WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Ấn chương Việt Nam

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next
Tác giảThông điệp
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:19

First topic message reminder :

Tác giả: Nguyễn Công Việt

Nguồn: thuvien-ebook

Lời giới thiệu

Ấn chương học (Sigillographie hay Sphragistique) là môn học nghiên cứu về con dấu qua các đời. Con dấu trên văn bản thường có 3 mục đích: 1. Bảo đảm tính xác thực của văn bản; 2. Khẳng định quyền chủ sở hữu của văn bản và 3. Xác định niên đại của văn bản[1]. Vì vậy, nghiên cứu ấn chương học được coi là phương pháp tìm chứng cứ (recherche des témoigrages) trong khoa học lịch sử và có ý nghĩa quan trọng đối với văn bản học[2].

Việt Nam có một truyền thống ấn chương lâu đời, các thư tịch cổ đã chép rằng các Lạc tướng có ấn đồng dây thao xanh (đồng ấn thao thụ). Có thể thấy rằng các con dấu gốm đã tìm được trong văn hóa Hoa Lộc, văn hóa Bàu Tró chỉ in các hình trang trí. Khi chữ Hán đã truyền vào Việt Nam thì chúng ta gặp nhiều con dấu thời Hán như dấu “Tư phố huyện ấn” (hiện được cất giữ ở Bảo tàng Bỉ), các con dấu tìm được ở di chỉ Thiệu Dương, Thanh Hóa. Hoặc là chúng ta đã tìm thấy các phong nê ở Quảng Nam cho ta biết ảnh hưởng của Đạo giáo thời kỳ sớm.

Ta đã tìm được những con dấu bằng mã não hoặc bằng chì in bằng chữ Pallava trong các di chỉ văn hóa Óc Eo ở miền Nam từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX.

Đến thời kỳ độc lập thì ta mới tìm thấy các con dấu thời Trần như Môn hạ sảnh ấn năm 1377 và Bình Tường thổ châu chi ấn năm 1362. Chúng ta hi vọng là ngày càng tìm được nhiều con dấu của thế kỉ XVI về trước.

Từ thế kỷ XV trở đi, ta mới biết nhiều loại hình con dấu. Tình hình ấn chương từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX chính là nội dung mà Nguyễn Công Việt muốn giới thiệu trong quyển sách này.

Muốn xây dựng ấn chương học thì nhiệm vụ trước hết phải làm là công bố các sưu tập ấn chương (corpus sigillirum) của các thời kỳ. Ở đây, Nguyễn Công Việt đã công bố các corpus sigillirum từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX như thế. Nguyễn Công Việt đã nghiên cứu các ấn chương của nhà vua và các quan chức ở triều đình cùng với các quan chức ở địa phương.

Ở quyển sách này, Nguyễn Công Việt đã đi sâu nghiên cứu các chức quan trong các thế kỉ XV đến XIX và nhờ vào con dấu, đã bổ khuyết nhiều điều chưa biết, nhất là các chức quan trong quân đội. Nói chung, tác giả đã giúp người đọc xác định được nhiều về quan chức chí của các đời. Sự thay đổi của ấn chương được tác giả gắn liền với các cuộc cải cách hành chính từ triều Lê đến triều Nguyễn, những cuộc cải cách đó được tác giả mô tả kỹ càng và làm nổi bật. Qua con dấu cũng đã xác định sự thay đổi một số tên đất như ở thời Tây Sơn. Đó là những tài liệu lịch sử chắc chắn mà ấn chương học đã đem lại.

Tóm lại, đây là một công trình nghiên cứu công phu mà tác giả đã hoàn thành, có đóng góp lớn cho việc xây dựng bộ môn ấn chương học Việt Nam. Về bộ môn này thì đây là công trình đầu tiên; không có gì có thể so sánh được, vì thế, có thể còn một số thiếu sót, nhưng chúng ta có thể hiểu được. Vì vậy, tôi rất vui khi được giới thiệu công trình này với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là với những người ham thích tài liệu lịch sử. Tôi tin rằng là tài liệu này sẽ đem lại nhiều điều có ích và thú vị cho chúng ta.

GS.HÀ VĂN TẤN

Viện trưởng Viện Khảo cổ học,

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Lời nói đầu

Di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam bao gồm hai mảng tư liệu hiện vật và tư liệu thư tịch với một khối lượng lớn phong phú đa dạng tồn tại song hành và luôn gắn bó mật thiết với nhau. Chúng ta tìm thấy không ít những đoạn kinh, câu thơ, bài văn bằng chữ Hán, chữ Nôm khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ đồng thời cũng được ghi trên giấy, lụa. Văn tự Hán Nôm còn được khắc in, đúc trên kim loại như vũ khí, vật dụng, công cụ sản xuất, tiền đồng, trên đồ gốm sứ v.v… Trong kho di sản văn hóa đa dạng đó có một loại tư liệu hiện vật mang đặc thù riêng, đó là ấn chương mà ta còn gọi là ấn triện hay con dấu. Ấn chương bao gồm cả hiện vật ấn tín và những văn bản, văn khắc có in hình con dấu. Trong đó hình con dấu đứng độc lập hay nằm trong một văn bản Hán Nôm khác cũng đều được coi là một văn bản ấn chương hoàn thiện.

Ở công trình này chúng tôi bước đầu công bố các sưu tập ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX, cùng với kết quả nghiên cứu giới thiệu những quả ấn điển hình, những hình dấu tiêu biểu ở hệ thống ấn chương các loại trong bộ sưu tập mà chúng tôi đã thu thập được.

Nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của văn hiến Trung Hoa, ấn chương Việt Nam về cơ bản có nhiều điểm gần gũi với ấn chương Trung Quốc. Tuy nhiên ở Trung Quốc tương truyền ấn chương có từ thời Hoàng đế (khoảng năm 2500 TCN) và các nhà khoa học đã khẳng định ấn chương Trung Quốc có từ cuối Xuân Thu Chiến Quốc (năm 770 - 255 TCN), thì ở Việt Nam các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những ấn hoa văn (tiền thân của ấn chương Việt Nam) có niên đại khoảng thế kỉ XV - XVI (TCN) ở Hậu Lộc, Thanh Hóa. Nếu như ở Trung Quốc, sự phát triển và tồn tại của ấn chương mang tính hệ thống liên tục, duy trì đến tận bây giờ với rất nhiều tác gia, tác phẩm viết về ấn chương học, thì ở Việt Nam không có được sự tương đồng, thậm chí đã bị đứt đoạn ở một số đời vua thuộc những vương triều phong kiến khác nhau.

Trải qua bao cuộc kháng chiến chống xâm lược oanh liệt và cả các cuộc nội chiến đẫm máu, cộng với sự tàn phá nặng nề của thiên tai, biết bao ấn chương các loại và văn bản có lưu hình dấu phải chịu chung số phận tro bụi cũng cung điện, lầu các, thư phòng v.v… Với nỗ lực tìm kiếm từ Nam ra Bắc chúng tôi cũng chỉ gom góp được hơn trăm hiện vật ấn chương và ngót nghìn văn bản có hình dấu khác nhau, chủ yếu ở thời Nguyễn. Kết hợp với những tài liệu chính sử, dã sử, tư liệu địa phương, bài viết lẻ tẻ và những văn bản Hán Nôm đã rách ố, chúng tôi bước đầu tuyển chọn giới thiệu sơ lược ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX.

Bắt đầu từ những quả ấn, đó là khối tư liệu hiện vật quý giá quan trọng trong việc nghiên cứu, công bố ấn chương Việt Nam. Những quả ấn này có chất liệu, trọng lượng, hình thức, niên đại và nội dung văn khắc khác nhau và được chia thành hai loại. Loại thứ nhất sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn được đem dùng luôn. Loại thứ hai sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn phải qua công nghệ đúc mới được dùng. Giá trị lớn nhất của hiện vật ấn chương là tính chân thực của niên đại được khẳng định ở hiện vật: Có những ấn gốm hoa văn đã đạt tới hơn 3.000 năm tuổi. Cùng với các cổ vật khác, chúng gắn liền với những nền văn hoá cổ xưa của dân tộc Việt Nam như văn hoá Hoa Lộc - Thanh Hoá, văn hóa Óc Eo - Nam bộ. Chúng rất có ý nghĩa trong nghiên cứu khảo cổ học, sử học cũng như bảo tàng học sau này. Song, thực trạng hiện vật ấn chương hiện còn với số lượng quá ít sẽ không bao quát hết toàn bộ hệ thống ấn chương các loại, cũng chưa đủ đại diện cho ấn chương mỗi triều đại, do đó việc nghiên cứu hiện vật ấn chương tuy quan trọng những cũng chỉ thể hiện một mặt trong nghiên cứu ấn chương nói chung. Vả lại mỗi một quả ấn cho ra đời một hình dấu - tức một văn bản cô đọng ngắn gọn; nó thể hiện nét đặc thù riêng của loại hình ấn tín: lượng thông tin trong tự thân văn bản có một số hạn chế nhất định. Việc nghiên cứu ấn chương bắt buộc phải mở rộng đến các văn bản Hán Nôm mang hình dấu ấn, đó là mảng tư liệu phong phú, đa dạng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu ấn chương.

Văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu có hai dạng khác nhau: Thứ nhất là dạng văn bản có chất liệu bằng giấy hoặc vải lụa, người ta dùng ấn thấm mực đóng trực tiếp lên trên. Dạng văn bản thứ hai là những hiện vật bằng đá, gỗ, kim loại, gốm sứ được khắc lại trực tiếp hình dấu, hoặc được khắc, vẽ lại hình dấu rồi qua công nghệ đúc, nung mà thành. Trong đó dạng văn bản thứ nhất - văn bản giấy chiếm số lượng tối đa và giữ vai trò chính trong việc nghiên cứu ấn chương.

Văn bản giấy có nhiều loại khác nhau như thư tịch sách vở, tài liệu hành chính, thư pháp tranh ảnh, tấu sớ bùa chú v.v… Trong đó mảng tài liệu hành chính công văn giấy tờ là còn lưu nhiều hình dấu quan ấn (ấn công) nhất. Đó là những sắc, chiếu, chế, cáo, chỉ, dụ; mảng tài liệu quan trọng này gắn với Hoàng đế và bộ phận hành chính thân cận nhà vua. Hình dấu trên đó được đóng ra từ những Bảo Tỉ của vua hoặc những ấn chương khác có ý nghĩa quốc gia trọng đại. Bên cạnh đó là khối lượng lớn các văn thư hành chính khác được làm ra từ các nha môn thuộc các cơ quan trung ương ở kinh đô như hệ thống lục bộ, lục tự, giám sát v.v… với mấy loại văn bản khác nhau theo các con đường đi khác nhau. Loại văn bản gửi lên Hoàng đế qua văn phòng nhà vua, loại văn bản gửi đến các cơ quan ngang cấp hay tới các chính quyền địa phương, quân doanh đơn vị ngoài kinh đô, và một loại văn bản gửi cho thuộc viên cấp dưới. Các văn bản đó đều được đóng các con dấu khác nhau vào nơi quy định của trưởng nha môn hoặc người được thẩm quyển dùng dấu. Đối với các chính quyền địa phương, lực lượng quân đội và cơ quan dân sự ngoài kinh đô thì cũng dùng các hình thức văn bản có tính chất tương tự. Tất cả các loại văn thư hành chính này đều có tên gọi riêng như sớ, tấu tập, tư (tư di, tư trình), sức, chiếu hội v.v… Ở mỗi loại văn bản có cùng một nội dung được lập ra để giải quyết công việc theo hình thức hàng dọc mà gọi theo ngôn ngữ văn bản học Hán Nôm là bản chính, bản phó hay bản lục v.v… được xếp chung gọi là các dạng văn bản. Mỗi dạng văn bản có khi được làm hai hoặc vài ba bản dùng để gửi đi và lưu chiểu, đối chiếu. Ở mỗi loại văn bản, dạng văn bản đều có dấu tích công nhận khác nhau đóng ở những chỗ quy định như dòng ghi niên hiệu, chỗ tên riêng, chỗ quan trọng, chỗ tẩy xoá và nơi giáp phùng.

Ở một số loại sách như địa bạ, sách riêng của dòng họ, sách in chúng ta có thể tìm thấy thưa thớt một số hình dấu nhỏ, đơn giản. Trên các tác phẩm nghệ thuật thư pháp, tranh họa, bản giao kèo mua bán và ở các lá sớ, bùa chú chúng ta cũng tìm thấy nhiều hình dấu lớn nhỏ khác nhau. Đó là những hình dấu tư ấn (ấn riêng) thuộc lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, thương mại và tôn giáo tín ngưỡng.

Cũng như ấn chương Trung Quốc và các nước khu vực dùng chữ khối vuông, ấn chương Việt Nam thể hiện rõ những chức năng riêng biệt của ấn chương nói chung và ở mỗi loại ấn chương nói riêng. Từ ý nghĩa biểu tượng của pháp chế quyền lực đến chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực, ấn chương Việt Nam không chỉ mang tính pháp lí hành chính mà còn thể hiện rõ tính văn hoá - xã hội. Bắt đầu từ những Bảo Tỉ của Hoàng đế dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đến những quả ấn nhỏ xíu của một thường dân là cả một hệ thống ấn chương hoàn chỉnh, có tên gọi và cách dùng riêng biệt. Qua nghiên cứu thống kê ta có thể phân loại ấn chương Việt Nam thành nhiều loại khác nhau là Kim ngọc Bảo Tỉ, ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Kiềm ấn, Đồ kí, Kiềm kí, Tín kí - Kí và mảng ấn tín tư nhân. Đồng thời ở đây cũng phân chia rõ rệt hai hệ thống quan ấn và tư ấn; trong đó quan ấn mang tính pháp lí hành chính nhà nước có quy chế nhất định, còn tư ấn thể hiện tính tự do ngoài khuôn khổ qui định.

Tương ứng với ý nghĩa nội dung của mỗi loại ấn, người ta đã đặt ra những quy ước hình thức cho việc chế tác ấn chương từng loại riêng biệt. Những hình thức được chạm khắc ở núm ấn đầu tiên phải kể đến những con vật thiêng theo ý niệm tôn giáo như long, li, quy, phượng, hoặc là loài mãnh thú như hổ, sư tử. Những hình muông thú khác cùng các hình thể đơn giản như tay quai, chuôi vồ v.v… được chạm, khắc, đúc ở mỗi loại ấn khác nhau đã dựng nên bức tranh nghệ thuật sinh động của ấn chương Việt Nam.

Hình thức mặt đế ấn là điều quan trọng nhất trong việc chế tác ấn chương. Chính nó sẽ cho ra đời một hình dấu trên văn bản có nội dung trọn vẹn, bao hàm cả ý nghĩa biểu tượng của hình thể ấn mỗi loại. Chúng ta sẽ tìm thấy nhiều hoạ tiết đường viền khác nhau vành ngoài đế ở một số loại ấn mà chủ yếu trong Bảo Tỉ của Hoàng đế, Hoàng tộc và nội cung. Nó không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng cho loại ấn mà còn hàm chứa lượng thông tin cao đối với người tiếp nhận khi nhìn thấy hình dấu trên văn bản. Nhưng cái chính ở đây là nội dung văn khắc trên mỗi con dấu khác nhau. Với số lượng chữ, thể chữ, bố cục sắp xếp không giống nhau, mỗi hình dấu đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa nội dung của một con dấu, nó được coi là một văn bản hoàn chỉnh, cô đọng và nhiều khi khá sâu sắc.

Không có tham vọng biên soạn thành một cuốn sách chuyên khảo lí luận về ấn chương Việt Nam, ở đây chúng tôi chỉ dựa trên cơ sở tư liệu, thực trạng hiện vật ấn và hình dấu trên văn bản để mô tả giới thiệu ấn chương dưới góc độ của người sưu tập và nghiên cứu. Thực tế tư liệu ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng tìm được quá ít, nên việc giới thiệu chắc chắn không đầy đủ và bao quát hết được ấn chương những giai đoạn này. Vì vậy bố cục cuốn sách chúng tôi cố gắng sắp xếp cân đối trong việc phân chia chương mục.

Ấn chương từ thời Lê sơ đến Tây Sơn được tập hợp vào chung phần thứ nhất, trong đó ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng với số tư liệu chỉ đủ để giới thiệu một cách khái quát và sơ lược. Riêng thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng tư liệu về cơ bản đã bao quát được ấn chương của vương triều này. Ở phần I, bối cảnh lịch sử của ấn chương được trình bày như một lời dẫn nối gắn với thực trạng ấn chương của mỗi triều đại. Người đọc chắc sẽ cảm thấy thiếu vắng, sơ sài, song thực tế tư liệu không cho phép chúng tôi đi xa hơn khi chưa có đủ căn cứ chắc chắn.

