biện lý
sự vụ bộ Hình. (H. 141)



- Dấu Lại bộ hữu thị lang quan phòng 吏部右侍郎關防 có kích thước 2,1x3,3cm,
đóng dưới dòng chữ Lại bộ hữu thị lang thần Doãn Uẩn. Là dấu Quan phòng
của Hữu Thị lang bộ Lại Doãn Uẩn. (H. 142)



Qua 11 hình dấu được dẫn chứng trên[204] chúng tôi thấy:

- Dấu Quan phòng chức vụ của Thượng thư các Bộ có cùng kích thước và lớn
hơn ấn dấu các chức khác.

- Người quyền thự chức, tuy văn bản có ghi rõ là “Thự” (Tạm quyền) nhưng
ở dấu lớn vẫn giữ nguyên chính thức, không có chữ “Thự” 署 trong dấu.

- Tỷ lệ kiêm chức ở cấp Bộ tương đối nhiều như viên Thượng thư bộ Lại
Trần Lợi Trinh kiêm quản cả Tào chính sự vụ.

- Thời Gia Long cho đến đầu Minh Mệnh, chức Biện lý ở các Bộ đều do các
chức Phó quan ở chính quyền địa phương cấp tỉnh kiêm quản, như viên Hiệp
trấn Nguyễn Kim Bảng kiêm nhiệm cả chức Biện lý bộ Hình. Hai viên Biện
lý ở bộ Hộ là Nguyễn Đức Hội, bộ Binh là Đặng Văn Hòa đều đương nhiệm
chức Cai bạ.

Ở hệ thống lục Bộ còn một loại ấn kiềm nữa được làm ngay từ đầu đời vua
Minh Mệnh. Sử cũ ghi lại: “… Chế tạo ấn bằng ngà dùng những lúc xuất
hành cho bộ Binh, nay chuẩn cho quan Hữu tư theo kiểu mẫu chế thêm cho
các bộ Lại, Hộ, Lễ, Hình, Công mỗi bộ đều một quả ấn dùng lúc hành quân
và 6 Bộ đều một dấu kiềm bằng ngà. Sau đây phàm ngày đi tuần hạnh, viên
nào là đường quan ở Bộ nào sử dụng đi Hộ giá thì lĩnh ấn dùng đi đường,
còn viên nào lưu ở Bộ làm việc, vẫn giữ ấn Bộ dùng thường lệ”[205].

Trong quyển 17 - Thiệu Trị thứ 2[206], chúng tôi đã tìm thấy hình dấu
của loại ấn này. Dấu hình vuông, kích thước 4,2x4,2cm. Bốn chữ Triện
chia 2 hàng, mỗi chữ xếp theo hình vuông 1x1cm là chữ Binh bộ hành ấn
兵部行印. Dấu được đóng dưới dòng chữ ghi niên hiệu ngày tháng, vào ngày 13
tháng 8 Thiệu Trị thứ 2 (1842). (H. 143)



Như vậy 5 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công đều có ấn dấu riêng cùng
kích thước và kiểu loại như dấu Binh bộ hành ấn trên. Loại ấn này dùng
khi việc Hộ giá tuần hạnh xong đến ngày hồi loan, thì viên đường quan
theo Hộ giá ấy mang ấn kiềm này nộp cho Nội các cất đi, khi nào có việc
xuất hành thì đến Nội các nhận mang theo sử dụng.

Trong hàng văn quan, Thượng thư là chức quan cao nhất, nhưng phẩm trật
cũng chỉ là Chánh nhị phẩm. Triều Minh Mệnh còn đặt ra những chức hàm
Đại học sĩ: Cần chánh, Đông các, Võ hiển, Văn minh và Hiệp biện đều có
phẩm trật cao hơn Thượng thư. Chức Thượng thư có khi được gia phong hàm
chức Đại học sĩ với trật phẩm cao nhất, thực ra đó chỉ là vinh hàm để
tăng thêm uy lực của các Thượng thư, thậm chí có người kiêm nhiệm nhiều
chức vụ như Trương Đăng Quế là Thượng thư bộ Binh triều Tự Đức.

Trong quyển 119 - Tự Đức[207], chúng tôi in lại được hình dấu của đại
thần Trương Đăng Quế. Dấu hình chữ nhật có cỡ 3x4cm lớn hơn dấu Thượng
thư, 3 hàng 8 chữ Triện Cần chánh điện đại học sĩ quan phòng 勤政殿大學士關防
(Quan phòng của Cần chánh điện Đại học sĩ). Dấu đóng ở mấy dòng chữ Hán
Thái bảo Cần Chánh điện đại học sĩ quản lý binh bộ sự vụ sung cơ mật
viện đại thần sung kinh diên giảng quan kiêm lãnh khâm thiên giám sung
sử quản tổng tài tuy thịnh quận công thần Trương Đăng Quế - Niên đại của
văn bản có hình dấu này ghi năm Tự Đức thứ 13 (1860) - Tuy Thịnh Quận
công Trương Đăng Quế với chức hàm Thái bảo Cần Chánh điện Đại học sĩ, là
Thượng thư bộ Binh và một đại thần của Viện cơ mật, sung kinh diên
giảng quan, quan lãnh cả Khâm thiên giám và là Tổng tài của Quốc sử
quán. Nhiều chức vụ như vậy nhưng điểm nổi bật của Trương Đăng Quế là
một đại thần với chức Thượng thư bộ Binh trong giai đoạn lực lượng quân
đội được coi trọng. (H. 144)



Về chức năng của một vài Bộ có liên quan đến ấn dấu, như bộ Lại gồm 5
Ty, trong đó Ty Lại ấn 吏印司 do các ty lần lượt phái nhân viên phụng giữ
ấn của Bộ, tiếp nhận chương sớ và tờ tư, trình Đường quan rồi chuyển
giao cho các Ty chiếu biện, cứ 1 tháng thì hết hạn luân phiên.