Ấn chương Việt Nam thời Nguyễn ở phần II được giới thiệu nhiều và chi tiết hơn các thời kì trước. Tư liệu thời kì này khá phong phú song cũng chưa thể đại diện đầy đủ hết mọi phương diện của ấn chương giai đoạn này, nhất là xét về hiện vật ấn chương. Từ Kim ngọc Bảo Tỉ của hoàng đế đến ấn tín tư nhân thời Nguyễn, chứng tôi đã cố gắng dựng lại bức tranh ấn chương thời Nguyễn tương đối hoàn chỉnh để qua đó có thể ít nhiều hình dung ra phần nào ấn chương các triều đại trước đó.

Chúng tôi tuyển chọn giới thiệu 223 hình ấn và dấu minh họa trong bộ sưu tập mà chúng tôi thu thập được. Ảnh minh họa gắn với nội dung giới thiệu mô tả của mỗi quả ấn hay hình dấu trên văn bản và được sắp xếp theo trật tự triều đại từ thời xưa đến cuối thời Nguyễn. Mỗi quả ấn, hình dấu được đánh số thứ tự riêng. Hiện vật ấn được minh họa dưới các hình thức sau:

Nếu có 4 kiểu thì được ghi là: mặt trên ấn (a), núm ấn (b), mặt đế ấn (c) và dấu (d).

Nếu có 3 kiểu thì ghi là: núm hoặc mặt trên ấn (a), mặt đế ấn (b) và dấu (c).

Nếu có 2 kiểu thì ghi là: núm ấn hoặc mặt trên ấn (a) và dấu hoặc mặt đế ấn (b).

Ảnh minh họa gồm hiện vật, hình dấu,văn bản lẫn hình dấu được ghi là H. (hình), thứ tự từ H.1 đến H.233. Kích cỡ to nhỏ của ảnh minh họa làm theo hình thức bố cục cân đối phù hợp với mỗi trang sách phần mục riêng, không phụ thuộc vào kích cỡ thật của hiện vật, hình dấu và văn bản.

Hiện vật ảnh minh họa được gọi chung là ấn, không gọi kiểu cách phân loại loại hình như Quan phòng, Đồ kí, Kiềm kí v.v… Tên ấn hoặc dấu được đặt theo cách gọi của nội dung văn khắc chữ Triện ở chính văn.

Hình dấu có thể đứng độc lập hoặc nằm trong một văn bản Hán Nôm khác. Nếu hình dấu nằm trong một văn bản khác sẽ được ghi liền với niên đại của văn bản và chỉ viết hoa chữ ghi niên hiệu.

Về việc viết hoa tên ấn, dấu, nhân danh, địa danh, niên hiệu, can chi và tên chức quan trong nội dung văn khắc ấn, dấu, chúng tôi tạm theo một quy định riêng, xin giới thiệu vắn tắt dưới đây để bạn đọc tiện theo dõi.

- Phần chính văn: đối với chữ Hán khắc ở mặt trên ấn, chữ Triện ở mặt đế ấn (đối với hiện vật) và nội dung chữ trong hình dấu (đối với dấu trong văn bản) khi phiên âm, chỉ viết hoa đối với chữ niên hiệu, địa danh, nhân danh và không viết hoa tên chức quan. Khi dịch, viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh, can chi và tên chức quan.

Chú thích ảnh: Tên ấn và dấu (gọi theo phiên âm) viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh; không viết hoa tên chức quan.

Để công tác in ấn được thuận lợi, chúng tôi không in ảnh màu minh họa xen kẽ trong phần nội dung mà chọn 32 trang ảnh màu để ở phần phụ lục cuối sách. Trong đó những ảnh nào trùng lặp với ảnh đen trắng thì xếp ở trước và ghi số thứ tự ảnh giống như ở nội dung sách. Còn số ít ảnh màu thêm vào dùng để tham khảo thì xếp ở phía sau và cuối phần phụ lục.

Ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX được hoàn thành, chúng tôi hi vọng đó là sự khởi đầu cho bộ môn ấn chương học Việt Nam và mong muốn sẽ có nhiều người tham gia với những bài viết và công trình kế tiếp.

Trong quá trình biên soạn công trình, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều học giả, đồng nghiệp trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hán Nôm, từ Hà Nội qua Huế tới Sài Gòn - Nam Bộ, từ những ý kiến mang ý nghĩa học thuật đến việc cung cấp một vài hình dấu tư liệu cụ thể. Nhân đây chứng tôi xin được bày tỏ lòng tri ân với tất cả, đặc biệt là GS. Hà Văn Tấn người đã cho chúng tôi nhiều ý kiến quý báu trong việc hoàn thành công trình.

Thực hiện công trình, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo và cán bộ ở các cơ quan như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, Trung tâm Lưu trữ trung ương II - thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là Toyota Foundation của Nhật Bản - đơn vị đã tài trợ cho việc biên soạn và xuất bản cuốn sách này. Nhân đây chúng tôi xin được bày tỏ lời cám ơn sâu sắc nhất.

Quá trình biên soạn công trình chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, tuy đã cố gắng hết sức song chắc chắn còn không ít thiếu sót, chúng tôi xin được lĩnh giáo ý kiến xây dựng bổ sung của quý độc giả để khi tái bản cuốn sách được sửa chữa hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn.



NGUYỄN CÔNG VIỆT
Về Đầu Trang Go down

Tác giảThông điệp
ôngBảy



Bài viết : 100
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:40

3. Giới thiệu một số ấn dấu của tướng lĩnh quân đội Nguyễn trên
văn bản Hán Nôm


Những dấu tích về ấn triện quân đội thời Nguyễn chủ yếu nằm ở kho Châu
bản triều Nguyễn. Trong các tập đời Minh Mệnh, Thiệu Trị, chúng tôi đã
in sao được một số hình dấu của các tướng tá ở nhiều đơn vị, binh chủng
và khu vực khác nhau.

Dấu Trấn tây tướng quân chi ấn[213] 鎭西將軍之印 (ấn của Trấn tây tướng quân)
có kích thước 9x9cm, sáu chữ Triện chia làm ba hàng. Dấu đóng đè lên chữ
“nguyệt” dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thập cửu niên cửu nguyệt thất
nhật. Trang trước ghi tên họ các quan tướng ở Trấn tây: Trương Minh
Giảng, Nguyễn Văn Trọng, Dương Văn Phong. Đây là bản tấu trình gửi về
kinh của các quan tướng ở thành Trấn tây có đóng ấn của Trấn tây tướng
quân vào ngày mồng 7 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838). (H. 150)



Hai dấu Thảo nghịch tả tướng quân chi ấn 討逆左將軍之印 (ấn của Thảo nghịch Tả
tướng quân) và Thảo nghịch hữu tướng quân chi ấn 討逆右將軍之印 (ấn của Thảo
nghịch Hữu tướng quân)[214], đều hình vuông có cỡ 8,3x8,3cm. Trên văn
bản hai dấu đóng dính liền nhau đoạn ngày tháng của dòng niên đại nằm
giữa hai dấu (niên đại ghi năm Minh Mệnh thứ 16 [1835]), đây là dấu của
hai tướng ở quân thứ Gia Định đóng trên một bản Tấu. Xin minh họa một
hình dấu Thảo nghịch hữu tướng quân chi ấn. (H. 151)



Trong Châu bản triều Nguyễn số lượng dấu Quan phòng chức vụ nhiều hơn
hẳn dấu ấn quan, riêng hai trang ở quyển 18 chúng tôi đã in sao được 5
dấu Quan phòng khác nhau[215].

Dấu Chưởng trung quân quan phòng 掌中軍關防 (Quan phòng của chưởng Trung
quân) có cỡ 3,0x4,2cm, năm chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng ở dưới dòng
chữ Hán Chưởng doanh thự trung quân ấn vụ kiêm quản thương thuyền thần
Tống Phúc Lương (Bề tôi Tống Phúc Lương chức chưởng Doanh quyền Trung
quân ấn vụ kiêm quản thương thuyền). (H. 152)



Dấu Thần sách hữu doanh quan phòng 神策右營關防 (Quan phòng của Hữu doanh Thần
sách) có cỡ 2,5x3,8cm, sáu chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới dòng
chữ Thần sách quân hữu doanh đô thống chế thần Tôn Thất Trạch (Bề tôi
Tôn Thất Trạch chức Đô Thống chế Hữu doanh quân Thần sách). (H. 153)



Dấu Hữu thống chế quan phòng 右統制關防 (Quan phòng của Hữu thống chế) cỡ
2,5x3,8cm, năm chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới dòng chữ Thị trung
hữu thống chế thần Trần Văn Cường (Bề tôi Trần Văn Cường chức Hữu Thống
chế quân Thị trung) (H. 154)



Dấu Long vũ đô thống chế quan phòng 龍武都統制關防 (Quan phòng của Đô thống chế
doanh Long Vũ) cỡ 2,5x3,8cm, bảy chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới
dòng chữ Thị nội long vũ đô thống chế thần Phan Văn Thúy (Bề tôi Phan
Văn Thúy chức Đô Thống chế doanh Long Vũ quân Thị nội). (H. 155)



Dấu Thị tượng thự thống chế quan phòng 侍象署統制關防 (Quan phòng của quyền
Thống chế vệ Thị tượng) cỡ 2,2x3,4cm, bẩy chữ Triện chia làm ba hàng.
Dấu đóng dưới dòng chữ Thự tượng quân thống chế chuyên quản thị tượng
cai tham vệ thần Phạm Văn Điển (Bề tôi Phạm Văn Điển quyền Thống chế
quân Tượng chuyên quản Cai tham vệ Thị tượng). (H. 156)

Những hình dấu trên đóng trong một văn bản chữ Hán ghi về cuộc họp Công
đồng thường kỳ mà chúng tôi đã mô tả ở phần “lục Bộ”. Dòng ghi niên đại
năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) được đóng ấn lớn Công đồng chi ấn. Phía dưới
và sang cả trang sau là các dòng chức vụ tên họ của những người dự hội
nghị, dưới mỗi dòng đều có hình dấu Quan phòng, các dấu trên là đại diện
cho hàng võ quan tham dự họp.



Trong quyển 5 đời Thiệu Trị nguyên niên xuất hiện nhiều Quan phòng của
chức Đô thống phủ ở Ngũ quân.

Dấu Tiền quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô thống phủ Tiền
quân), dấu Trung quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô thống
phủ Trung quân), dấu Hữu quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô
thống phủ Hữu quân), và Hậu quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng
của Đô thống phủ Hậu quân). Các dấu đều có kích thước 3,0x4,2cm, bảy chữ
Triện chia ba hàng[216].

Mỗi dấu Tiền quân, Trung quân, Hữu quân và Hậu quân đều đóng ở dưới mỗi
dòng chữ ghi tên họ chức tước khác nhau. Ví dụ dấu Tiền quân đô thống
phủ quan phòng 前軍都統府關防 đóng dưới dòng chữ Tiền quân đô thống phủ đô
thống chưởng phủ sự tân phúc hầu thần Phạn Hữu Tâm (Bề tôi Phạm Hữu Tâm,
tước Tân phúc hầu, chức Đô thống phủ Đô thống chưởng phủ sự Tiền quân).
(H. 157)



Vũ Văn Giải, một trong bốn đại thần quan trọng đời Thiệu Trị và Tự Đức,
ông kiêm quản nhiều chức vụ, trong đó có chức quyền thự Thống chế doanh
Hổ oai (đời Thiệu Trị) mà hình dấu sau này là minh chứng.

Dấu Hổ oai thống chế quan phòng[217] 虎威統制關防 (Quan phòng của Thống chế
doanh Hổ oai) có cỡ 2,5x3,8cm, sáu chữ Triện chia ba hàng. Dấu được đóng
ở dòng chữ Thự hổ oai doanh thống chế kiêm quản thị vệ tổng quản thái
giám thần Vũ Văn Giải (Bề tôi Vũ Văn Giải quyền Thống chế doanh Hổ oai
kiêm quản Thị vệ Tổng quản Thái giám). (H. 158)



Văn bản lưu giữ ghi về cuộc kháng chiến chống Pháp của triều đình Huế và
nhân dân Nam Bộ đời Tự Đức là những tập tấu có đóng dấu son. Ở quyển
119 - Tự Đức chúng tôi gặp hai hình dấu đóng liền nhau ở đoạn chữ
“nguyệt” của dòng ghi niên đại Tự Đức thập tam niên sơ nguyệt nhị thập
bát nhật nằm ở giữa hai dấu.

Dấu Thống đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng[218] 統督勦捕軍務關防 (Quan phòng của
Thống đốc Tiễu bổ quân vụ), có cỡ 5,5x7,7cm, 8 chữ Triện đều nhau chia
hai hàng. Dấu đóng phía trái dòng ghi niên đại, phía dưới là dòng chữ
Hán Quảng Nam quân thứ thống đốc cách lưu thần Nguyễn Tri Phương (Bề tôi
Nguyễn Tri Phương chức Thống đốc (thời hạn) cách lưu ở quân thứ Quảng
Nam). (H. 159)



Dấu Tham tán quân vụ quan phòng[219] 參贊軍務關防 (Quan phòng của chức Tham
tán quân vụ) có cỡ 5x7,3cm, sáu chữ Triện chia làm hai hàng. Dấu đóng
phía phải dòng ghi niên đại, bên dưới là dòng chữ Hán Tham tán quân vụ
thần Phạm Thế Hiển (Bề tôi là Phạm Thế Hiển chức Tham tán quân vụ). (H.
160)



Đây là bản Tấu của hai viên tướng gửi về Kinh báo cáo tình hình phòng
thủ, chiến sự ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Hai con dấu đóng liền nhau có cùng
thời gian: ngày 28 tháng giêng năm Tự Đức thứ 13 (1860) trên cùng một
văn bản, thể hiện sự quan trọng và thống nhất của công việc. Trường hợp
chỉ có một dấu đóng thì ý nghĩa của văn bản sẽ khác đi.

Chỉ huy quân đội ở các tỉnh là chức Đề đốc hoặc Lãnh binh, ấn dấu thường
khắc 6 chữ Triện, ví dụ dấu Gia Định đề đốc quan phòng[220] 嘉定提督關防
(Quan phòng của Đề đốc tỉnh Gia Định) có cỡ 4,6x6,2cm. Đây là quy định
chung về ấn Quan phòng của Đề đốc các tỉnh. (H. 161)



Trong quyển 119 đời Tự Đức chúng tôi thấy xuất hiện hình dấu Đề đốc tiễu
bổ quân vụ quan phòng[221] 提督勦捕軍務關防 (Quan phòng của Đề đốc Tiễu bổ quân
vụ) có kích thước lớn cỡ 5,5x7,7cm. Dấu đóng ở đoạn chữ “nguyệt” dòng
niên hiệu Tự Đức thứ 13 (1855), trang trước có dòng chữ Hán Đề đốc tiễu
bổ quân vụ thần Tôn Thất Hàn (Bề tôi là Tôn Thất Hàn chức Đề đốc Tiễu bổ
quân vụ) cũng trong tập tấu gửi về Kinh của Tôn Thất Hàn trong việc
quân. Cùng với hình dấu của Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển trên, hình
dấu này đã chứng tỏ trong chiến tranh (thời Tự Đức) có những chức vụ,
cấp bậc về việc binh được đặt ra thêm, hoặc gắn thêm chức cho một chức
đã có sẵn (ví dụ trên) mà trong quy chế chức vụ cấp bậc của bộ Binh thời
Nguyễn không thấy ghi. (H. 162)



Không chỉ tướng lĩnh cấp cao, mà hàng ngũ sĩ quan cấp Vệ, Cơ nhỏ cấp
Đội, Thuyền và những đơn vị ở kinh cũng dùng loại ấn dấu Đồ ký. Đồ ký
chỉ dùng cho các đơn vị quân đội và các cơ quan dân sự cấp thấp, trong
quyển 53 - đời Minh Mệnh thứ 19 có một số hình dấu Đồ ký.

Dấu Loan giá vệ đồ ký[222] 鑾駕衛圖記 (Đồ ký của Vệ Loan giá) có cỡ
4,4x5,8cm, năm chữ Triện chia ba hàng, dấu đóng ở đoạn ngày tháng của
dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thứ 19 (1838). Đây là bản trình tấu của
chức Loan giá khanh coi Vệ Loan giá do Tôn Thất Tường chỉ huy. (H. 163)



Các đơn vị Vệ Cẩm y, Vệ Kim ngô đều sử dụng Đồ ký có hình thức và tính
chất như Vệ Loan giá, chỉ khác về tên chữ trong dấu.

Quy định về vị trí đóng dấu Đồ ký được ghi trong chính sử: “Từ nay về
sau Đồ ký của Thị trung, Thị nội và Dinh vệ các quân do quan cấp cho,
phàm gặp những công việc như tấu, sớ, tờ tư sổ sách, tiền lương và trình
báo đều chuẩn cho đóng lên chữ “Tháng mỗ” còn tất cả các việc riêng đều
không được dùng”[223].

Các đơn vị hải thuyền được gọi là Thuyền 船 biên chế theo từng chiến
thuyền và dùng Đồ ký có kích thước nhỏ hơn các đơn vị Cơ, Vệ. Xin ví dụ
một dấu Đồ ký của đơn vị Thuyền.

Dấu Nam hưng đồ ký[224] 南興圖記 (Đồ ký thuyền Nam Hưng) có cỡ 4x5,3cm, bốn
chữ Triện chia hai hàng. Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên đại
Minh Mệnh thứ 19 (1838), phía dưới có dòng chữ Hán với nội dung là bản
trình báo của các sĩ quan thuyền Nam Hưng khi đi công cán trở về. (H.
164)



Hiện tượng có hai kiểu chữ (Triện thư và Chân thư) trong cùng một con
dấu cũng trong loại hình Đồ ký. Hai hình dấu của ví dụ dưới đây sẽ kết
thúc dẫn chứng của mục: “Ấn chương trong binh chế quân đội thời Nguyễn”.

Dấu Kinh tượng nhất vệ đồ ký[225] 京象壹衛圖記 (Đồ ký của Vệ thứ nhất Kinh
tượng), có cỡ 4,0x5,4cm. Chiều dài dấu 5,4cm được chia làm hai phần bằng
một đường kẻ ngang, phần trên nhỏ cỡ 1,2x4,0cm trong là hai chữ “Kinh
tượng” 京象, kiểu chữ Chân xếp theo hàng ngang, phần dưới cỡ chữ 4,0x4,2cm
là bốn chữ Triện “Nhất vệ đồ ký” 壹衛圖記 xếp theo hai hàng dọc. Dấu đóng ở
đoạn chữ “nguyệt” dòng niên hiệu ghi năm Minh Mệnh thứ 16 (1835). Trang
trước có dòng chữ Hán ghi rõ chức tước của viên chỉ huy là Lê Văn Thụy
tước Thông cương nam ở Vệ thứ nhất Kinh tượng thuộc Tượng binh. (H. 165)



Dấu Cẩm y túc trực đồ ký 錦衣肅直圖記 (Đồ ký của ban Túc trực Vệ cẩm y) có cỡ
4,0x5,4cm, cũng được chia làm hai phần giống như dấu trên. Phần trên là
hai chữ Chân “Cẩm y” 錦衣 phần dưới là bốn chữ Triện “Túc trực đồ ký”
肅直圖記, dấu cũng đóng ở dòng niên hiệu ghi năm Minh Mệnh thứ 16 (1835).
Đây là dấu của viên sĩ quan chỉ huy ban Túc trực vệ Cẩm y thuộc Thân
binh bảo vệ Hoàng thành. (H. 166)



Đời Đồng Khánh binh chế quân đội vẫn giữ nguyên như cũ, có điều chỉnh
lại đôi chút, giảm biên chế, dồn hai Dực tả, hữu Doanh Vũ lâm quân Cấm
binh làm 4 Vệ, dồn 2 Doanh tả, hữu Thủy sư làm hai Vệ, số quân linh tinh
ở các Doanh, Vệ: Tiền phong, Long vũ, Hổ oai v.v… dồn thành một Vệ.

Về ấn, Kiềm Quan phòng, Đồ ký đời Đồng Khánh không thay đổi lớn, chủ yếu
vẫn duy trì các loại hình ấn triện cũ, bỏ một số Quan phòng, Đồ ký
những đơn vị giảm biên chế, đồng thời đúc lại những ấn triện bị mất.
Trên thực tế ở các sách chữ Hán đời Đồng Khánh chúng tôi thấy xuất hiện
rất ít ấn dấu quân đội, chỉ có thưa thớt hình dấu kiềm Thống soái, Loan
giá với nét chữ Triện xấu và đơn giản hơn do chất liệu xấu và kỹ thuật
làm ấn triện kém hơn trước.

Ấn triện trong quân đội nhiều khi được hưởng chế độ ưu tiên riêng ngoài
quy định chung. Như lệ phong, khai ấn thì đều dùng cho tất cả các loại
hình ấn triện ở mọi ngành, riêng ấn triện trong quân đội ở thời kỳ và
những khu vực có chiến tranh giặc giã, quân binh xuất chinh, nếu quân vụ
chưa xong thì các quan tướng ở nơi đó vẫn giữ nguyên ấn triện, Quan
phòng, Đồ ký và miễn lệ phong ấn, khai ấn.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:41

CHƯƠNG III

ẤN CHUƠNG TRONG CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHUƠNG THỜI NGUYỄN


Sau chiến tranh, Gia Long bắt tay vào việc xây dựng và củng cố chính
quyền từ trung ương đến địa phương, họ Nguyễn áp dụng chính sách tản
quyền chia lãnh thổ thành ba khu vực Bắc, Trung và Nam, đồng thời thiết
lập các cấp chính quyền từ cấp thành xuống phủ, huyện.

Năm 1820 Minh Mệnh lên ngôi đã chuẩn bị cho công cuộc cải cách hành
chính từ trung ương xuống tới địa phương. Đến năm 1832 bãi bỏ cấp thành
và các trấn được đổi hết là tỉnh, giai đoạn tản quyền chấm dứt và bắt
đầu thời kỳ mới: Trung ương tập quyền tồn tại đến hết vương triều
Nguyễn.

Chính sách cũng như công cuộc cải cách hành chính ở địa phương của Gia
Long và Minh Mệnh đã làm thay đổi trực tiếp đến việc sử dụng và thay đổi
ấn chương trong các cấp chính quyền địa phương, thời kỳ tản quyền và
tập quyền được coi là điểm mốc để việc trình bày về ấn chương có trình
tự và theo hệ thống lịch sử từ đầu đến cuối.

I. Ấn, Chương và Tín chương trong tổ chức hành chính cấp thành, trấn,
doanh, đạo

1. Ấn và Chương trong tổ chức hành chính cấp thành, trấn, doanh


Dưới triều Nguyễn, Chương chỉ xuất hiện và tồn tại từ thời Gia Long cho
đến năm 1832 triều Minh Mệnh. Do mối liên hệ giữa ấn chương và tổ chức
hành chính quan chế triều Nguyễn, nên cần phải tìm hiểu sự phân chia khu
vực hành chính của Việt Nam đầu thời Nguyễn. Khi lên ngôi, Gia Long
chia nước thành ba khu vực: Bắc, Trung và Nam. Bắc thành ở miền Bắc quản
11 trấn và các đạo phủ lẻ; Gia Định thành ở miền Nam quản 5 trấn; Trung
phần từ Thanh Hoa trở vào đến Bình Thuận gồm 3 trấn và 9 Doanh thì trực
thuộc thẳng triều đình (Kinh đô Huế). Tháng 9 năm 1802 Gia Long đặt Bắc
thành và phong Khâm sai chưởng Tiền quân Bình tây Đại tướng quân Nguyễn
Văn Thành làm Tổng trấn. Sử cũ chép: “Lấy Nguyễn Văn Thành làm Tổng
trấn Bắc thành, ban cho sắc ấn, 11 trấn nội ngoại đều lệ thuộc, phàm
những việc cất bãi quan lại, xử quyết kiện tụng đều được tùy tiện mà làm
rồi sau đó mới tâu lên”[226]. Tổng trấn Nguyễn Văn Thành được nhận lãnh
bộ ấn kiềm Bắc thành tổng trấn chi ấn, ấn bạc núm hình sư tử.

Trong Châu bản đời Gia Long chúng tôi tìm thấy hình dấu Bắc thành tổng
trấn chi ấn 北城總鎭之印 (ấn của Tổng trấn Bắc thành). Dấu hình vuông, kích
thước 8,8x8,8cm, sáu chữ Triện chia 3 hàng nét vuông vức[227]. Dấu đóng
cuối dòng ghi niên hiệu ngày tháng năm Gia Long thứ 17 (1818), cạnh dấu
có dòng chữ ghi tên viên Tổng trấn và Hiệp Tổng trấn là Lê Tông Chất và
Lê Văn Phong[228]. (H. 167)



Trong tập Công văn cổ chỉ chúng tôi tìm thấy 2 dấu kiềm hình vuông, kích
thước 2,7x2,7cm trong khắc 2 chữ Triện Bắc thành[229] 北城 dòng niên đại
bị rách 2 chữ đầu chỉ đọc được 10 chữ Hán Thập nhất niên thập nguyệt
thập cửu nhật. Phía dưới là dòng 5 chữ Hán lớn Nhị thập tứ nhật đáo (Đến
ngày 24), hình dấu kiềm Bắc Thành đóng đè lên chữ Tứ nhật. Bên phải
dòng niên hiệu có 3 chữ lớn Phó duyệt trình (trao cho duyệt trình lên
trên) và dưới là hình dấu kiềm Bắc thành nữa. Qua 2 dấu kiềm Bắc thành
chúng tôi đã xác định chính xác 2 chữ bị mất là “Minh Mệnh” và dòng ghi
niên đại đầy đủ là Minh Mệnh thập nhất niên thập nguyệt thập cửu nhật
(Ngày 19 tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 11 [1830]). Bởi vì dấu kiềm Bắc
Thành chỉ tồn tại đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) thì triều Nguyễn xóa
bỏ cấp thành và đổi trấn thành tỉnh, các ấn kiềm (trong đó có Kiềm Bắc
thành) được thu hồi không dùng và thay vào đó là loại ấn triện mới. Bốn
góc (ở vị trí bốn góc dấu lớn) của đoạn ghi ngày tháng dòng niên đại của
văn bản có 4 chữ Tuyên Quang trấn ấn đã giúp chúng tôi khẳng định đây
là một bản sao có đóng dấu kiềm của Bắc thành (cấp chính quyền chủ quản
của trấn Tuyên Quang). Bản sao y bản chính này được thay thế cho bản gốc
lưu lại hồ sơ làm bằng chứng, và như vậy nó được coi là một văn bản
mang tính pháp quy có giá trị như bản gốc chính. (H. 168)



Năm Gia Long thứ 7 (1808) Gia Long thấy địa thế Gia Định rộng lớn nên
đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành cho quản lý 5 trấn, sử cũ ghi: “Đến
tháng 9 năm 1808 bắt đầu đặt chức Tổng trấn Gia Định thành, lấy Nguyễn
Văn Nhân[230] làm Tổng trấn, Trịnh Hoài Đức[231] làm Hiệp Tổng trấn. Ban
ấn Tổng trấn thành Gia Định (ấn bạc núm hình sư tử)”[232]. Như vậy
Nguyễn Văn Nhân được sử dụng bộ ấn Kiềm Gia Định thành tổng trấn chi ấn.
Đến mùa thu năm Minh Mệnh thứ 1 (1820) Lê Văn Duyệt[233] lĩnh chức Tổng
trấn Gia Định thành thay Nguyễn Văn Nhân, Lê Văn Duyệt đã nhận lại bộ
ấn kiềm Gia Định từ tay Nguyễn Văn Nhân.

Trong Châu bản triều Nguyễn còn lưu giữ hình dấu Gia Định thành tổng
trấn chi ấn 嘉定城總鎭之印 (ấn của Tổng trấn thành Gia Định) có hình thức kích
cỡ giống như ấn Bắc Thành tổng trấn chi ấn, 7 chữ Triện chia 3 hàng, vị
trí có khác là đóng ở đoạn ngày tháng dòng ghi niên hiệu, ghi năm Minh
Mệnh thứ 7 (1826). Đây là ấn dấu của Lê Văn Duyệt trong một bản truyền
sai về địa phận Gia Định[234]. (H. 169)



Đời Gia Long đến đầu Minh Mệnh, các cấp trấn, doanh, đạo đều dùng một
loại ấn chất liệu bằng đồng, núm khắc con hổ, vuông hai tấc, ở vị trí
cuối cùng dòng chữ trong dấu khắc chữ “Chương” 章. Ví dụ, 1 dấu có chữ
chương áp trên văn bản tập Công văn cựu chỉ. Dấu hình vuông cỡ
8,4x8,4cm, 6 chữ Triện xếp thành 3 hàng, kiểu chữ khắc vuông vức, đó là 6
chữ Thanh Hoa trấn thủ chi chương[235] 清華鎭守之章 (Chương của chức Trấn thủ
trấn Thanh Hoa). Dấu được đóng dưới chữ “nhật” phía dưới dòng ghi niên
đại Gia Long tam niên thập nguyệt nhị thập ngũ nhật (Ngày 25 tháng 10
năm Gia Long thứ 3 [1804]). Trong văn bản ghi rõ chức quan của con dấu
này là Khâm sai chưởng Hữu doanh Đô thống chế lãnh Thanh Hoa trấn. Thời
Gia Long đến đầu Minh Mệnh, đứng đầu các trấn vẫn là các võ quan, bên
cạnh có các chức Hiệp trấn, Tham hiệp phụ giúp. (H. 170)



Các doanh ở Trung kỳ dùng ấn chương, như dấu Quảng Nam doanh chi
chương[236] 廣南營之章 (chương của doanh Quảng Nam) có kích cỡ giống như dấu
Thanh Hoa trấn thủ chi chương, chữ “Doanh” 營 ở giữa dài gấp đôi hai chữ
hàng bên. Vị trí dấu cũng đóng dưới chữ “nhật” của dòng ghi niên đại năm
Minh Mệnh thứ 7 (1826). Đứng đầu mỗi doanh là chức Lưu thủ, có các chức
Cai bạ và Ký lục phụ tá. (H. 171)



Lật giở chính sử chúng tôi thấy những điểm không khớp giữa chính sách và
thực tiễn về ấn chương thời Nguyễn. Sử cũ ghi vào năm Tân Tị Minh Mệnh
thứ 2 (1821): “Đúc… ấn đồng cho các doanh, trấn, đạo, phủ, châu, huyện
(Trước thì ấn triện có các doanh, trấn, đạo đều khắc 5 chữ Triện: Mỗ
doanh, Mỗ trấn, Mỗ đạo chi chương). Đến nay đúc ấn triện cho các doanh,
trấn, đạo đều khắc 4 chữ Triện Mỗ doanh ấn, hoặc Mỗ trấn ấn, hoặc Mỗ đạo
ấn”[237].

Có những cấp dùng ấn chương thay đổi đúng như quy chế là việc đổi
“chương” thành “ấn” như trấn Thanh Hoa. Trong Châu bản triều Nguyễn xuất
hiện dấu Thanh Hóa trấn ấn[238] 清華鎭印 (ấn của trấn Thanh Hóa), có kích
cỡ bằng “chương” cũ, nhưng viền ngoài dấu nhỏ hơn cỡ: 0,7cm. Dấu có 4
chữ Triện nên khuôn chữ to hơn, kiểu chữ khác hơn, vị trí dấu đã thay
đổi, đóng vào trên chữ “nguyệt” của dòng ghi niên hiệu năm Minh Mệnh thứ
7 (1826) (H. 172). Nhưng có những doanh cho đến năm Minh Mệnh thứ 7
(1826) vẫn dùng chương như dấu Quảng Nam doanh chi chương mà chúng tôi
đã giới thiệu ở trên.



Tính chất phức tạp của ấn dấu thể hiện rõ trong giai đoạn này. Trên cùng
một tập công văn có cùng dạng văn bản như nhau (Niên đại ghi cùng một
thời gian, có cấp đơn vị ngang nhau, ở cùng một khu vực Trung kỳ) lại
xuất hiện 2 hình dấu khác nhau hoàn toàn về tên cấp hành chính và tên
ấn, mà trước đó không lâu chúng có tên cấp hành chính và tên ấn như
nhau. Hai dấu Quảng Nam doanh chi chương và Bình Định trấn ấn 平定鎭印 (ấn
của trấn Bình Định) cùng đóng trong một tập với cùng niên đại ghi trên
văn bản là Minh Mệnh thứ 7 (1826)[239]. Nếu theo quy định cũ, Bình Định
vẫn là doanh thuộc Trung kỳ như Quảng Nam. Sự thay đổi doanh thành trấn
phải được tiến hành đồng bộ cùng một lúc? Việc dùng ấn cũng phải được
thực hiện cùng một lúc (?) (H. 173)



Những trên thực tế lúc này - Minh Mệnh thứ 7 (1826), vua Minh Mệnh đang
tiến hành phân chia lại khu vực, thay đổi điều chỉnh phẩm cấp quan chức,
tên gọi các cấp, thực chất mới tiến hành sơ bộ bước đầu một số nơi,
chưa triệt để đồng bộ trong thời gian ngắn, nên tạm thời cùng một lúc
công nhận hai loại ấn triện trên. Đến năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), doanh
được đổi hết làm trấn và tất cả các “chương” được bộ Lễ thu hồi. Tới năm
Minh Mệnh thứ 12 (1831) ở miền Bắc và năm Mệnh Mệnh thứ 13 (1832) ở
miền Nam, bãi bỏ cấp thành (Tổng trấn) và tất cả các trấn được đổi làm
tỉnh trực thuộc thẳng triều đình, giai đoạn tản quyền đến đây chấm dứt.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:41

2. Tín chương

Công việc tiếp xúc với văn bản đã giúp ta hiểu thêm rằng đời Gia Long và
đầu Minh Mệnh mọi quy chế chưa thực ổn định, chính sử sau này cũng
không nói tới. Ngoài Chương ra, thời gian đầu Nguyễn sơ còn xuất hiện
loại ấn nữa có tên là Tín chương 信章.