Ty Lại trực 吏直司 do các Ty lần lượt phái chuyên viên viết bài trình tiến
và viết tinh tả phiếu nghĩ để trực hầu đóng dấu ấn vàng.

Bộ Lễ là Bộ có liên hệ mật thiết nhất với Bảo Tỷ của Hoàng đế và việc
phong sách ấn cho Hoàng thái hậu, đến các vương công Hoàng tộc và các
loại hình ấn triện khác. Các định lệ về việc đúc ấn vàng, chế tạo các ấn
kiềm, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký và Triện đều do bộ Lễ phân chia từng
loại tâu lên, nhà vua phê chuẩn rồi tư cho các nơi thi hành. Sử cũ còn
ghi: “Phàm khi có đúc ấn bằng bạc, Quan phòng bằng bạc, ấn đồng, Quan
phòng, Ký Triện bằng đồng hoặc khi chế Quan phòng bằng ngà, Ký Triện
bằng gỗ bộ Lễ tư cho Hữu tư theo đúng kiểu thức mà chế tạo. Chế xong bộ
trình lên giao cho Nội các cất giữ đợi ban cấp. Nếu lâu ngày bị hao mòn,
tùy ấn đó bằng bạc, đồng hay ngà, căn cứ khai báo, bộ tâu xin cấp thay
con dấu khác… Nếu là ấn gỗ thì ở kinh đô ngành văn do bộ Lại, ngành võ
do bộ Binh, ở ngoài do quan Thượng ty các hạt theo y thể thức chế ra mà
cấp và thu hồi tiêu hủy ấn cũ, không cần tâu xin”[208].
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:40

II. Ấn chương trong binh chế quân đội thời Nguyễn

1. Tổ chức quân đội và ấn dấu của một số danh tướng đầu thời Nguyễn


Quân đội nhà Nguyễn có tiền thân từ thời các chúa Nguyễn. Trong thời kỳ
chiến tranh với nhà Tây Sơn, quân đội là lực lượng căn bản để thành lập
nhà Nguyễn, và sau này khi nhà Nguyễn đã giành được quyền thống trị thì
quân đội trở thành một bộ phận quan trọng của nhà nước phong kiến Việt
Nam đương thời.

Khi Nguyễn Phúc Ánh xưng vương ở Sài Gòn (năm 1780) thì quân đội nhà
Nguyễn đã được tổ chức và trang bị tương đối đầy đủ. Biên chế quân đội
Nguyễn theo hình thức Ngũ chế, mỗi bậc chia làm năm: Trung, Tiền, Tả,
Hữu, Hậu. Cấp Quân là cấp cao nhất và được chia làm năm Quân: Trung
quân, Tiền quân, Tả quân, Hữu quân và Hậu quân. Mỗi Quân có một viên
Chưởng phủ sự hay một chức Đô thống đứng đầu, thường được ghi là Đô
thống phủ chưởng phủ sự. Có binh chủng đặt Doanh không đặt Quân, cấp
Doanh nhỏ hơn cấp Quân, mỗi Doanh có 5 Vệ đều do một chức Đô thống hay
một quan Thống chế chỉ huy, dưới cấp Quân, Doanh là cấp Vệ hoặc Cơ, dưới
Vệ, Cơ là cấp Đội, Thuyền.

Sau này khi chiến tranh chấm dứt, nhà Nguyễn đặt riêng lực lượng quân
đội ở kinh gồm ba loại: Thân binh, Cấm binh và Tinh binh. Mỗi Binh chia
làm các Doanh, Vệ hoặc Viện, thuộc cấp có các Đội, Ban. Năm Minh Mệnh
thứ 12 (1831) đặt cấp tỉnh, đứng đầu quân binh ở tỉnh là chức Đề đốc
hoặc Lãnh binh, Phó Lãnh binh, tùy từng tỉnh lớn hay nhỏ mà đặt cấp số
Vệ, Cơ, Đội nhất định.

Hàng ngũ tướng tá trong quân đội, từ Đại tướng đứng đầu Quân cho đến
Viên chỉ huy ở cấp Đội, Thuyền đều được ban cấp ấn kiềm, Quan phòng hoặc
Đồ ký để dùng trong việc quân binh. Mặt ấn dấu thường khắc tên đơn vị,
tên chức vụ, hoặc cả tên đơn vị và tên chức vụ trong một quả ấn.

Thời Gia Long Nguyễn Ánh cho đến giai đoạn đầu triều Minh Mệnh, tướng
lĩnh trong quân đội giữ vị trí then chốt trong chính quyền. Hầu hết các
Đại tướng đứng đầu năm Quân đều là những đại thần quan trọng của triều
đình. Chức vụ và quyền hạn của tướng lĩnh hơn hẳn các văn quan mặc dầu
phẩm trật có ngang nhau. Sự biến đổi từ những đại tướng cầm quân trong
chiến trận trở thành viên quan cai trị về mặt hành chính các cấp là đặc
trưng nổi bật của tổ chức hành chính quan chế đầu thời Nguyễn.

Nhiều tướng tài theo giúp Nguyễn Ánh, nhưng khi chiến tranh chấm dứt chỉ
còn lại số ít tướng lĩnh có tên tuổi như Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn
Nhân, Lê Văn Duyệt v.v… Họ đều là những Đại tướng đứng đầu một trong các
Quân, khi được phong chức các tướng trên đều được nhận ấn tín. Ấn tín ở
đây biểu thị cho quyền lực của viên tướng và pháp lệnh của vương triều
đối với quân đội và cả dân chúng. Sử liệu đã giúp ta biết được ấn của
năm tướng ở năm Quân đều được làm bằng đồng, phần núm ấn đúc hình kỳ
lân, mặt dấu hình vuông, kích thước 2 tấc, 1 phân 6 ly, trọng lượng và
thể tích rất lớn chỉ sau một số Bảo Tỷ của Hoàng đế Nguyễn. Những hiện
vật ấn tín này đáng tiếc cho đến nay hầu hết không còn giữ được.

Hiện vật tuy đã mất nhưng dấu tích vẫn còn. Trong tập Công văn cựu chỉ
còn lưu giữ hình dấu của Tiền quân Nguyễn Văn Thành, dấu hình vuông cỡ
9,3x9,3cm, bốn chữ Triện vuông vức xếp theo hai hàng là 4 chữ Tiền quân
chi ấn 前軍之印 (ấn của Tiền quân). Dấu được đóng ở dưới dòng ghi niên hiệu
Gia Long nguyên niên bát nguyệt sơ thất nhật. Trước trang có hình dấu là
trang có dòng chữ Hán Khâm sai chưởng tiền quân bình tây đại tướng quân
quận công. (H. 145)

Việc khẳng định con dấu này là của Nguyễn Văn Thành là chính xác. Sử cũ
ghi: “… Cho Khâm sai chưởng Tiền quân Bình tây Đại tướng quân điều bát
chư đạo Bộ binh Quận công”[209]. Con dấu Tiền quân chi ấn của Nguyễn Văn
Thành được đóng vào ngày 7 tháng 8 năm Gia Long thứ 1 (1802) trong một
văn bản chữ Hán ngắn gọn nói về huyện Lạc Thổ, phủ Thiên Quan, xứ Thanh
Hoa ngoại.



Châu bản triều Nguyễn đã giúp chúng tôi tìm được dấu tích của những
tướng lĩnh khác ngoài Nguyễn Văn Thành. Trong quyển 2 trang 239 đời Gia
Long có hình dấu vuông cỡ lớn màu son, kích cỡ, bố cục, tự dạng đều
giống như dấu Tiền quân chi ấn chỉ khác bốn chữ Triện bên trong là Hữu
quân chi ấn 右軍之印 (ấn của Hữu quân). Trang bên còn ghi rõ dòng chữ Hán
Khâm sai chưởng hữu quân thần Nguyễn Văn Nhân. Sử cũ ghi lại khi theo
Nguyễn Ánh thì Nguyễn Văn Nhân mới là Cai đội, khi chiến tranh chấm dứt
Nguyễn Văn Nhân được thăng là Khâm sai chưởng Hữu quân Bình Tây tướng
quân. (H. 146)



Gần đây trong bài Chủ nhân ấn đồng năm 1802 ? hai tác giả Nguyễn Hữu
Thông và Nguyễn Văn Đăng đã giới thiệu quả ấn Tả quân chi ấn mà họ đã
tìm được ở Huế năm 1992. Xin được trích dẫn bài viết trên.

“Ấn được đúc bằng đồng thau. Hình thể quả ấn gồm 2 phần:

Phần núm đúc hình con kỳ lân, miệng ngậm hạt châu, đầu to ngẩng cao,
thân tròn, đuôi đài vượt quá phần thân. Hai bên hông từ chân đến lưng có
4 dải trang trí đao lửa đúc nổi; sống lưng chạm vân thủy ba. Dáng nét
tinh xảo, bề thế. Toàn bộ chiều cao của núm ấn (con lân) và thân ấn là
7,2cm.

Phần thân ấn (hay bệ ấn) dày 2,1cm, phần dưới cao 1,45cm, 4 rìa cạnh
phần mặt trên của thân ấn được vát xiên, mép vát, rộng 1,25cm. Mặt trên
thành thân ấn, phía trái con lân khảm 4 chữ Hán, kiểu chữ chân: Tả quân
chi ấn. Phía phải khảm 8 chữ Hán cùng kiểu Nhâm Tuất trọng xuân cát nhật
giám tạo (Tu tạo vào ngày tốt tháng 2 năm Nhâm Tuất). Trọng lượng ấn
như một số loạt ấn khác cân được 1,82kg. Cả hai dòng chữ trên đều được
khảm bạc sắc nét, trải qua bao sự biến vết khảm vẫn còn khá nguyên vẹn.