Tín chương được dùng cho các viên quan Khâm sai, Khâm phái ở đơn vị hành
chính dưới cấp doanh, trấn và trên cấp huyện. Quản đạo là quan đứng đầu
một đạo được dùng ấn Tín chương.

Chúng tôi xin giới thiệu một Tín chưcmg áp trên văn bản chữ Hán. Dấu
hình vuông cỡ 7,4x7,4cm, chữ Triện khắc vuông vức với 4 chữ Khâm mệnh
tín chương 欽命信章 (Tín chương của quan khâm sai). Dấu được đóng dưới chữ
“nhật” 日 về bên phải dưới dòng ghi niên hiệu Gia Long thập tứ niên tam
nguyệt sơ tứ nhật (Ngày mồng 4 tháng 3 năm Gia Long thứ 14 [1815])[240].
Trước trang có hình dấu của bản “Phó” này là trang ghi chủ nhân của
hình dấu là Quản đạo đạo Thanh Bình, tước Thành Tín hầu trong công văn
nói về phủ Thiên Quan đạo Thanh Bình[241]. (H. 174)



Cũng như Chương, Tín chương chỉ tồn tại đến đầu đời Minh Mệnh, sự phân
cấp khu vực, đổi tên các đơn vị hành chính, thay đổi thang quan chế bước
đầu của vua Minh Mệnh đã đổi đạo Thanh Bình thành đạo Ninh Bình[242].
Giống như Chương của các doanh, trấn, Tín chương được đổi làm ấn theo
chỉ dụ của vua từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), nhưng mãi mấy năm sau việc
thực hiện mới xong. Tín chương được thu hồi không dùng nữa, thay thế
bằng ấn mới có khắc chữ “ấn” ở vị trí chỗ chữ “chương”. Trên văn bản năm
Minh Mệnh thứ 8 (1827), dấu Ninh Bình đạo ấn 寧平道印 (ấn của đạo Ninh
Bình) xuất hiện với cỡ dấu bằng dấu Khâm mệnh tín chương. Dấu được áp
trên văn bản có ghi niên đại Minh Mệnh ngũ niên thập nguyệt sơ lục nhật.
Ngày 6 tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 5 (1824)[243], vị trí của dấu có khác
hơn là đóng vào chữ “nguyệt” ở dòng ghi niên đại. Hình thức dấu với 4
chữ Triện khác nhau và nét chữ cũng khác nhau, thực chất đây là dấu thay
thế dấu cũ mang tính chất ổn định và rõ ràng hơn. (H. 175)

Chương và Tín chương là hai loại hình ấn xuất hiện và tồn tại trong
khoảng thời gian ngắn so với các loại hình ấn khác, nhất là nó lại ở
thời kỳ đầu triều Nguyễn, lúc mà mọi quy chế chưa ổn định. Do vậy việc
tìm hiểu chúng gặp không ít khó khăn, chúng tôi bước đầu chỉ giới thiệu
một cách khái quát sơ bộ như vậy.

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:41

II. Quan phòng và ấn kiềm với việc thành lập và cố định cấp tỉnh

1. Quan phòng chức vụ và kiềm ấn của Tổng đốc, Tuần phủ ở cấp tỉnh và
liên tỉnh


Giai đoạn tản quyền chấm dứt vào tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832),
triều đình Nguyễn thiết lập tỉnh thay cho trấn, trừ phủ Thừa Thiên toàn
quốc được chia làm 30 tỉnh. Theo nguyên tắc tổ chức hành chính mới ở địa
phương cấp tỉnh phải có một chức quan cao cấp lãnh đạo, nhưng vì địa
thế một số tỉnh xa trung ương, đồng thời để thuận lợi cho việc quản lý
nên Minh Mệnh đã ghép 30 tỉnh thành 14 liên tỉnh, trừ tỉnh Thanh Hoa là
đất phát tích. Tất cả quan chức cấp tỉnh đều được ban ấn kiềm, Quan
phòng mới để sử dụng.

Triều Nguyễn Minh Mệnh đặt chức Tổng đốc đứng đầu mỗi liên tỉnh, Tổng
đốc vừa là chức quan cao nhất ở địa phương vừa là một Khâm sai đại thần
tại địa phương đó. Phẩm hàm của Tổng đốc ngang với chức Thượng thư ở mỗi
Bộ, quản hạt của Tổng đốc không có danh xưng mà chỉ dùng tên địa phương
để gọi. Tổng đốc ở tỉnh nào thì kiêm luôn chức Tuần phủ ở tỉnh đó,
những liên tỉnh nhỏ hoặc không quan trọng thì đặt Tuần phủ chứ không đặt
Tổng đốc.

Sử cũ ghi: “Năm (Minh Mệnh) 12 (1831) chuẩn nghị: Chia ra từng hạt đặt
ra quan, từ Quảng Trị ra Bắc chia làm 18 tỉnh, Quảng Nam trở vào phía
Nam chia làm 12 tỉnh, đều chuẩn kiêm hạt đặt ra một Tổng đốc, chia hạt
đặt 1 Tuần phủ, vậy nên đúc ấn Quan phòng bằng bạc cấp cho mỗi tỉnh một,
đều núm thẳng, dài 2 tấc 2 phân, ngang 1 tấc 4 phân, dầy 2 phân 3 ly.
Dấu kiềm bằng ngà đều mỗi tỉnh một,…”[244].

Như vậy Tổng đốc, Tuần phủ không dùng ấn quan mà sử dụng Quan phòng chức
vụ và kiềm nhỏ hình vuông. Quan phòng của Tổng đốc khắc tên địa phương
(liên tỉnh) mà viên Tổng đốc đó quản hạt.

Việc đóng dấu Quan phòng trên văn bản của Tổng đốc, Tuần phủ cũng được
quy định trong Đại Nam điển lệ: “Lệ năm Minh Mệnh 13 (1832) định: Quan
Tổng đốc Tuần phủ ở các tỉnh ấn Quan phòng… đều dùng hộp son đóng trên
chữ “nguyệt” ở dòng niên hiệu”[245]. Xin giới thiệu một dấu Quan phòng
và dấu kiềm của Tổng đốc một liên tỉnh. Dấu hình chữ nhật có kích thước
6,0x9,3cm, viền ngoài 0,8cm, 8 chữ Triện chia 3 hàng, hai chữ ở giữa dài
gấp rưỡi chữ hàng bên, là 8 chữ Quảng Nam Quảng Ngãi tổng đốc quan
phòng 廣南廣義總督關防 ( Quan phòng của Tổng đốc liên tỉnh Quảng Nam Quảng
Ngãi). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Tự Đức thập thất
niên lục nguyệt thập thất nhật (Ngày 17 tháng 6 năm Tự Đức thứ 17
[1864]). Bên phải có dấu kiềm hình vuông cỡ 2,6x2,6cm, 2 hàng với 4 chữ
Triện trong dấu là: Nam Ngãi tổng đốc 南義總督 (Tổng đốc liên tỉnh Nam
Ngãi). Kiểu chữ giống như chữ ở Quan phòng lớn trên, dấu kiềm được đóng
dưới 2 chữ “Y lệnh” 依令. phía dưới dấu Quan phòng lớn là dòng chữ Hán “Lý
trưởng Nguyễn Văn Vinh ký” tiếp dưới là hình dấu triện rách nhòe không
đọc được[246].



Cũng trong tập Công văn cựu chỉ[247] dấu hình chữ nhật cỡ 6,0x9,3cm,
viền ngoài nét đậm cỡ 0,4cm, 6 chữ Triện xếp theo chiều dọc 2 hàng, kiểu
chữ vuông thẳng, là 6 chữ Ninh Bình tuần phủ quan phòng 寧平巡撫關防 (Quan
phòng của Tuần phủ tỉnh Ninh Bình). Dấu áp trên chữ “nguyệt” dòng niên
đại Minh Mệnh thập tam niên nhị nguyệt sơ thập nhật. Đây là dấu Quan
phòng chức vụ của quan Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, đóng vào ngày 10 tháng 2
năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). Bên cạnh dấu Quan phòng lớn này có hình
dấu kiềm nhỏ đóng nơi giáp trang, dấu kiềm hình vuông cỡ 2,4x2,4cm, hai
hàng với 4 chữ Triện Ninh Bình tuần phủ (Tuần phủ tỉnh Ninh Bình).
(H.177)

Cũng trong tập Công văn cựu chỉ[248] chúng tôi thấy xuất hiện dấu Ninh
Bình tuần phủ quan phòng khác có kích cỡ, vị trí của dấu, 6 chữ Triện y
như dấu trên. Nhưng nhìn kỹ thì thấy dấu thứ hai này có hai đường viền
và nét chữ Triện mềm cong và ít nét hơn. Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng
ghi niên đại Tự Đức tam thập niên thập nhị nguyệt nhị thập bát nhật
(Ngày 28 tháng 12 năm Tự Đức thứ 30 [1877]). Phía dưới dấu là 2 dòng chữ
ghi tên họ của viên Thư lại và viên Thông phán ở Phiên ty. (H. 178)


Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:42

2. Bố chính sứ và án sát sứ với việc dùng ấn kiềm

Ở mỗi tỉnh nhà Nguyễn đặt ra hai ty trực thuộc sự cai quản của Tuần phủ
hay Tổng đốc.

Ty Bố chính sứ (hay Phiên ty) trông coi việc đinh điền, đê điều thuế
khóa, tài chính, hộ tịch. Đặt chức Bố chính sứ đảm nhiệm.

Ty án sát sứ (hay Niết ty) coi việc hình án, phong hóa kỷ cương, trừng
thanh quan lại, giao thông trạm dịch. Do chức Án sát sứ đảm nhiệm.

Bố chính sứ và Án sát sứ không dùng Quan phòng chức vụ như Tổng đốc,
Tuần phủ mà sử dụng bộ ấn kiềm của một ty có chủ quản trực tiếp. Sử cũ
ghi: “Năm thứ 12 (1831) nghị chuẩn: lần này đã phân hạt đặt quan, mỗi
hạt đặt một Bố chính sứ, một Án sát sứ, nghĩ nên đúc ấn đồng núm thẳng,
vuông 1 tấc 8 phân và chế con dấu kiềm bằng ngà mỗi hạt Bố chính, Án sát
đều cấp cho một để dùng”.

Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội còn giữ được mấy quả ấn thời Nguyễn.
Quả ấn ký hiệu LSb 2528 có núm hình chuôi vồ thắt đáy, cao 7cm và dầy
1,2cm. Trên mặt phần núm ấn khắc 2 dòng chữ Hán. Dòng bên phải ghi: Minh
Mệnh thập nhị niên (Minh Mệnh thứ 12 [1831]), bên trái ghi: Trọng thập
nhị lượng ngũ tiền tam phân (Nặng 12 lượng 5 tiền 3 phân), dấu hình
vuông cỡ 7,5x7,5cm, 8 chữ Triện xếp theo 4 hàng là 8 chữ Hưng Hóa bố
chính sứ ty chi ấn 興化布正使司之印 nét chữ cong mềm, khuôn chữ nhỏ và dài để
cân đối với bố cục dấu hình vuông. Đây là ấn của ty Bố chính sứ tỉnh
Hưng Hóa. (H. 179 a,b,c,d)

Quả ấn ngà duy nhất thuộc thời Nguyễn ở Viện Bào tàng Lịch sử có ký hiệu
LSb 463/GI 253, ngoại hình kiểu hình tháp bằng đầu, mặt trên không ghi
niên đại, dấu hình vuông cỡ 2,5x2,5cm, bốn chữ Triện chia hai hàng Hưng
Hoá án sát 興化按察. Đây là Kiềm ấn của viên Án sát sứ tỉnh Hưng Hóa, đi
cùng cặp với ấn lớn Hưng Hóa án sát sứ ty chi ấn. Nhưng ấn lớn đã bị
mất, tại địa phương này, người ta chỉ tìm thấy một ấn lớn của Bố chính
sứ và một kiềm nhỏ của Án sát sứ Hưng Hóa. (H. 180)




Cũng như các loại hình ấn khác, những chứng tích ấn dấu của Bố chính, Án
sát đến nay chỉ còn lại trên văn bản chữ Hán, xin giới thiệu dấu ấn -
kiềm của Bố chính sứ Ninh Bình. Dấu hình vuông cỡ 7,5x7,5cm, 8 chữ Triện
chia 4 hàng, nét chữ mềm cong là 8 chữ Ninh Bình bố chính sứ ty chi ấn
寧平布正使司之印 (ấn của Ty bố chính sứ tỉnh Ninh Bình). Dấu đóng trên chữ
“nguyệt” dòng ghi niên hiệu Thiệu Trị nhị niên thập nhị nguyệt thập thất
nhật (Ngày 17 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 2 [1842]).

Phía dưới dấu lớn về bên trái là dấu kiềm với 4 chữ Triện Ninh Bình bố
chính 寧平布正 đóng dưới chữ “chấp bằng” - chứng thực của bản phó[249]. Dấu
hình vuông cỡ 2,5x2,5cm, 2 chữ “Ninh Bình” nét chữ có khác 2 chữ “Ninh
Bình” ở dấu lớn trên. Điều này cho thấy không phải bất cứ tự dạng của
một dấu kiềm nào cũng phải giống tự dạng của ấn. Quan phòng lớn cùng
cặp[250]. Phía bên phải là dòng chữ Hán ghi tên họ của viên Lý trưởng và
một dòng khác ghi tên họ của viên Vị nhập lưu thư lại ở Phiên ty. (H.
181)



Xin giới thiệu tiếp dấu ấn của ty Án sát sứ Hà Nội. Dấu hình vuông cỡ
7,5x7,5cm, 8 chữ Triện trong dấu Hà Nội án sát sứ ty chi ấn 河內按察使司之印 (ấn
của ty Án sát sứ tỉnh Hà Nội ). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi
niên đại Minh Mệnh thập lục niên nhuận lục nguyệt thập nhị nhật bên trái
là dòng chữ Hán kê khai việc hình phạm ở địa phương. Có hình 4 dấu Kiềm
đóng đè trên chữ tên họ người, dấu Kiềm hình vuông cỡ 2,5x2,5cm, 4 chữ
Triện Hà Nội án sát 河內按察 có nét khắc vuông vức hơn nét chữ ở dấu lớn
trên. Dấn ấn của viên Án sát sứ tỉnh Hà Nội này đóng vào ngày 12 tháng 6
nhuận năm Minh Mệnh thứ 16 (1835). (H.182)

Ở các tỉnh khi mà chức Tổng đốc, Tuần phủ đi vắng; hoặc tỉnh vẫn khuyết
chân Tuần phủ, nếu có việc cơ mật quan Bố chính phải họp với quan Án sát
sứ. Công văn tấu trình lên phải đóng liền hai dấu của Bố chính sứ và Án
sát sứ trên đoạn ngày tháng dòng ghi niên hiệu (Hai dấu đóng dính nhau
với dòng ghi niên hiệu ở giữa).

Lệ về ấn, Quan phòng đối với các chức quan cấp tỉnh được chính sử ghi:
“Lệ năm Minh Mệnh 14 (1833) định rằng phàm hạt nào gồm các quan Tổng
đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát cùng một tỉnh, khi gặp có khuyết một
trong bốn chức nói trên thì ấn triện của quan Tổng đốc chuẩn giao cho
quan Tuần phủ tạm giữ; ấn triện của quan Tuần phủ chuẩn giao cho quan
Tổng đốc; ấn triện của quan Bố chính hay Án sát đều chuẩn giao cho quan
Tổng đốc. Nếu khi ấy không có quan Tổng đốc thì giao cho quan Tuần phủ.
Hạt nào chức hàm Tổng đốc mà lĩnh Tuần phủ, hay hàm Tuần phủ mà thự Tổng
đốc quan phòng cùng với quan Bố hay Án một tỉnh, khi khuyết chức nào
thì ấn triện của quan Bố hay quan Án đều giao cho quan Tổng đốc hay Tuần
phủ tạm giữ… “[251].



Các ngạch khác ở cấp tỉnh cũng được sử dụng Quan phòng chức vụ riêng như
chức Đề đốc, Lãnh binh, Phó lãnh binh được dùng Quan phòng bằng đồng,
Kiềm bằng ngà hoặc bằng gỗ, Nha Học chính dùng Quan phòng bằng đồng và
dấu kiềm bằng gỗ.