Mặt dấu của ấn hình vuông có kích thước 9,25x9,25cm. Bốn chữ Triện xếp
theo hai hàng, nét khắc sâu đậm. Nét nổi và nét khắc rất đều và cân xứng
nhau, mỗi nét rộng 0,025cm. Đó là 4 chữ Tả quân chi ấn”[210]. (H. 147)

Qua xem xét đối chiếu và dựa trên các bộ chính sử thời Nguyễn, hai tác
giả đã có những nhận định xác đáng về niên đại đúc ấn và khẳng định chủ
nhân của chiếc ấn trên là Tả quân Lê Văn Duyệt.



Cũng trong tập Châu bản triều Nguyễn trên, chúng tôi đã tìm thấy hình
dấu của Tả quân Lê Văn Duyệt, dấu có kích cỡ, bố cục tự dạng như hai dấu
của Tiền quân Nguyễn Văn Thành và Hữu quân Nguyễn Văn Nhân, chỉ khác
bốn chữ Triện bên trong là Tả quân chi ấn 左軍之印 (ấn của Tả quân). Sách sử
đã ghi lại, Lê Văn Duyệt là một thái giám trẻ, theo phò Nguyễn Ánh lập
nhiều công trạng. Trong chiến tranh, Duyệt giữ chức Đô Thống chế Tả dinh
quân Thần sách. Năm 1802 ông được phong làm Khâm sai chương Tả quân
Bình tây tướng quân. (H. 148)



Những danh tướng trên, khi chiến tranh chấm dứt lập tức phải nhận trọng
trách mới là công việc tổ chức quản lý hành chính. Những công văn tấu sớ
gửi về kinh với hình dấu quân đội mà nội dung nhiều khi là việc dân sự.
Đây là giai đoạn chuyển tiếp, mặt tổ chức hành chính quan chức chế được
thay đổi và tất yếu xuất hiện một loại ấn triện mới để phù hợp với thực
tại, do đó có sự biến đổi từ những tướng lĩnh cầm quân trở thành đại
quan cai trị về mặt hành chính các cấp, đó là đặc trưng nổi bật của tổ
chức hành chính quan chế đầu thời Nguyễn. Tháng 9 năm 1802 Nguyễn Văn
Thành được phong làm Tổng trấn Bắc thành và sử dụng bộ ấn kiềm mới Bắc
thành tổng trấn chi ấn. Tháng 9 năm 1808 Nguyễn Văn Nhân được phong làm
Tổng trấn Gia Định thành và dùng bộ ấn kiềm Gia Định thành tổng trấn chi
ấn. Còn Lê Văn Duyệt đến mùa thu năm 1820 lĩnh chức Tổng trấn Gia Định
thành thay Nguyễn Văn Nhân và nhận lại bộ ấn kiềm mới của thành Gia
Định. Trên thực tế lúc bấy giờ ngoài cấp thành, quan chức đứng đầu cấp
trấn, doanh, đạo hầu hết đều do các võ quan đảm nhiệm.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:40

2. Những quy định làm ấn, kiềm, Quan phòng, Đồ ký của tướng tá
quân đội thời Nguyễn


Ấn, kiềm, Quan Phòng, Đồ ký của các tướng tá quân đội Nguyễn được làm ra
trên cơ sở những quy chế chung về chất liệu hình thể, kích cỡ, kiểu chữ
khắc và quyền sử dụng. Những quy chế này được ban hành và thực thi chủ
yếu ở đời Minh Mệnh và Thiệu Trị. Giai đoạn này và tiếp sau đó, binh chế
quân đội vẫn giữ nguyên cơ cấu cũ nên quy chế về ấn triện tương đối ổn
định.

Khi lên ngôi Minh Mệnh rất chú trọng đến việc đúc ấn và sử dụng ấn trong
quân đội. Sử cũ ghi: “Minh Mệnh năm đầu chỉ dụ: Chuẩn cho đúc các quả
ấn bằng đồng cho: Tả Thống chế quân Thị trung, Hữu Thống chế quân Thị
trung, Thống chế dinh Thần cơ quân Thị nội, Thống chế dinh Huyền vũ quân
Thị nội đều vuông 1 tấc 7 phân 6 ly, dầy 3 phân 2 ly, núm chạm con sư
tử, dây đeo ấn màu xanh”[211].

Một loạt ấn, Quan phòng được làm tiếp theo - Chức Giám Thần sách quân,
Chưởng Tượng quân, Chưởng Hậu quân được cấp Quan phòng bằng bạc núm hình
kì lân. Thống chế Ngũ dinh, phó tướng Ngũ quân, Thống chế Kinh tượng
dùng ấn chứ không dùng Quan phòng chức vụ. Quan phòng của năm dinh Thần
sách, Đô thống chế và Thống chế 4 dinh: Thần cơ, Tiên phong, Long vũ, Hổ
oai cùng Quan phòng của Tả Hữu Đô thống quân Vũ lâm đều làm núm hình sư
tử. Chức Tả, Hữu Thống chế, Chưởng Trung quân, Tiền quân, chưởng Thủy
quân, Thống chế các quân, các dinh: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu dùng Quan
phòng như trên. Chức quyền thự như “Thống chế thự tướng quân” thì dùng
Quan phòng bằng ngà, kích thước bằng dấu của chức Chưởng Tiền quân v.v…

Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) nhà vua lại cho đúc ấn đồng cho Phó tướng Ngũ
quân: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu núm ấn làm hình con hổ, khắc 6 chữ
Triện (Mỗ) quân phó tướng chi ấn và ban cấp một kiềm ấn bằng ngà. Đồng
thời chế tiếp Quan phòng chức vụ cho các Phó tướng trên, cũng khắc 6 chữ
Triện: (Mỗ) quân phó tướng quan phòng. Sau đó đúc Quan phòng bằng đồng,
kiềm ấn bằng ngà cho các đơn vị Hùng cự, Ngũ kích, các vệ cơ Tượng
binh.

Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) nhà vua lệnh chọn ngày tốt để đúc ấn cho
tướng lĩnh cao cấp. Ấn Thảo nghịch đại tướng quân vuông 2 tấc 3 phân,
dầy 6 phân 3 ly, ấn Thảo nghịch hữu tướng quân, ấn Thảo nghịch tả tướng
quân, ấn Bình nam tướng quân, các ấn Trấn tây, An viễn và Phủ biên tướng
quân đều làm hai tầng, núm đúc hình con hổ, vuông 2 tấc 1 phân, dầy 5
phân 4 ly. Mỗi ấn kèm một Kiềm ấn bằng ngà. Riêng ấn Trấn tây tướng
quân, ấn An viễn tướng quân và Phủ biên tướng quân đến năm Minh Mệnh thứ
15 (1834) được đúc một ấn nữa bằng bạc, hình thức như cũ, cùng kiềm ấn
giao cho Nội các giữ phòng sử dụng[212].

Từ năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) đến hết triều Minh Mệnh nhà Nguyễn đã
nhiều đợt cho chế tác ấn kiềm, Quan phòng cho tướng tá các đơn vị như
Thống chế bốn dinh, Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu, Đô thống ngũ quân; Đề
đốc, Lãnh binh, Phó Lãnh binh các tỉnh; Kinh kỳ Thủy sư Đô thống và Kinh
kỳ Thủy sư Đô đốc v.v…

Đời Thiệu Trị có bổ sung thêm số ít ấn triện, Quan phòng như việc đặt
chức chuyên viên Thống quản của dinh Kỳ vũ và ban cấp cho một ấn Quan
phòng bằng đồng, một Kiềm ấn ngà để dùng. Chức Thống quản cho xứ Thị vệ
dùng ấn Quan phòng bằng bạc khắc Thống quản thị vệ quan phòng.

Những đơn vị cấp cơ sở của quân đội như các Vệ nhỏ thuộc quân Thần sách
và hơn 100 Cơ chính quy cùng Vệ, Cơ của các quân ở kinh, thành, dinh,
trấn, (tỉnh) đều được cấp một Đồ ký bằng đồng, núm ấn hình tay quai
(Vòng tròn) một kiềm ấn bằng gỗ để dùng. Các hiệu Thuyền của Thủy quân
như Nam Hưng, Phấn Bằng, được cấp Đồ ký bằng ngà, khắc chữ Triện. Còn
hiệu Thuyền Ba Hải thì dùng Đồ ký ngà, khắc chữ Chân.

Hiện tượng hai kiểu chữ Hán (Chữ Triện và chữ Chân) cũng được khắc trong
một quả ấn. Đó là Đồ ký của các Vệ thuộc Kinh tượng và các ban Túc
trực, Thường trực của Cẩm y vệ, Đồ ký làm bằng đồng mẫu giống như các
Vệ, Cơ trên.

Quả ấn duy nhất thuộc quân binh còn lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Hà
Nội. Ấn có ký hiệu LSb 2524 bằng đồng, cán chuôi vồ thắt đáy, cao 7cm,
dầy 1,2cm, mặt ấn có ghi niên đại tạo ấn vào năm Minh Mệnh thứ 16 (1835)
và trọng lượng ấn nặng 12 lượng. Dấu ấn hình chữ nhật cỡ 7,8x4,8cm, 8
chữ Triện khắc rõ nét: Hưng Hóa phó lãnh binh quan quan phòng 興化副領兵官關防
chữ xếp theo chiều dọc 3 hàng, hàng giữa dài gấp rưỡi chữ hàng bên. Đó
là Quan phòng của quan Phó Lãnh binh tỉnh Hưng Hóa. (H. 149 a,b,c)

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2939
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:40

3. Giới thiệu một số ấn dấu của tướng lĩnh quân đội Nguyễn trên
văn bản Hán Nôm


Những dấu tích về ấn triện quân đội thời Nguyễn chủ yếu nằm ở kho Châu
bản triều Nguyễn. Trong các tập đời Minh Mệnh, Thiệu Trị, chúng tôi đã
in sao được một số hình dấu của các tướng tá ở nhiều đơn vị, binh chủng
và khu vực khác nhau.