Nạn giặc giã, chiến tranh ở một số tỉnh thuộc hai khu vực Nam kỳ và Bắc
kỳ thời Nguyễn tương đối nhiều. Do đó ấn triện bị thất lạc không ít, nên
từ thời Minh Mệnh thứ 14 (1833) đã có chỉ dụ về việc đổi cấp ấn triện
khác thay cho những cái đã bị mất. Sau loạn Nam kỳ năm 1833 vua Minh
Mệnh ra chỉ dụ: “… Nay chuẩn y theo kiểu chế tạo quan hàng Tổng đốc định
liệu ấn Quan phòng Tuần phủ Gia Định, ấn triện Bố chính Án sát… Các
quan viên trên này đều một ấn triện Quan phòng dấu Kiềm ký và ấn triện
phủ huyện sáu tỉnh ấy hơi khác đi 1, 2 nét chữ nhằm có thể phân biệt
thật giả để tiện giao cho viên mới bổ nhiệm, sử dụng. Còn những quả ấn
Quan phòng, ấn triện dấu Kiềm trước, chuẩn đợi sau tra rõ xem thất lạc
vào đâu, nếu có còn để phải nộp về Bộ để hội đồng tiêu hủy đi”[252].
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:42

III. Ấn, Đồ ký ở cấp phủ, phân phủ, huyện, châu

Ngay từ thời Gia Long đến đầu Minh Mệnh đã phân cấp phủ, huyện, châu và
đặt các chức Tri phủ đứng đầu một phủ và Tri huyện quản lãnh một huyện.
Thời kỳ này phủ đặt hai viên Tri phủ, mỗi huyện đặt hai viên Tri huyện
gọi là Đông đường và Tây đường. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vua xuống chỉ
chuẩn cho các phủ, huyện, châu đều được sử dụng ấn bằng đồng. Tới năm
Minh Mệnh thứ 3 (1822) quy định về ấn triện cụ thể hơn: “ … Phàm các phủ
thuộc về Trực lệ[253] ấn bằng đồng, vuông một tấc 6 phân 7 ly, trong
khắc 4 chữ Triện Mỗ phủ ấn. Các huyện thuộc về Trực lệ, ấn bằng đồng
vuông 1 tấc 5 phân 3 ly, trong khắc chữ Triện Mỗ huyện ấn. Các phủ thuộc
các thành, trấn ấn bằng đồng vuông 1 tấc 6 phân 2 ly, trong khắc 4 chữ
Triện Mỗ phủ ấn. Các huyện, châu thuộc các thành, trấn ấn bằng đồng
vuông 1 tấc 4 phân, trong khắc 4 chữ Triện Mỗ huyện ấn”[254].

Thời gian này nhà Nguyễn chú ý nhiều đến cấp phủ, huyện châu. Thống kê
cả nước có 37 phủ và 127 huyện, châu. Tổng cộng 164 phủ, huyện, châu đều
được ban cấp ấn bằng đồng và kiềm gỗ, có quy định cả về mực đóng dấu và
dây đeo ấn của mỗi loại. Đến năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) nhà vua xuống
chỉ cho phủ huyện ở các thành, doanh, trấn giảm một viên Tri phủ ở mỗi
phủ và một viên Tri huyện ở mỗi huyện, nên việc sử dụng ấn triện ở cấp
phủ, huyện được ổn định hơn.

Công cuộc cải cách hành chính ở địa phương với việc bãi bỏ cấp thành và
các trấn được đổi làm tỉnh vào năm 1831 - 1832 đã làm thay đổi không ít
đến cấp phủ, huyện, châu. Cấp phân phủ với chức Đồng tri phủ ra đời và
được ban cấp ấn Đồ ký. Sử cũ ghi: “Phủ huyện các địa phương trong đó có
phủ rất trọng yếu hay trọng yếu mà thiếu người làm việc, nơi nào bốn
huyện trở lên đặt một viên Đồng tri phủ cấp thêm một phân phủ Đồ ký bằng
đồng và một Kiềm bằng gỗ (Đồ ký dài 1 tấc 4 ly ngang 1 tấc 8 ly, núm
vòng tròn, trong khắc chữ Triện: Mỗ phân phủ đồ ký)”[255].

Đồ ký đồ dùng cho các quan nhỏ ở cấp dưới mới đặt, hoặc đã có nhưng để
phân biệt với ấn triện của các chức quan ở cấp tương đương hoặc gần
tương đương. Các chức Huyện thừa, Giáo thụ, Huấn đạo, Trưởng quan các ty
v.v… đều sử dụng Đồ ký. Đây là việc làm khoa học của triều Nguyễn -
Minh Mệnh trong việc kiện toàn tổ chức hành chính địa phương với gần 200
đơn vị phủ, phân phủ, huyện, châu. Rõ ràng sự phức tạp trong công tác
quản lý của cấp tỉnh và cả trung ương đối với cấp phủ, huyện (và các cấp
tương đương) sẽ giảm hơn so với trước, đồng thời nó là mực thước cho
các vua Nguyễn sau này noi theo.

Việc đóng dấu ấn, Đồ ký cùng Kiềm ấn của các cấp phủ phân phủ, huyện,
châu được quy định rõ. Ấn, Đồ ký phải đóng trên chữ tháng “mỗ” ở dòng
chữ niên hiệu, kiềm ấn đóng ở chỗ tẩy xóa, sửa chữa và chỗ giáp trang.

Xin giới thiệu một dấu cấp phủ trong tập Công văn cổ chỉ[256]. Dấu hình
vuông, cỡ 6,9x6,9cm. Bốn chữ Triện khắc vuông vức chia hai hàng, là 4
chữ Quốc Oai phủ ấn 國威府印 (Ấn của phủ Quốc Oai). Dấu đóng trên chữ
“nguyệt” dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thập niên lục nguyệt sơ cửu nhật.
Đây là ấn dấu của viên Tri phủ phủ Quốc Oai trong một bản tấu đóng vào
ngày 9 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 10 (1829). Bên trái dấu Tri phủ trên là
hai dòng chữ Hán ghi tên tuổi của bốn người có kiềm dấu rất nhỏ đóng
dưới mỗi tên, vì mờ nhòe nên không đọc được. Tuy nhiên qua ngoại hình và
nét nhòe của dấu chúng tôi khẳng định đây không phải là dấu kiềm phủ
Quốc Oai, cũng không phải là kiềm dấu có chữ Tín, loại Kiềm dấu này hiếm
thấy trong các văn bản chữ Hán thời Nguyễn. (H. 183)

Xin giới thiệu tiếp dấu Đồ ký của một phân phủ trong tập Công văn cổ
chỉ[257]. Dấu hình chữ nhật cỡ 4,6x4,6cm, sáu chữ Triện chia hai hàng.
Nét chữ mềm cong rõ nét là 6 chữ Ứng Hòa phân phủ đồ ký 應和分府圖記 (Đồ ký
của phân phủ Ứng Hòa). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu
Minh Mệnh thập bát niên lục nguyệt nhị thập tứ nhật. Đây là dấu của chức
quan Đồng Tri phủ phụ trách phân phủ Ứng Hòa đóng vào ngày 24 tháng 6
năm Minh Mệnh thứ 18 (1837). (H. 184)

Việc thay đổi cấp phủ, phân phủ, huyện, châu thời Nguyễn không chỉ diễn
ra một lần, mà lẻ tẻ qua nhiều đợt khác nhau. Những điểm này chính sử
không ghi lại - nhưng trên thực tế văn bản chữ Hán chúng tôi thấy được
qua sự thay đổi khác biệt của dấu ấn. Trong cuốn Công văn tập xuất hiện
hình dấu Quốc Oai phân phủ đồ ký 國威分府圖記 (Đồ ký của phân phủ Quốc Oai).
Dấu hình chữ nhật có cỡ 4,2x6,2cm và đóng ở dòng ghi niên hiệu ghi năm
Minh Mệnh thứ 21 (1840). (H. 185)





Như vậy ta gặp lại hình dấu của địa danh Quốc Oai, nhưng không phải là
cấp phủ với dấu ấn vuông như cũ nữa, mà là hình dấu Đồ ký có hình chữ
nhật với tên gọi mới ở cấp phân phủ do chức Đồng Tri phủ quản lãnh.

Theo thống kê đầu thời Minh Mệnh: Cả nước có 127 huyện, châu (sau này có
thay đổi điều chỉnh đôi chút), chắc chắn phải có ít nhất 254 quả ấn,
kiềm cấp phát cho tất cả các Tri huyện, Tri châu, nhưng cho đến nay,
những hiện vật này hầu như đã bị chôn vùi. Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội
may mắn còn giữ lại được 3 quả ấn (trong đó có một kiềm nhỏ) của hai
viên Tri huyện và một quả của chức Huyện thừa.

Quả ấn có ký hiệu LSb 2526 chất liệu bằng đồng cán chuôi vồ, trên to
dưới thuôn, cao 6,5cm và dầy 1,5cm. Phần trên ấn khắc hai dòng chữ Hán ở
hai bên Minh Mệnh tam niên và Vũ khố phụng tạo. Mặt dấu hình vuông cỡ
6x6cm, bốn chữ Triện chia hai hàng là 4 chữ An lập huyện ấn 安立縣印 (Ấn của
huyện An Lập). Đây là quả ấn của viên Tri huyện huyện An Lập được xưởng
Vũ khố đúc vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822). (H. 186 a,b,c,d)



Kiềm ấn cùng bằng đồng có ký hiệu LSb 2521, hình tháp bằng đầu, cao
2,2cm, mặt dấu hình vuông cỡ 1,9x1,9cm, hai chữ Triện An lập (huyện An
Lập) xếp theo chiều ngang. Đây là kiềm ấn cùng cặp với ấn lớn trên, chắc
chắn có niên đại từ năm 1822. (H. 187 a,b,c)



Quả ấn thứ ba có ký hiệu LSb 2418, cán chuôi vồ thắt đáy cao 7cm dày
1,3cm. Phần trên khắc hai dòng chữ Hán Thiệu Trị nhất niên và Trọng thập
nhị lượng, bốn chữ Triện ở mặt dấu Thất Khê huyện ấn 七溪縣印 (Ấn của huyện
Thất Khê). Đây là quả ấn của viên Tri huyện huyện Thất Khê được đúc vào
năm Thiệu Trị thứ 1 (1841), ấn nặng 12 lượng. (H. 188 a,b,c,d)



Ấn thứ 4 có ký hiệu LSb 2522. Đây là quả ấn đồng duy nhất có cán kiểu
tay quai, cao 3,5cm dầy 1,2cm. Niên đại khắc ở dấu ghi năm Minh Mệnh thứ
15 (1834), trọng lượng ghi 7 lượng, 3 tiền 6 phân. Dấu hình chữ nhật có
kích thước 4,3x5,8cm, 5 chữ Triện trong dấu là Kỳ sơn vệ đồ ký 祈山衛圖記 là
Đồ ký của vệ Kỳ Sơn. Có người lại cho rằng là 5 chữ Kỳ Sơn thừa đồ ký
祈山承圖記. Đồ ký của Huyện thừa huyện Kỳ Sơn? (H. 189 a,b)



Các hình dấu cấp huyện còn giữ được nhiều vì điều kiện có hạn nên chúng
tôi chỉ đơn cử một vài ví dụ dưới đây:

Trong tập Công văn cựu chỉ xuất hiện hình dấu Lạc An huyện ấn 樂安縣印 (Ấn
của huyện Lạc An). Dấu hình vuông cỡ 6x6cm, 4 chữ Triện Lạc An huyện ấn
chia hai hàng, dấu được đóng ở hai vị trí khác nhau, ở hai đời vua khác
nhau.

Quyển 1[258], dấu đóng ở đoạn dưới 2 dòng chữ Hán song song ở dưới trang
giấy, phía phải của dòng ghi niên đại Minh Mệnh nhị thập niên ngũ
nguyệt nhị thập cửu nhật. Chỗ giáp trang có dấu kiềm hình vuông cỡ
1,8x1,8cm mặt dấu hình hai chữ Triện Lạc An 樂安 (Huyện Lạc An). Đây là
dấu ấn và kiềm của Tri huyện Lạc An đóng vào ngày 29 tháng 5 năm Minh
Mệnh thứ 20 (1839). (H. 190)

Ở quyển 4[259], chúng tôi lại thấy xuất hiện dấu Lạc An huyện ấn có hình
thức tự dạng giống y như hình dấu trên, nhưng lại đóng ở đoạn chữ
“nguyệt” dòng ghi niên hiệu Tự Đức nguyên niên thập nguyệt thập ngũ nhật
(Ngày 15 tháng 10 năm Tự Đức nguyên niên [1847]). Bên trái có 2 hình
dấu kiềm Lạc An樂安 (H. 191)




Như vậy cùng một con dấu của cùng một chức quan đóng trong cùng một dạng
công văn ở thời điểm gần nhau, lại có sự khác biệt về vị trí hình dấu.
Hình dấu ở đời Tự Đức là hình dấu đóng bình thường đúng theo quy định ở
dòng ghi niên hiệu, còn hình dấu đóng ở đời Minh Mệnh là dấu trong một
bản sao từ nguyên bản chính của Tri huyện huyện Lạc An. Dòng ghi niên
đại không có dấu của cấp chủ quản hoặc dấu huyện Lạc An càng chứng tỏ
đây là một bản sao gốc, văn bản chính hoàn thiện đã được gửi đi không
nằm trong tập công văn này.

Công cuộc cải cách của vua Minh Mệnh năm 1827 cũng làm thay đổi bộ mặt ở
các vùng dân tộc thiểu số. Các chức Tuyên úy sứ, Chiêu thảo sứ, Phòng
ngự sứ v.v… của thổ quan miền núi bị xóa bỏ, thay vào đó là những chức
quan nói trên, đồng thời với việc ban cấp ấn triện cho họ. Các chức quan
này được sử dụng Đồ ký bằng đồng và Kiềm bằng gỗ, mặt dấu khắc 4 chữ
(Mỗ) thổ huyện đồ ký, (Mỗ) thổ châu đồ ký dùng mực màu tía để đóng dấu.

Những hiện vật và ngay cả hình dấu trên văn bản của loại Đồ ký này ngày
nay không còn giữ được. Nhiều năm nghiên cứu chúng tôi chỉ tìm thấy một
hình dấu duy nhất của dấu Đồ ký này, nhân chuyến đi công tác vào kho
Châu bản triều Nguyễn ở Tp. Hồ Chí Minh năm 1990. Dấu hình chữ nhật có
kích thước 4,0x5,5cm, 6 chữ Triện chia 3 hàng, chữ thuôn dài, nét khắc
đơn giản, là 6 chữ Nà Bôn thổ châu đồ ký 那賁土州圖記 (Đồ ký của Thổ châu châu
Nà Bôn)[260]. (H. 192)



Dấu đóng trên văn bản bằng giấy viết hoàn toàn bằng chữ dân tộc thiểu
số. Đây là hình dấu ấn của viên thổ Tri châu châu Nà Bôn, trên văn bản
bằng chữ dân tộc, được đóng ở quyển 2 đời Hàm Nghi, nên chúng tôi cho
rằng dấu có niên đại khoảng đời Hàm Nghi. Việc xác định con dấu góp thêm
tư liệu cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa các dân tộc Việt Nam
thời Nguyễn.

Thuộc quan ở cấp phủ, huyện, châu như ngành giáo dục cũng được sử dụng
ấn triện riêng, chức Giáo thụ, Huấn đạo dùng ấn Đồ ký. Quy chế này đã
ghi trong chính sử: “… ấn của viên Giáo thụ, Huấn đạo dài 1 tấc 3 phân,
ngang 8 phân 1 ly… Dùng hộp son đóng trên chữ “nguyệt” ở dòng ghi niên
hiệu”[261].

Xin miêu tả một Đồ ký của chức Huấn đạo còn tồn tại trong dân gian. Ấn
có chất liệu bằng đồng, làm theo hình núm thắt đáy loe lên. Dầy khoảng
1cm và cao khoảng 2,5cm. Dấu hình chữ nhật cỡ 3,1x5,4cm, 6 chữ Triện
chia 2 hàng, nét chữ rõ ràng vuông vức là 6 chữ Quỳnh Côi huấn đạo đồ
ký[262] 瓊瑰訓道圖記. Đây là ấn Đồ ký của viên Huấn đạo phụ trách việc Giáo
dục ở huyện Quỳnh Côi phủ Thái Bình[263]. Trên ấn không ghi niên đại
nhưng qua hình dấu, tự dạng chữ Triện chúng tôi khẳng định đây là Đồ ký
thời Nguyễn. (H. 193 a,b).

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:42

IV. Kiềm ký

Một loại hình ấn hiện nữa tuy xuất hiện với số lượng rất ít, nhưng cũng
phải được xếp vào danh mục các loại hình ấn triện ngang hàng với ấn,
Chương, Quan phòng, Đồ ký: đó là Kiềm ký 鈐記. Kiềm ký là loại ấn dùng cho
các chức chỉ huy các cửa thành, cửa biển, cửa khẩu, đài quan sát, trạm,
đồn, đèo ải, các thuyền nhỏ và các sở tuần ty v.v…

Kiềm ký là hai chữ cuối cùng trong dấu cũng như Đồ ký hay Quan phòng
trong một con dấu. Ở đây ta phải chú ý phân biệt sự khác nhau hoàn toàn
giữa Kiềm ký và Kiềm ấn. Kiềm ấn là loại ấn nhỏ hình vuông đi cùng cặp
với những ấn lớn như ấn cơ quan, Quan phòng; chữ khắc trong Kiềm ấn
thường rút gọn, có cùng nội dung với ấn lớn cùng cặp. Còn Kiềm ký mang ý
nghĩa pháp lệnh riêng biệt của các chức quan cấp thấp dùng cho các đơn
vị như đã nêu trên.

Những chỉ dụ dưới đây của Minh Mệnh được coi là định lệ bất di bất dịch
của loại Kiềm ký này.

Lời dụ năm Minh Mệnh thứ 8 (1827): “Chế tạo cho 9 cửa Cung thành, 5 cửa
Hoàng thành, 10 cửa Kinh thành, cầu Thủy quan… 1 dấu Kiềm bằng gỗ và 1
cái hộp bằng thiếc đựng dầu tía để đóng dấu, cấp cho viên Thủ hộ để
phòng lúc tâu báo và gặp việc quan trọng chuẩn cho sử dụng. Dấu kiềm mỗi
cái dài 1 tấc 1 phân 7 ly, ngang 5 phân 4 ly. Tầng trên khắc 2 chữ chân
phương Mỗ thành, tầng dưới khắc 2 chữ chân phương Mỗ môn hoặc Quan viên
kiềm ký.

… Cửa Thuận An, Tư Hiền thuộc phủ Thừa Thiên, các cửa Đà Nẵng, Đại
Chiêm, Đại An thuộc tỉnh Quảng Nam… chuẩn cho chế và cấp đều một dấu
Kiềm bằng gỗ và một cái hộp bằng thiếc đựng dầu tía để đóng dấu”[264].

Chỉ dụ của Minh Mệnh năm 1828: “Chế cấp cho đài Trấn Hải, Điện Hải một
dấu Kiềm bằng gỗ, dài 1 tấc 2 phân 6 ly, ngang 5 phân 4 ly, chuẩn cho
đóng dấu son đỏ…”[265].

Chỉ dụ năm Minh Mệnh thứ 10 (1829): “Chế cấp cho cửa bể Văn Uyên, cửa bể
Du Thân, mỗi nơi đều một dấu Kiềm bằng đồng, dài 1 tấc 2 phân 6 ly,
ngang 7 phân 6 ly…

… Các hiệu thuyền Ba hải chiểu theo kiểu mẫu dấu Kiềm ký thuyền Tĩnh ba
số 4, chất ngà khắc chữ chân phương, dài 1 tấc 8 phân ngang 9 phân, ban
cho sử dụng để thống nhất”[266].

Qua những trích dẫn trên ta thấy Kiềm ký được làm với nhiều chất liệu
khác nhau: bằng ngà, bằng đồng và bằng gỗ. Kích thước của Kiềm ký ở mỗi
đơn vị cũng khác nhau, chất liệu tốt hơn có kích thước lớn hơn sẽ tỷ lệ
thuận với cấp bậc chức vụ của viên chỉ huy đơn vị. Điều đáng chú ý là
tất cả các dấu Kiềm ký đều khắc chân phương, không dùng chữ Triện như
các loại hình ấn khác.



Xin giới thiệu một số dấu Kiềm ký đã in sao được ở Châu bản triều
Nguyễn. Một dấu thuộc loại cửa thành có hình chữ nhật kích thước
3,4x5cm. Dấu chia hai phần bằng một nét ngang, phần trên là 1/5 diện
tích dấu khắc 3 chữ chân Đại quan môn 大官門 (Cửa Đại quan) xếp theo hàng
ngang từ trái sang phải. Phần dưới còn lại khắc 4 chữ Chân xếp theo 2
hàng dọc là 4 chữ Thủ hộ kiềm ký 守護鈐記 (Kiềm ký của chức Thủ hộ). Dấu
đóng trên chữ nguyệt dòng ghi niên hiệu Minh Mênh thập cửu niên tam
nguyệt sơ nhị nhật (Ngày 2 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 9 [1838]). Trước
trang có dấu là trang có dòng chữ Hán Đương trực thần Trần Văn Trí và Vũ
Đức Khuê thủ hộ đại quan môn (Bầy tôi Trần Văn Trí và Vũ Đức Khuê chức
Thủ hộ cửa Đại quan đương trực)[267]. (H. 194)



Dấu Kiềm ký ở cửa biển có hình chữ nhật 3,3x5,3cm, 8 chữ Hán kiểu Chân
thư chia làm hai hàng dọc, là 8 chữ Cần Giờ hải khẩu tấn thủ kiềm ký
芹除海口汛守鈐記 (Kiềm ký của đồn binh canh giữ cửa biển Cần Giờ). Dấu đóng trên
chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thập cửu niên tam nguyệt sơ
ngũ nhật (Ngày 5 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 19 [1838]). Trước trang hình
dấu là trang có dòng chữ Hán Cần Giờ tấn thủ thủ ngự thần Phạm Văn Lễ
(Bầy tôi Phạm Văn Lễ chức Thủ ngự đồn binh canh giữ cửa biển Cần
Giờ)[268]. (H 195)
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:43

V. Ký Triện hay Triện của tổng lý cấp tổng xã

Loại hình ấn triện cuối cùng của cấp chính quyền địa phương được giới
thiệu trong chương này là Ký Triện 記篆 hay còn gọi là Triện 篆. Ký Triện
hay Triện là ấn dấu của Cai tổng (tức Chánh tổng) và Lý trưởng - những
người đại diện cho chính quyền cấp tổng, xã là đơn vị hành chính thấp
nhất ở Việt Nam.

Lệ nhà Nguyễn quy định mỗi tổng đặt một Cai tổng, tổng nào ruộng đất
nhiều hoặc đường đi xa đến hai ba ngày thì đặt một Cai tổng và một Phó
tổng. Khi có khuyết thì viên Tri phủ, Tri huyện tuyển chọn nhân viên
trong hạt, đề bạt lên. Bộ Lại duyệt, tâu cho cấp văn bằng làm Cai tổng
thí sai đủ 3 năm sát hạch, đúng là người mẫn cán, thanh liêm mới cho
thực thụ. Cai tổng thực thụ làm việc tốt thì được thăng Chánh bát phẩm,
thâm niên có thành tích được thăng hơn nữa. Tổng có nhiều xã, mỗi xã đặt
một viên Lý trưởng, làm đủ 9 năm mẫn cán được thưởng hàm Cửu phẩm.

Tìm hiểu tổ chức chính quyền trung ương và địa phương thời Nguyễn chúng
tôi thấy đơn vị hành chính căn bản của Việt Nam là tổng, xã được hưởng
một chế độ tự trị khá rộng rãi. Cai Tổng, Lý trưởng đại diện cho hội
đồng tổng xã hương đảng, được quyền định đoạt tài sản của mỗi gia đình
nông dân, quyết định số phận của mỗi người dân lao động. Một trong những
biểu tượng chính cho quyền lực của Tổng, Lý là dấu Triện.

Tuy là cấp thấp nhất, nhưng Triện của Cai tổng Lý trưởng vẫn được làm
theo nguyên tắc nhất định. Sử cũ ghi: “Lệ Minh Mệnh 13 định… Triện của
Cai tổng dài 1 tấc ngang 5 phân. Triện của Lý trưởng dài 8 phân, ngang 4
phân, đều dùng hộp mực, ở nửa trang dưới dòng chữ niên hiệu, ký tên rồi
đóng dưới tên ký…”[269].

Triện thời Nguyễn sơ làm nhỏ, viền ngoài dấu để nét mảnh, 6 chữ Triện
chia hai hàng. Thường là tên địa phương (Tổng, xã) + chức (Cai tổng, Lý
trưởng) + ký.

Triện nhà Nguyễn sau này (khi Pháp đã vào nước ta) có cỡ to hơn, viền
khung để rộng hơn ghi chữ Pháp hoặc chữ Quốc ngữ, bên trong vòng khung
mới có chữ Triện hoặc chữ Hán Chân thư. Điều này thể hiện 2 hoặc 3 dạng
văn tự trong cùng một con dấu.

Giới thiệu hai con dấu của Cai tổng và Lý trưởng cùng một địa phương
đóng trong cùng một tập địa bạ tổng Đồng Xuân[270]. Triện Cai tổng hình
chữ nhật cỡ 1,9x4cm, 6 chữ Triện xếp theo hai hàng, là 6 chữ Đồng Xuân
tổng cai tổng ký 同春總該總記 (Ký Triện của Cai tổng tổng Đồng Xuân). (H. 196)

Triện Lý trưởng hình chữ nhật, cỡ 1,6x3,5cm, sáu chữ Triện xếp theo hai
hàng là 6 chữ Đồng Xuân phường lý trưởng ký 同春坊里長記 (Ký Triện của Lý
trưởng phường Đồng Xuân). Dấu này đóng dưới dòng chữ Hán ghi tên họ,
chức vụ viên lý trưởng phường Đồng Xuân (H. 197)




Đời Đồng Khánh thứ 1 (1886) vì kiêng tên húy cha đẻ của mình là Kiên
Thái vương Hồng Cai, nên Đồng Khánh thay chữ “Cai” 該 tổng bằng “Chánh” 正
tổng. Lệ này được duy trì cho đến hết vương triều Nguyễn năm 1945, và
dấu Triện của Cai tổng từ năm 1886 trở đi cũng được thay chữ “Chánh
tổng” vào vị trí chữ “Cai tổng” cũ.

Sau đời Đồng Khánh, làng xã Việt Nam còn đẻ ra những loại Triện nữa.
Những dấu Triện này không thấy ghi thành quy định như Triện hay các loại
hình ấn khác, nhưng trên thực tế chúng tôi đã thấy dấu Triện của Chưởng
bạ, Hộ tịch làng xã. Dấu có hình thức khá đặc biệt và khắc hai loại văn
tự: chữ Quốc ngữ và chữ Hán trong dấu. Thường là viền ngoài dấu là chữ
Quốc ngữ và khung trong là chữ Hán lối Chân thư, như dấu Hộ tịch Vĩnh
Chân xã Vĩnh Chân tổng Hạ Hòa huyện Phú Thọ tỉnh 永眞社永眞總戶籍夏和縣富壽省 (Hộ tịch
xã Vĩnh Chân, tổng Vĩnh Chân, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ), hai chữ “Hộ
tịch” lớn hơn và nằm ở giữa dấu có hai đường kẻ ngang[271]. (H. 198)

Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:43

CHƯƠNG IV TÍN KÝ, KÝ VÀ ẤN TƯ NHÂN THỜI NGUYỄN


I. Tín Ký và Ký với dấu tên riêng

Sự đa dạng của ấn chương còn thể hiện trong loại hình ấn triện nhỏ mà
chúng tôi tạm đặt là Tín Ký 信記 và Ký 記.

Ngay từ thời Gia Long, tất cả các quan tướng lớn nhỏ trong triều ngoài
kinh ai cũng được phép tự chế tạo một quả ấn nhỏ cho riêng mình. Việc
tạo ấn này mang tính tự do giống với ấn tư nhân trên mọi lĩnh vực ngoài
xã hội. Chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, dẫn đến ảnh hưởng trong
việc quản lý của chính quyền từ trung ương xuống địa phương. Đến năm
Minh Mệnh thứ 7 (1826) quy chế về Tín Ký bắt đầu được chú ý. Sử cũ chép:
“Đình thần tâu: Trước nay các quan viên trong triều ngoài quận được
giao cho ấn, triện, Quan phòng đều đã có phép nhất định. Duy có việc
dùng Ký Triện riêng tự ý chế tạo, thể thức chế khác nhau, chưa đủ để
phân biệt tôn ty mà tín nhiệm được, xin định cho cách thức thể
chế”[272].

Theo thống kê của chúng tôi, chữ Triện khắc trên tất cả các ấn riêng của
các quan viên này thường là: TÍNH DANH + TÍN KÝ, hoặc TÍNH DANH + KÝ,
có rất ít chức danh không Tín Ký. Còn Ký Triện là từ dành cho cấp tổng,
xã, đầu đời Minh Mệnh chưa có quy chế về loại hình ấn này, nên ở Minh
Mệnh chính yếu gọi Ký Triện riêng (hoặc cách gọi của người dịch). Theo
chúng tôi phải đặt loại ấn tên riêng này là loại TÍN KÝ hoặc KÝ mới
đúng.

Cũng vào năm 1826, quy chế về loạt hình Tín Ký và Ký chính thức ban
hành: “Năm thứ 7, phúc chuẩn cho quan viên văn vũ từ Tứ phẩm trở lên
được chế riêng một quả ấn triện vuông ngà hay gỗ tùy ý, Triện khắc chữ
Tên họ mỗ tín ký. Nhất, Nhị phẩm dài 1 tấc 4 phân, ngang 1 tấc 3 phân,
Tam, Tứ phẩm dài 1 tấc 2 phân, ngang 1 tấc 1 phân đều cho đóng dấu son…
những việc riêng, chuẩn cho dùng Triện riêng mới chế, đóng vào bên dưới
chữ ngày mỗ trong dòng niên hiệu, còn từ Ngũ phẩm trở xuống, vẫn cho
dùng Ký Triện bằng mực như trước”[273].

1. Tín Ký

Tín Ký là ấn dấu chứng nhận cho một số văn bản mang tính chất khu vực,
có giá trị lớn đối với địa phương mà chức quan đó quản hạt, cũng như có
hiệu lực đối với quan lại và thuộc viên cấp dưới. Nhưng đối với công vụ,
những việc tấu trình lên trên, thì giá trị của Tín Ký không được công
nhận, ngoài sự công nhận ấn, Quan phòng, Đồ ký và Kiềm ký.

Giới thiệu một dấu Tín Ký áp trên văn bản Hán Nôm. Dấu hình chữ nhật
đứng, cỡ 4,7x5,1cm, năm chữ Triện xếp theo 3 hàng, 4 chữ chia hai hàng
bên, đó là 5 chữ Trần Lễ Nghi tín ký 陳禮儀信記 (Tín ký của Trần Lễ
Nghi)[274]. Trang có hình dấu không có dòng ghi niên hiệu, mà dấu chỉ
đóng dưới dòng chữ Hán ghi chức danh của tên người trong dấu là Lãnh
binh tỉnh Ninh Bình trên một văn bản gửi xuống cho thuộc quan cấp dưới
tới tận xã thôn. Dấu được đóng vào năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). (H. 199)

Bố cục chữ Tín Ký khắc trên dấu: Nếu tính danh có tên đệm thì họ được
viết ở giữa và 2 chữ Tín Ký xếp cùng một hàng. Nếu tính danh không có
tên đệm thì 4 chữ Triện dấu được chia hai hàng và 2 chữ Tín Ký cũng xếp
cùng 1 hàng, hoặc Tín Ký được xếp ở 2 bên theo kiểu chữ “thập” ở những
Tín Ký hình vuông.

Xin giới thiệu một hiện vật Tín Ký còn giữ được đến ngày nay, có chất
liệu bằng ngà màu tía nhạt, làm theo 4 cạnh hình tháp bằng đầu. Mặt dấu
cũng có hình bát giác, 2 cạnh ở giữa lõm hình vòng cung, viền ngoài khắc
họa tiết rất đẹp. Đường viền hình chữ nhật trong có kích thước
1,3x2,5cm, 4 chữ Triện xếp ở trong chia theo 2 hàng dọc là 4 chữ Phạm
Tôn tín ký 范宗信記 (Tín ký của Phạm Tôn). Việc xác định chủ nhân của ấn tín
này chưa thành công, chỉ dám khẳng định đây là Tín Ký thời Nguyễn qua
việc so sánh một số hình dấu loại này trên văn bản Hán Nôm. (H. 200
a,b,c)


Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:43

2. Ký

Cùng hàng với Tín Ký còn có Ký thường dùng cho các Lại thuộc ở các cơ
quan (Thư lại, Vị nhập lưu thư lại), những người có phẩm hàm thấp nhất,
hoặc chưa có phẩm hàm thấp.

Ký ở đây có sự đồng hàng về danh xưng lẫn với Ký Triện của Tổng, Lý, vì
Cai tổng có phẩm hàm ngang với Thư lại. Nhưng về ngoại hình ấn dấu của
Ký cũng tương tự như Tín Ký. Do đó chúng tôi xếp Ký ngang hàng với Tín
Ký và đặt ở cùng chương mục, tách hẳn với Ký Triện của cấp tổng, xã.
Trên thực tế số lượng thư lại rất nhiều, nhưng kiểu dấu ký cùng một
loại.

Những dấu Ký có hình thức giống như dấu Phạm Tôn tín ký (Đã mô tả ở mục
1), chỉ khác là dấu Ký thuôn nhỏ hơn, khuôn hình chữ nhật trong dấu nhỏ
hơn vì chỉ 1 dòng chữ Triện bên trong xếp theo hàng dọc: Họ + Tên + Ký.

Tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh còn giữ mấy quả ấn
thuộc loại hình Ký. Đáng chú ý là quả ấn có chất liệu bằng ngà, núm ấn
khắc hình con sư tử miệng há rộng, đuôi vểnh, thế nhún chân. Phần đế ấn
chính là bệ chân sư tử mà phần dưới làm theo hình bát giác lõm hai cạnh
giữa ấn. Mặt dấu hình bát giác, 2 cạnh giữa lõm hình vòng cung, viền
ngoài khắc họa tiết. Đường viền giữa hình chữ nhật có kích thước
1,5x4,0cm, ba chữ Triện trong dấu xếp theo hàng dọc 3 chữ Nguyễn Chính
ký 阮正記. Đây là dấu ký của một vị thư lại tên là Nguyễn Chính (H. 201
a,b,c)

Giới thiệu một dấu Ký có hình lục giác, viền ngoài có họa tiết, khuôn
hình vuông kích thước 1x2,2cm, trong có 3 chữ Triện Trần Tố ký 陳做記.Đây
là dấu Ký cửa ông Trần Đình Tố, là Vị nhập lưu thư lại. Dấu áp trên bản
công văn mà chính tay ông viết trong tập Công văn cổ chỉ[275]. (H. 202)





Ở đây xin lưu ý một chi tiết là dấu Ký khác hẳn với chữ Ký của các quan
lại chức dịch ngày xưa là chữ thay cho chữ ký như ngày nay ta thường
dùng.

Ngoài Tín Ký và Ký ra còn có loại dấu, chức danh không Tín Ký hoặc chức
danh không Ký. Thậm chí có người còn đang ở thời kỳ Hậu bổ cũng dùng chữ
Hậu bổ[276] 候補 khắc vào dấu cùng tên họ riêng như dấu Hậu bổ Hồ Trọng
Phiên 候補胡仲番 mà chúng tôi sao lại được trong tập Công văn cựu chỉ[277].
(H. 203)
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:43

II. Ấn tư nhân trong xã hội thời Nguyễn

Khác với quan ấn trên, “Tư ấn” 私印 là ấn tư nhân ở nhiều lĩnh vực khác
nhau trong xã hội thời Nguyễn, tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực thương
mại, văn hóa nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng. Vì điều kiện có hạn,
chúng tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát, sơ lược ấn dấu tư nhân
trong lĩnh vực này. Ở đây chúng tôi dùng từ “Ấn tín” 印信 để cho phù hợp
với tính chất của loại hình ấn này.

1. Ấn tín trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật thời Nguyễn

Lĩnh vực văn hóa nghệ thuật bao giờ cũng đa dạng phong phú và phức tạp,
nên ấn tín tư nhân trong văn hóa nghệ thuật cũng khá đa dạng và phức
tạp.

Xã hội đầu thời Nguyễn xuất hiện những nhà tàng bản hoàn thiện hơn thời
Hậu Lê, trên những ấn bản có đóng hình con dấu vuông vức rõ ràng khắc
tên nhà tàng bản. Ví dụ nhà tàng bản Đa Văn đường thời Tự Đức còn để lại
hình dấu trong cuốn Tứ lục sao[278], dấu hình vuông, cỡ 2,8x2,8cm, 3
chữ Triện bên trong xếp theo hàng ngang, nét chữ uốn lượn là 3 chữ Đa
văn đường 多文堂, niên đại của sách chép năm Tự Đức thứ 11 (1858). (H. 204)



Các dòng họ như Ngô gia văn phái, Phan Huy, v.v… đều có những kho thư
viện sách riêng để khỏi lẫn với các dòng họ khác.

Dòng Ngô gia văn phái với dấu Danh gia tàng thư 名家藏書 có hình vuông, kích
thước 2,6x2,6cm, 4 chữ Triện bên trong khắc vuông vức đẹp đẽ, dấu được
in trong cuốn Ngô gia văn phái[279]. (H. 205)

Dòng họ nổi tiếng Bùi Huy Bích cũng sử dụng dấu ấn riêng trên sách của
họ. Trong cuốn Hoàng Việt thi tuyển[280], dòng chữ “Tồn Am gia tàng”
viết ngay ngắn và bên cạnh là hình dấu Danh gia hội tuyển 名家會選, dấu hình
vuông kích cỡ 3,4x3,4cm, bốn chữ Triện trong dấu có nét khắc khác hẳn
dấu của họ Ngô trên. (H. 206)




Những cổ vật ngày nay còn lại khá nhiều. Trên các đồ gốm, sứ, đồng v.v…
và những bức tranh, thơ cổ có nhiều hình dấu khác nhau, ở những bức
tranh, dưới những bài thơ cổ thường là dấu tên hiệu các họa sĩ, thi gia.
Việc xác định chính xác đó là tranh cổ Việt Nam hay Trung Quốc và thuộc
thời nào, đồng thời xác định rõ hình dấu trên đó là một việc làm khó
khăn, chỉ có các họa sĩ, thi gia lão thành và các nhà nghiên cứu tranh,
thơ cổ chuyên nghiệp mới giải đáp được.

Đồ gốm, sứ, đồng thời Nguyễn khá phong phú. Các cổ vật Trung Quốc đã
trộn hòa cùng tồn tại với gốm Bát Tràng, Thanh Hóa trên đất Việt. Những
hiện vật dân tộc thường không khắc ấn dấu, chúng tôi chỉ thấy những dòng
ghi niên hiệu như “Gia Long niên chế” v.v… ở mặt đỉnh lư hương và dưới
trôn đĩa, lọ, bình.



Từ thời chúa Nguyễn về sau, ngoài những đồ Ngự dụng được đặt làm ở Trung
Quốc, một số quan lại và phú thương sành chơi thường mua hoặc đặt làm
những đồ gốm sứ Trung Quốc về dùng, trên những cổ vật này mới có những
hình dấu ấn. Chuyến công tác vào Sài Gòn trước đây chúng tôi được một đệ
tử của cụ Vương Hồng Sển cung cấp ít tư liệu có ảnh hiện vật về ấn dấu.
Trong đó có ảnh một chiếc đĩa mà đường kính thực ngoài là 15,5cm, mặt
đĩa vẽ cảnh vật không in hình chữ Hán. Mặt trôn đĩa có in một dấu hình
vuông cỡ 4x4cm, 4 Triện trong dấu viết đậm nét, cỡ chữ không đều nhau,
là 4 chữ Thái lai thanh ngoạn 泰來清玩. Đây là đĩa nhà Thanh Trung Quốc có
niên đại tương đương đầu thời Nguyễn. Chiếc đĩa này được dùng ở vùng
kinh đô Huế thời Nguyễn mà sau này cụ Vương Hồng Sển đã mua lại và xếp
vào loại đồ gốm sứ ở cố đô Huế. (H 207)



Tại Viện Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã chụp ảnh và
in được một số quả ấn và hình dấu thuộc lĩnh vực này. Ấn có ký hiệu
BTLS 1202 bằng đá, cao 16,8cm, chiều ngang 6,2cm, khắc hình con nghê mẹ
cõng nghê con đứng trên một khối hình chữ nhật. Mặt dấu hình chữ nhật
đứng cỡ 2,4x6,2cm, hai chữ bên trong xếp theo chiều dọc là 2 chữ Lan
sương 蘭霜. Dấu ghi tên hiệu người là Lan Sương. (H 208 a, b)

Ngoài ra còn một số hình dấu ghi lời hay ý đẹp như Ca vịnh thái bình
歌詠太平 theo hình elíp, có cỡ 2,2x3,3cm, 4 chữ Triện khắc nổi xếp theo hình
chữ thập, hai chữ “ca” và “vịnh” nằm giữa và rộng gấp đôi hai chữ ở hai
bên[281]. (H 209)



Những quan lại và văn nhân giỏi thường khắc ấn tín riêng ghi tên hiệu
của mình, như dấu Tùng tuyết trai 松雪齋 có kiểu chữ Triện thật lạ mắt và
độc đáo[282]. (H. 210)

Mô típ dấu chữ Phúc 福 Lộc 祿 Thọ 壽 theo lối chữ Triện có trên rất nhiều
hiện vật chất liệu khác nhau, và chạm khắc nhiều ở đình, đền, chùa trong
dân gian. Mỗi một chữ loại này có rất nhiều kiểu khác nhau, ở đây thể
hiện sự phong phú mang tính sáng tạo về thể loại chữ Triện của những
người sáng tác và cả các nghệ nhân điêu khắc. (H. 211)





Những người chơi ấn thường tạo ra những quả ấn rất nhỏ, mặt dấu làm theo
hình trái cây, hoa lá, khắc tên hiệu, hoặc khắc những mỹ tự mà họ
thích. Trong dấu dùng chữ Triện như dấu Thuận cát[283] 順吉 (H. 212) hoặc
khắc lối Chân thư như dấu Tường hợp[284] 祥合. (H .213)
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:44

2. Ấn tín trong lĩnh vực thương mại thời Nguyễn

Công cuộc cải cách của vua Minh Mệnh ít nhiều đã thúc đẩy sự đi lên của
nền kinh tế đất nước. Nông nghiệp, thủy lợi được chú trọng, việc khai
thác mỏ vàng, kim loại, đá quí phát triển, nghề kim hoàn khôi phục trở
lại, hàng năm vàng bạc đá quí và một số mặt hàng khác được tập trung đến
thương cảng Hội An tỏa đi các nước.

Hội An là khu vực lý tưởng của giới thương mại lúc đó, số lượng người
Hoa, Nhật Bản ở Hội An ngày một tăng. Đây được coi là trung tâm cộng
đồng Hoa kiều ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong thời nhà Nguyễn.

Các cửa hàng mọc lên xung quanh các hội quán, với những cửa hàng kim
hoàn, lụa tơ tằm, vải vóc, đồ sành, sứ, dược phẩm, v.v… bán sỉ và bán
lẻ. Để đảm bảo sự tín thực, chắc chắn và ổn định lâu dài trong công việc
làm ăn, mỗi chủ hiệu đều sử dụng ấn tín riêng. Ấn thường được làm bằng
gỗ, bằng xương, bằng ngà và đá đẹp, hình thước kích cỡ ấn tùy theo sở
thích của mỗi người, mặt dấu được khắc chữ Triện hay đơn giản theo lối
Chân thư. Chuyến công tác vào Hội An năm 1989 chúng tôi đã được một
thương nhân người Việt gốc Hoa cho xem các ấn tín của tiền nhân họ và
bạn buôn thời đó[285].

Những quả ấn ở đây đều có ngoại hình làm đơn giản kiểu hình tháp bằng
đầu và kiểu có núm cầm, kích cỡ to nhỏ khác nhau. Mặt dấu của mỗi quả ấn
cũng hoàn toàn khác nhau, cái hình chữ nhật, cái hình vuông hoặc hình
tròn. Bên trong dấu là những dòng chữ Triện hoặc Chân thư, kích thước
họa tiết của dấu được làm theo ý muốn chủ nhân của chúng. Trong các loại
hình ấn triện, đây là loại ấn có kích thước và hình dấu vào loại nhỏ,
nét khắc chữ Triện rất đẹp và công phu. Đây thường là dấu tên họ của chủ
hiệu và tên mặt hàng, hoặc chỉ khắc tên chủ hiệu không thôi. Đó là đặc
trưng nổi bật về tính tự do của ấn tín tư nhân trong lĩnh vực thương mại
thời Nguyễn.

Xin giới thiệu một số hình dấu ấn mà chúng tôi đã in rập được ở Hội An.
Hai quả ấn nhỏ, dấu khắc chữ Triện đóng chữ Ấn và chữ Chương. Dấu thứ
nhất có hình vuông kích thước 1,15x1,15cm, bốn chữ Triện khắc vuông vức
chia làm hai hàng là 4 chữ Diệp Khải Minh ấn 葉啓明印. Đây là ấn dấu tên
riêng của một thương nhân tên là Diệp Khải Minh. (H. 214)

Ấn dấu thứ hai có hình vuông, kích thước 1x1cm, bốn chữ Triện khắc vuông
vức rất đẹp xếp hai hàng là bốn chữ Diệp Truyền Anh chương 葉傳英章. Đây
cũng là ấn dấu của một tư thương gọi là Diệp Truyền Anh. (H. 215)



Các cửa hàng lớn họ thường dùng mấy loại ấn dấu khác nhau. Ngoài ấn tên
riêng còn có ấn lớn tên bản hiệu và ấn hóa đơn riêng. Những ấn dấu này
thường khắc theo thể Chân thư và có kích thước lớn hơn dấu tên riêng rất
nhiều. Điều đặc biệt ở đây là loại dấu này ít làm đường viền vòng ngoài
mặt dấu, do đó khi áp lên giấy sẽ cho một, hai hoặc ba dòng chữ Hán
bình thường. Nếu không tự tay cầm ấn đóng trên văn bản, mà chỉ xem dấu
chữ Chân trên giấy như những dòng chữ Hán in, thì có lẽ chúng tôi cũng
chưa dám khẳng định đây là những hình dấu trong lĩnh vực thương mại. Tất
cả ấn loại này đều được làm bằng gỗ, có núm cầm, theo thể hình chữ nhật
hoặc gần chữ nhật. Như dấu Diệp Đồng Xuân 葉同春 có kích thước 2,5x7,5cm.
Ba chữ Hán xếp theo hàng dọc, kiểu Chân thư chữ lớn rất rõ ràng, đây là
dấu hiệu cửa hàng gọi là Diệp Đồng Xuân. (H. 216)

Có khi hai loại ấn dấu của một cửa hàng (một dấu tên hiệu và một dấu hóa
đơn) có cùng một hình thức, kích cỡ, kiểu chữ và cách bố cục văn tự ở
dấu. Trên dòng chữ dấu khắc hai chữ Chân Hội An 會安 xếp ngang, cỡ nhỏ
bằng nửa chữ của dòng dấu, như dấu Hội An Diệp Đồng Nguyên hiệu thư đông
會安葉同源號書東 có kích thước 1,2x7,2cm. Đây là dấu cho hiệu sách Diệp Đồng
Nguyên ở Hội An. (H. 217)

Và dấu Hội An Diệp Đồng Nguyên phát hóa đơn 會安葉同源發貨單. Đây là dấu hóa đơn
của hiệu Diệp Đồng Nguyên trên (H. 218)

Cửa hàng kim hoàn và dược phẩm của người Hoa ở Hội An lại sử dụng ấn dấu
có hình thể khác biệt. Khi đóng dấu trên giấy sẽ thành 3 dòng chữ Hán:
dòng giữa chữ lớn gấp đôi chữ của hai dòng bên. Như dấu của cửa hiệu kim
hoàn gốc người tỉnh Quảng Đông có kích thước 3x5cm, chữ khắc ở dấu theo
thể Chân thư. Năm dòng chữ ở giữa là Quảng Đông di xương âm 廣東怡昌陰, bốn
chữ dòng bên trái là Bản hiệu đại thụ 本校大售, bốn chữ dòng bên phải là
Thập túc kim diệp 十足金葉. (H. 219)

Đây là ấn dấu của cửa hàng kim hoàn vào loại lớn lúc bây giờ, tên hiệu
gắn liền với địa danh quê hương của họ. Điều này cũng nói lên được sự
tín thực, đảm bảo trong việc buôn bán làm ăn, nhất lại là đối với loại
hàng là vàng, bạc phải sử dụng loại cân tiểu ly. Việc khẳng định loại
vàng lá đủ mười tuổi (thập túc kim diệp) trong hình dấu, nó có giá trị
hơn nhiều về lòng tin so với chiếc cân tiểu ly của bản tiệm đối với
khách hàng đến mua và bán. Ngày nay các tiệm kim hoàn của ta vẫn sử dụng
ấn riêng trên vàng bạc và hóa đơn, nhưng là chữ Quốc ngữ và số La Mã.




Con dấu chữ Chân duy nhất có đường viền mà chúng tôi in rập được ở Hội
An là ấn dấu của cửa hàng bông vải xưa. Ấn bằng gỗ có núm ấn ngắn, mặt
dấu có kích thước 2,5x3,9cm, chữ trong dấu theo thể Chân thư. Phía trên
là hai chữ Hội An 會安 viết ngang, dưới là ba dòng chữ Hán xếp theo hàng
dọc. Hai chữ Miên xương 綿昌 ở giữa viết lớn gấp đôi các chữ khác, là tên
bản hiệu, bốn chữ bên trái là Phát hóa đồ chương 發貨圖章, bốn chữ bên phải
là Chi thủ bất chuẩn 支取不准. (H. 220)




Chữ “Chương” cũng như chữ “ấn” 印, ở đây chỉ loại ấn dấu của cửa hiệu bán
hàng này, và dòng chữ trên như là một khẩu hiệu không chỉ đối với những
người mua hàng mà đối với những thành viên của bản hiệu bán hàng nữa.