Dấu Trấn tây tướng quân chi ấn[213] 鎭西將軍之印 (ấn của Trấn tây tướng quân)
có kích thước 9x9cm, sáu chữ Triện chia làm ba hàng. Dấu đóng đè lên chữ
“nguyệt” dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thập cửu niên cửu nguyệt thất
nhật. Trang trước ghi tên họ các quan tướng ở Trấn tây: Trương Minh
Giảng, Nguyễn Văn Trọng, Dương Văn Phong. Đây là bản tấu trình gửi về
kinh của các quan tướng ở thành Trấn tây có đóng ấn của Trấn tây tướng
quân vào ngày mồng 7 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838). (H. 150)



Hai dấu Thảo nghịch tả tướng quân chi ấn 討逆左將軍之印 (ấn của Thảo nghịch Tả
tướng quân) và Thảo nghịch hữu tướng quân chi ấn 討逆右將軍之印 (ấn của Thảo
nghịch Hữu tướng quân)[214], đều hình vuông có cỡ 8,3x8,3cm. Trên văn
bản hai dấu đóng dính liền nhau đoạn ngày tháng của dòng niên đại nằm
giữa hai dấu (niên đại ghi năm Minh Mệnh thứ 16 [1835]), đây là dấu của
hai tướng ở quân thứ Gia Định đóng trên một bản Tấu. Xin minh họa một
hình dấu Thảo nghịch hữu tướng quân chi ấn. (H. 151)



Trong Châu bản triều Nguyễn số lượng dấu Quan phòng chức vụ nhiều hơn
hẳn dấu ấn quan, riêng hai trang ở quyển 18 chúng tôi đã in sao được 5
dấu Quan phòng khác nhau[215].

Dấu Chưởng trung quân quan phòng 掌中軍關防 (Quan phòng của chưởng Trung
quân) có cỡ 3,0x4,2cm, năm chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng ở dưới dòng
chữ Hán Chưởng doanh thự trung quân ấn vụ kiêm quản thương thuyền thần
Tống Phúc Lương (Bề tôi Tống Phúc Lương chức chưởng Doanh quyền Trung
quân ấn vụ kiêm quản thương thuyền). (H. 152)



Dấu Thần sách hữu doanh quan phòng 神策右營關防 (Quan phòng của Hữu doanh Thần
sách) có cỡ 2,5x3,8cm, sáu chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới dòng
chữ Thần sách quân hữu doanh đô thống chế thần Tôn Thất Trạch (Bề tôi
Tôn Thất Trạch chức Đô Thống chế Hữu doanh quân Thần sách). (H. 153)



Dấu Hữu thống chế quan phòng 右統制關防 (Quan phòng của Hữu thống chế) cỡ
2,5x3,8cm, năm chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới dòng chữ Thị trung
hữu thống chế thần Trần Văn Cường (Bề tôi Trần Văn Cường chức Hữu Thống
chế quân Thị trung) (H. 154)



Dấu Long vũ đô thống chế quan phòng 龍武都統制關防 (Quan phòng của Đô thống chế
doanh Long Vũ) cỡ 2,5x3,8cm, bảy chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới
dòng chữ Thị nội long vũ đô thống chế thần Phan Văn Thúy (Bề tôi Phan
Văn Thúy chức Đô Thống chế doanh Long Vũ quân Thị nội). (H. 155)



Dấu Thị tượng thự thống chế quan phòng 侍象署統制關防 (Quan phòng của quyền
Thống chế vệ Thị tượng) cỡ 2,2x3,4cm, bẩy chữ Triện chia làm ba hàng.
Dấu đóng dưới dòng chữ Thự tượng quân thống chế chuyên quản thị tượng
cai tham vệ thần Phạm Văn Điển (Bề tôi Phạm Văn Điển quyền Thống chế
quân Tượng chuyên quản Cai tham vệ Thị tượng). (H. 156)

Những hình dấu trên đóng trong một văn bản chữ Hán ghi về cuộc họp Công
đồng thường kỳ mà chúng tôi đã mô tả ở phần “lục Bộ”. Dòng ghi niên đại
năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) được đóng ấn lớn Công đồng chi ấn. Phía dưới
và sang cả trang sau là các dòng chức vụ tên họ của những người dự hội
nghị, dưới mỗi dòng đều có hình dấu Quan phòng, các dấu trên là đại diện
cho hàng võ quan tham dự họp.



Trong quyển 5 đời Thiệu Trị nguyên niên xuất hiện nhiều Quan phòng của
chức Đô thống phủ ở Ngũ quân.

Dấu Tiền quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô thống phủ Tiền
quân), dấu Trung quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô thống
phủ Trung quân), dấu Hữu quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô
thống phủ Hữu quân), và Hậu quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng
của Đô thống phủ Hậu quân). Các dấu đều có kích thước 3,0x4,2cm, bảy chữ
Triện chia ba hàng[216].

Mỗi dấu Tiền quân, Trung quân, Hữu quân và Hậu quân đều đóng ở dưới mỗi
dòng chữ ghi tên họ chức tước khác nhau. Ví dụ dấu Tiền quân đô thống
phủ quan phòng 前軍都統府關防 đóng dưới dòng chữ Tiền quân đô thống phủ đô
thống chưởng phủ sự tân phúc hầu thần Phạn Hữu Tâm (Bề tôi Phạm Hữu Tâm,
tước Tân phúc hầu, chức Đô thống phủ Đô thống chưởng phủ sự Tiền quân).
(H. 157)



Vũ Văn Giải, một trong bốn đại thần quan trọng đời Thiệu Trị và Tự Đức,
ông kiêm quản nhiều chức vụ, trong đó có chức quyền thự Thống chế doanh
Hổ oai (đời Thiệu Trị) mà hình dấu sau này là minh chứng.

Dấu Hổ oai thống chế quan phòng[217] 虎威統制關防 (Quan phòng của Thống chế
doanh Hổ oai) có cỡ 2,5x3,8cm, sáu chữ Triện chia ba hàng. Dấu được đóng
ở dòng chữ Thự hổ oai doanh thống chế kiêm quản thị vệ tổng quản thái
giám thần Vũ Văn Giải (Bề tôi Vũ Văn Giải quyền Thống chế doanh Hổ oai
kiêm quản Thị vệ Tổng quản Thái giám). (H. 158)



Văn bản lưu giữ ghi về cuộc kháng chiến chống Pháp của triều đình Huế và
nhân dân Nam Bộ đời Tự Đức là những tập tấu có đóng dấu son. Ở quyển
119 - Tự Đức chúng tôi gặp hai hình dấu đóng liền nhau ở đoạn chữ
“nguyệt” của dòng ghi niên đại Tự Đức thập tam niên sơ nguyệt nhị thập
bát nhật nằm ở giữa hai dấu.

Dấu Thống đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng[218] 統督勦捕軍務關防 (Quan phòng của
Thống đốc Tiễu bổ quân vụ), có cỡ 5,5x7,7cm, 8 chữ Triện đều nhau chia
hai hàng. Dấu đóng phía trái dòng ghi niên đại, phía dưới là dòng chữ
Hán Quảng Nam quân thứ thống đốc cách lưu thần Nguyễn Tri Phương (Bề tôi
Nguyễn Tri Phương chức Thống đốc (thời hạn) cách lưu ở quân thứ Quảng
Nam). (H. 159)



Dấu Tham tán quân vụ quan phòng[219] 參贊軍務關防 (Quan phòng của chức Tham
tán quân vụ) có cỡ 5x7,3cm, sáu chữ Triện chia làm hai hàng. Dấu đóng
phía phải dòng ghi niên đại, bên dưới là dòng chữ Hán Tham tán quân vụ
thần Phạm Thế Hiển (Bề tôi là Phạm Thế Hiển chức Tham tán quân vụ). (H.
160)



Đây là bản Tấu của hai viên tướng gửi về Kinh báo cáo tình hình phòng
thủ, chiến sự ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Hai con dấu đóng liền nhau có cùng
thời gian: ngày 28 tháng giêng năm Tự Đức thứ 13 (1860) trên cùng một
văn bản, thể hiện sự quan trọng và thống nhất của công việc. Trường hợp
chỉ có một dấu đóng thì ý nghĩa của văn bản sẽ khác đi.

Chỉ huy quân đội ở các tỉnh là chức Đề đốc hoặc Lãnh binh, ấn dấu thường
khắc 6 chữ Triện, ví dụ dấu Gia Định đề đốc quan phòng[220] 嘉定提督關防
(Quan phòng của Đề đốc tỉnh Gia Định) có cỡ 4,6x6,2cm. Đây là quy định
chung về ấn Quan phòng của Đề đốc các tỉnh. (H. 161)



Trong quyển 119 đời Tự Đức chúng tôi thấy xuất hiện hình dấu Đề đốc tiễu
bổ quân vụ quan phòng[221] 提督勦捕軍務關防 (Quan phòng của Đề đốc Tiễu bổ quân
vụ) có kích thước lớn cỡ 5,5x7,7cm. Dấu đóng ở đoạn chữ “nguyệt” dòng
niên hiệu Tự Đức thứ 13 (1855), trang trước có dòng chữ Hán Đề đốc tiễu
bổ quân vụ thần Tôn Thất Hàn (Bề tôi là Tôn Thất Hàn chức Đề đốc Tiễu bổ
quân vụ) cũng trong tập tấu gửi về Kinh của Tôn Thất Hàn trong việc
quân. Cùng với hình dấu của Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển trên, hình
dấu này đã chứng tỏ trong chiến tranh (thời Tự Đức) có những chức vụ,
cấp bậc về việc binh được đặt ra thêm, hoặc gắn thêm chức cho một chức
đã có sẵn (ví dụ trên) mà trong quy chế chức vụ cấp bậc của bộ Binh thời
Nguyễn không thấy ghi. (H. 162)



Không chỉ tướng lĩnh cấp cao, mà hàng ngũ sĩ quan cấp Vệ, Cơ nhỏ cấp
Đội, Thuyền và những đơn vị ở kinh cũng dùng loại ấn dấu Đồ ký. Đồ ký
chỉ dùng cho các đơn vị quân đội và các cơ quan dân sự cấp thấp, trong
quyển 53 - đời Minh Mệnh thứ 19 có một số hình dấu Đồ ký.

Dấu Loan giá vệ đồ ký[222] 鑾駕衛圖記 (Đồ ký của Vệ Loan giá) có cỡ
4,4x5,8cm, năm chữ Triện chia ba hàng, dấu đóng ở đoạn ngày tháng của
dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thứ 19 (1838). Đây là bản trình tấu của
chức Loan giá khanh coi Vệ Loan giá do Tôn Thất Tường chỉ huy. (H. 163)



Các đơn vị Vệ Cẩm y, Vệ Kim ngô đều sử dụng Đồ ký có hình thức và tính
chất như Vệ Loan giá, chỉ khác về tên chữ trong dấu.

Quy định về vị trí đóng dấu Đồ ký được ghi trong chính sử: “Từ nay về
sau Đồ ký của Thị trung, Thị nội và Dinh vệ các quân do quan cấp cho,
phàm gặp những công việc như tấu, sớ, tờ tư sổ sách, tiền lương và trình
báo đều chuẩn cho đóng lên chữ “Tháng mỗ” còn tất cả các việc riêng đều
không được dùng”[223].

Các đơn vị hải thuyền được gọi là Thuyền 船 biên chế theo từng chiến
thuyền và dùng Đồ ký có kích thước nhỏ hơn các đơn vị Cơ, Vệ. Xin ví dụ
một dấu Đồ ký của đơn vị Thuyền.

Dấu Nam hưng đồ ký[224] 南興圖記 (Đồ ký thuyền Nam Hưng) có cỡ 4x5,3cm, bốn
chữ Triện chia hai hàng. Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên đại
Minh Mệnh thứ 19 (1838), phía dưới có dòng chữ Hán với nội dung là bản
trình báo của các sĩ quan thuyền Nam Hưng khi đi công cán trở về. (H.
164)



Hiện tượng có hai kiểu chữ (Triện thư và Chân thư) trong cùng một con
dấu cũng trong loại hình Đồ ký. Hai hình dấu của ví dụ dưới đây sẽ kết
thúc dẫn chứng của mục: “Ấn chương trong binh chế quân đội thời Nguyễn”.

Dấu Kinh tượng nhất vệ đồ ký[225] 京象壹衛圖記 (Đồ ký của Vệ thứ nhất Kinh
tượng), có cỡ 4,0x5,4cm. Chiều dài dấu 5,4cm được chia làm hai phần bằng
một đường kẻ ngang, phần trên nhỏ cỡ 1,2x4,0cm trong là hai chữ “Kinh
tượng” 京象, kiểu chữ Chân xếp theo hàng ngang, phần dưới cỡ chữ 4,0x4,2cm
là bốn chữ Triện “Nhất vệ đồ ký” 壹衛圖記 xếp theo hai hàng dọc. Dấu đóng ở
đoạn chữ “nguyệt” dòng niên hiệu ghi năm Minh Mệnh thứ 16 (1835). Trang
trước có dòng chữ Hán ghi rõ chức tước của viên chỉ huy là Lê Văn Thụy
tước Thông cương nam ở Vệ thứ nhất Kinh tượng thuộc Tượng binh. (H. 165)



Dấu Cẩm y túc trực đồ ký 錦衣肅直圖記 (Đồ ký của ban Túc trực Vệ cẩm y) có cỡ
4,0x5,4cm, cũng được chia làm hai phần giống như dấu trên. Phần trên là
hai chữ Chân “Cẩm y” 錦衣 phần dưới là bốn chữ Triện “Túc trực đồ ký”
肅直圖記, dấu cũng đóng ở dòng niên hiệu ghi năm Minh Mệnh thứ 16 (1835).
Đây là dấu của viên sĩ quan chỉ huy ban Túc trực vệ Cẩm y thuộc Thân
binh bảo vệ Hoàng thành. (H. 166)



Đời Đồng Khánh binh chế quân đội vẫn giữ nguyên như cũ, có điều chỉnh
lại đôi chút, giảm biên chế, dồn hai Dực tả, hữu Doanh Vũ lâm quân Cấm
binh làm 4 Vệ, dồn 2 Doanh tả, hữu Thủy sư làm hai Vệ, số quân linh tinh
ở các Doanh, Vệ: Tiền phong, Long vũ, Hổ oai v.v… dồn thành một Vệ.

Về ấn, Kiềm Quan phòng, Đồ ký đời Đồng Khánh không thay đổi lớn, chủ yếu
vẫn duy trì các loại hình ấn triện cũ, bỏ một số Quan phòng, Đồ ký
những đơn vị giảm biên chế, đồng thời đúc lại những ấn triện bị mất.
Trên thực tế ở các sách chữ Hán đời Đồng Khánh chúng tôi thấy xuất hiện
rất ít ấn dấu quân đội, chỉ có thưa thớt hình dấu kiềm Thống soái, Loan
giá với nét chữ Triện xấu và đơn giản hơn do chất liệu xấu và kỹ thuật
làm ấn triện kém hơn trước.

Ấn triện trong quân đội nhiều khi được hưởng chế độ ưu tiên riêng ngoài
quy định chung. Như lệ phong, khai ấn thì đều dùng cho tất cả các loại
hình ấn triện ở mọi ngành, riêng ấn triện trong quân đội ở thời kỳ và
những khu vực có chiến tranh giặc giã, quân binh xuất chinh, nếu quân vụ
chưa xong thì các quan tướng ở nơi đó vẫn giữ nguyên ấn triện, Quan
phòng, Đồ ký và miễn lệ phong ấn, khai ấn.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   

Về Đầu Trang Go down
 
Ấn chương Việt Nam
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Văn Hóa, Lịch Sử-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | www.sosblogs.com