Những cửa hàng dược ở Hội An mà ngày nay cháu chắt vẫn duy trì được nghề
nghiệp của tổ tiên họ, còn hàng hóa thì có mặt ở khắp mọi nơi trên đất
nước. Như hiệu Nhị Thiên đường có gốc gác từ tỉnh Quảng Đông, Trung
Quốc, xuất hiện ở nước ta từ thời Nguyễn sơ và còn tồn tại cho đến bây
giờ, không ai là không biết đến hiệu dầu Nhị Thiên đường. Con dấu Quảng
Đông nhị thiên đường 廣東二天堂 có từ thời Nguyễn còn lưu giữ được ở thị xã
Hội An là minh chứng. (H. 221)



Sự phong phú của ấn tín tư nhân trong thương mại thời Nguyễn không chỉ ở
Hội An - Đà Nẵng, mà còn tiềm ẩn ở Bắc kỳ với thành Hà Nội cổ kính và ở
Nam bộ một vùng Sài Gòn - Chợ Lớn sầm uất. Tại Viện Bảo tàng Lịch sử
Thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã in chụp được một số ấn dấu của thương
nhân thời Nguyễn, xin nêu một ví dụ cuối cùng của mục này, ấn có ký
hiệu BTLS 1368 bằng ngà, cao 4,2cm, chiều ngang 2,5cm, hình một con vật
đứng trên khối hình chữ nhật. Mặt dấu hình chữ nhật đứng cỡ 0,8x2,5cm,
bốn chữ Triện xếp theo một hàng là bốn chữ Mỹ ánh thảo đường 美映艸堂. Đây
là ấn dấu của một bản hiệu ở Sài Gòn - Chợ Lớn có tên là Mỹ ánh thảo
đường. (H. 222a&b).
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:44

3. Ấn tín trong lĩnh vực Tôn giáo tín ngưỡng thời Nguyễn

Xã hội phong kiến thời Nguyễn rập khuôn hoàn toàn theo khuôn mẫu của xã
hội phong kiến Việt Nam trước nó. Tư tưởng Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo
và Đạo giáo) đã ăn sâu cắm rễ vào con người Việt Nam qua nhiều thế hệ. Ở
một xã hội phong kiến nghèo nàn lạc hậu, bế tắc chồng chất khiến con
người luôn tìm đến tôn giáo tín ngưỡng, hy vọng một sự giải thoát hữu
hiệu. Tâm linh họ đến cửa Phật, thánh, thần, ông hoàng, bà chúa v.v… một
tấm lòng thành những mong được bình an và giải hạn. Lời thỉnh cầu của
họ được gửi gắm vào lá sớ hóa cùng vàng mã, vào lá bùa dùng để trấn yểm
v.v… Trên những lá sớ, lá bùa đó thường có in hình con dấu riêng biệt
đặc trưng cho loại hình sớ và từng loại bùa khác nhau.

Không như là sớ được lưu hành rộng rãi tự do, lá bùa chỉ có ở các thầy
cúng, thầy phù thủy. Khi gia chủ yêu cầu về việc gì thì thầy sẽ cho đạo
bùa đúng yêu cầu đó. Những người dựng nhà mới, dù đất có dữ hay không,
nhưng lễ “Nhập trạch” họ thường mời thầy hành lễ và đặt bùa “Trấn trạch”
ở nhiều chỗ trong ngôi nhà. Trên lá bùa, ngoài những dòng ghi chữ Hán,
những nét bùa chú còn in một hoặc hai ba hình ấn dấu. Không chỉ có một
mà có vài ba loại bùa “Trấn trạch” khác nhau. Hình dấu ở mỗi loại cũng
hoàn toàn khác nhau, cái hình vuông, cái hình chữ nhật, cái to, cái nhỏ
v.v… Những gia đình có người mới mất bị phạm vào ngày giờ trùng tang,
trùng phục hay nhất Sa, nhị Sa, tam Sa v.v…, gia chủ mời thầy về hành
lễ. Thầy cho nhiều bùa khác nhau. Ngoài các lọ bùa yếm ở mả, ở cổng ngõ,
tám góc trên dưới trong nhà, các cửa, bùa cuốn vào tay người mất, và
dán trong áo quan, lá bùa to đắp vào mặt người mất, và dán trên các cửa
ra vào v.v… Ngoài bùa trấn trạch và bùa tang ma ra còn nhiều loại bùa
khác nữa có các nét tróc, phọc và những nét vẽ, viết loằng ngoằng cực kỳ
khó hiểu. Ở một số loại bùa thường có in hình con dấu khác nhau, những
hình dấu này đều được đóng từ mỗi quả ấn ở chùa, đền hay điện thờ.

Qua những chuyến công tác đến nhiều chùa, đền, điện thờ khác nhau chúng
tôi đã in chụp được một số hiện vật ấn tín bằng gỗ. Số ấn này được làm
theo nhiều kiểu khác nhau, nhưng đều có điểm chung là hình thể đơn giản,
núm cầm thấp, đế ấn mỏng, văn khắc theo thể chữ Triện và cùng có chất
liệu từ gỗ đào, gỗ lê. Theo lời kể của những người giữ ấn và xem xét cụ
thể từng quả ấn, chúng tôi chỉ có thể xác định những ấn này có niên đại
khoảng trên dưới 100 năm, tức là vào giai đoạn cuối thời Nguyễn. Trong
số đó có ấn được quét sơn ta màu đỏ, có ấn thì để mộc.

Đầu tiên xin nói đến quả ấn dùng đóng trên sớ ở một ngôi chùa ở Thường
Tín, Hà Tây. Ấn hình vuông thuôn theo hình tháp thấp, núm nhỏ có khắc
chữ Thượng 上. Dấu hình vuông kích thước 7x7cm, viền ngoài khắc họa tiết,
bên trong là 4 chữ Triện Phật pháp tăng bảo 佛法僧寶 (Bảo ấn của Phật -
pháp - tăng, còn có nghĩa là Tam bảo). Dấu Phật pháp tăng bảo chuyên
dùng đóng trên lá sớ. Hiện nay ở nhiều chùa, đền còn lưu giữ ấn gỗ có
nội dung văn khắc giống như quả ấn này. (H. 223 a,b,c)



Năm 1998 chúng tôi được một cán bộ văn hóa tỉnh Lai Châu cung cấp bản
chụp và dấu của một quả ấn đồng mà ông đã chụp từ hiện vật được lưu ở
một ngôi đền cổ thuộc Lai Châu. Ấn có núm cầm hình một con thú ngồi vươn
cổ ngẩng đầu, chống chân trước, chiều cao ấn là 7,5cm, đế ấn hình vuông
kích thước 5,3x5,3cm. Mặt dấu hình vuông bằng cỡ mặt đế ấn, viền ngoài
khắc họa tiết, bên trong là 4 chữ khắc theo lối Chân, là 4 chữ Phật pháp
tăng bảo, hai chữ Phật, pháp được khắc theo kiểu phồn thể 灋僧寶. Đây là
quả ấn đồng có hình thể lạ và văn khắc khác với kiểu chữ thường dùng
trong ấn chương. (H. 224 a,b,c)




Ngoài số ít ấn tín có nội dung trùng lặp ở Phật giáo, còn lại hầu hết là
những ấn tín thuộc Đạo giáo. Số ấn này hiện được lưu giữ ở nhiều ngôi
đền, điện thờ đức Thánh Trần Hưng Đạo, tam, tứ phủ công đồng, Ngọc hoàng
thượng đế, chư vị Thánh mẫu cùng các đệ tử bà chúa, ông hoàng v.v… Xin
được giới thiệu một số ấn bằng gỗ tiêu biểu. Những quả ấn này có hình
thức khác nhau, núm ấn chiếc nào làm đơn giản thì để mộc, chiếc nào đẽo
gọt cẩn thận thì quét sơn ta. Mặt đế ấn khắc viền để rìa cạnh, chữ Triện
khắc vuông vức và rõ nét. Ấn thứ nhất làm theo kiểu hình tháp bằng đầu,
ngoài phủ lớp sơn ta đã cũ, cao 4,8cm. Mặt đế hình vuông cỡ 3,3x3,3cm
có khắc chữ Thượng (上). Mặt trên hình vuông cỡ 4,2x4,2cm. Mặt dấu hình
vuông bằng cỡ mặt đế ấn, đế viền ngoài 0,5cm, bên trong là 4 chữ Triện
Kiếp Bạc linh phù 劫泊靈符. Đây là phù ấn đóng trên các đạo bùa ở đền Kiếp
Bạc. (H. 225 a,b,c)

Các ấn tiếp theo dưới đây đều có chung hình thức là núm cầm ngắn, gần
như không có chiều cao của ấn, phần độ dầy của đế ấn gắn liền với núm
cầm. Quả ấn có phần mặt ấn khắc đường gờ lượn góc, núm cầm thấp nhưng
rộng và cạnh uốn hình sóng nước, trên mặt khắc chữ Chính (正) Mặt đế ấn
hình vuông kích thước 5,5x5,5cm. Mặt dấu hình vuông bằng cỡ đế ấn, để
viền ngoài 0,8cm, bên trong là 4 chữ Triện Tam phủ công đồng (三府公同). Đây
là ấn dấu ở ban Tam phủ công đồng. Theo quan niệm Đạo giáo “Tam phủ”
tức là ba phủ “Thiên phủ”, “Địa phủ” và “Thủy phủ”. Ở Đạo giáo nước ta,
Tam phủ công đồng là ban thờ lớn ở chính thất thờ chư vị Thánh mẫu. Đệ
nhất Thượng thiên (Tượng là mẫu Liễu Hạnh), Đệ nhị Thượng ngàn (Mẫu
Thượng ngàn) và Đệ tam Thoải phủ (Mẫu Thoải - tức mẫu Thuỷ phủ). Về sau
này một số đền, điện thờ ở ban Tam phủ công đồng còn thờ thêm nhiều hình
tượng khác, bố cục xếp đặt cũng không được thống nhất, đó là sự biến
tướng khá phức tạp của Đạo giáo Việt Nam. (H. 226 a,b)




Một quả ấn khác có toàn thân để mộc, núm ngắn đơn giản, đế ấn mỏng hình
chữ nhật, kích thước 6,9x8,3cm. Mặt đế ấn lại khắc khuôn dấu hình lá đề
đứng, kích thước 6,7x8,1cm khắc hai đường viền rìa cạnh cỡ 0,5cm. Bốn
chữ Triện trong dấu xếp theo bố cục . Nét chữ uốn
nhiều nét theo hình lá nên tương đối khó đọc, là 4 chữ Ngọc hoàng thượng
đế 玉皇上帝 đây là ấn của Ngọc Hoàng Thượng đế (H. 227 a,b,c)

Theo quan niệm của Đạo giáo thì Ngọc Hoàng Thượng đế là vị Đế cao nhất
của các Đế và thần thánh, cùng muôn loài ở cả ba cõi thiên đình, trần
gian, âm phủ. Không chỉ Đạo giáo mà nhiều giáo phái khác trên thế giới
từ xưa đến nay cũng tôn sùng và thờ phụng Ngọc Hoàng Thượng đế.

Tiếp theo là quả ấn cũng có toàn thân để mộc, núm cầm nhỏ, đế ấn hơi dày
làm theo hình vuông, kích thước 5,7x5,7cm, bốn chữ Triện khắc vuông
vức, chữ Hán thứ 2 có nét uốn kéo dài, là 4 chữ Bắc đẩu namtào 北斗南曹. Đây
là ấn dấu của Nam Tào Bắc Đẩu (H. 228 a,b,c)

Theo quan niệm của Đạo giáo thì Nam Tào, Bắc Đẩu là hai bên tả, hữu của
Ngọc Hoàng Thượng đế. Tả Nam Tào Diên thọ tinh quân được đặt bên trái
Ngọc hoàng, coi sóc về tuổi thọ của chúng sinh. Hữu Bắc Đẩu Giải ách
tinh quân đặt ở bên phải Ngọc Hoàng, trông coi về sức khoẻ và bệnh tật
của chúng sinh.

Một quả ấn nữa có độ dày và núm cầm trung bình, toàn bộ ấn được quét sơn
ta màu đỏ. Mặt đế ấn hình vuông kích thước 6,5x6,5cm, dấu hình vuông
kích thước bằng mặt đế ấn, viền ngoài đế cỡ 1cm. Bốn chữ Triện khắc nét
ngắn là 4 chữ Ngũ hổ đại tướng 五虎大將. Đây là ấn của năm đại tướng hổ (H.
229 a, b, c)




Theo quan niệm của Đạo giáo thì Ngũ hổ tượng trưng cho năm thần tướng
trấn giữ 5 phương (Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương). Năm hổ với năm
màu sắc khác nhau được định theo màu sắc của ngũ hành phương vị là hổ
đen, hổ đỏ, hổ xanh, hổ trắng và hổ vàng. Hổ vàng bao giờ cũng được đặt ở
giữa (trung ương thổ). Đền và điện thờ nào của Đạo giáo Việt Nam cùng
có am thờ Ngũ hổ hoặc độc hổ. Cũng có nhiều ấn dấu hình độc hổ, loại con
dấu này có khắc hình một con hổ, bốn góc quanh hổ khắc 4 chữ kim 金, mộc
木, thủy 水, hỏa 火và bụng hổ là chữ thổ 土. Nó tượng trưng cho ngũ hổ ở 5
phương 4 hướng khác nhau. (H. 230)



Ngoài ấn ngũ hổ và độc hổ trên còn có ấn Ngũ hổ tướng ấn 五虎將印 có hình
thức ấn và chức năng, nội dung văn khắc có ý nghĩa tương tự ấn Ngũ hổ
đại tướng. Riêng kích thước mặt đế ấn (tức mặt dấu) có nhỏ hơn một chút,
nó có cỡ 5,7x5,7cm. (H. 231)



Ở một số điện, đền thờ có ban thờ Ngọc Hoàng Thượng đế còn thấy tượng
Thiên lôi thần tướng. Hình tượng Thiên lôi thần tướng cũng được thể hiện
qua phù ấn với hình dấu có 4 chữ Triện Thiên lôi thần tướng 天雷神將. (H.
232)



Theo các đạo sĩ, thầy pháp thì những con dấu trên được dùng đóng vào lá
bùa, lá sớ mà họ đã có bản khắc in sẵn, hoặc là những bản cần viết tay.
Trước khi tín chủ đến cầu cúng xin bùa, sớ về nhà thì những lá sớ, lá
bùa có đóng hình dấu đó được dâng lên điện thờ để thầy hành lễ, kêu cầu
sao cho được linh nghiệm. Ở đây thể hiện rõ sự gắn bó giữa điện thờ và
con dấu của bản điện, hay nói một cách khác đó là sự gắn bó mật thiết
giữa phù ấn và hình tượng thánh thần được tôn thờ.

Nói về Đạo giáo Việt Nam là nói đến đức Thánh Trần với bao ngôi đền thờ,
điện thờ, ban thờ Trần Hưng Dạo trên khắp đất nước ta. Rất nhiều điểm
di tích này còn lưu giữ ấn tín và văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu về
Trần Hưng Đạo. Một số ấn có niên đại khá cao như số ấn gỗ mà chúng tôi
đã giới thiệu ở mục “Thực trạng ấn chương thời Lê trung hưng” trong Phần
I. Còn hầu hết ấn có niên đại vào khoảng cuối thời Nguyễn. Những quả ấn
này có nội dung văn khắc giống nhau như Trần Hưng Đạo ấn, Trần triều
Hưng Đạo, Trần Hưng Đạo vương ấn. Phần cuối này xin được giới thiệu một
quả ấn lớn có nội dung văn khắc khá đặc biệt nói về vị thánh linh thiêng
của chúng ta.

Ấn hiện nay được bảo quản ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội.
Có ký hiệu LSB1425/245, niên đại ấn được tạo tác khoảng cuối thời
Nguyễn. Ấn có chất liệu gỗ, hình thể đơn giản núm cầm ngắn liền đế. Mặt
đế ấn hình dấu có kích thước 10,3x11,5cm, viền ngoài để rộng và khắc họa
tiết. Văn khắc có 12 chữ Triện xếp theo 3 hàng dọc, là 12 chữ Cửu thiên
vũ đế Trần triều Hưng Đạo đại vương chi ấn 九天武帝陳朝興道大王之印 tức ấn của Cửu
thiên Vũ đế Hưng Đạo Đại vương triều Trần[286]. (H. 233)



Trần Hưng Đạo khi mất được vua Trần truy tặng là Thái sư Thượng phụ
Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo đại vương. Nhiều tư liệu chữ Hán và
một số ấn gỗ còn giữ đến ngày nay cũng chỉ ghi là Hưng Đạo đại vương,
riêng quả ấn này thì lại ghi thêm mấy chữ “Cửu thiên Vũ đế”. Trong tín
ngưỡng của Đạo giáo Việt Nam, các bậc thánh thần như Tản Viên Sơn thánh,
Cao Sơn v.v… cũng chỉ được phong là Đại Vương, không vị nào được xưng
“Đế” cả. Ấn dấu này đã chứng minh cho việc Trần Hưng Đạo, một vị tôn
thần duy nhất của nước ta được phong là “Cửu thiên Vũ đế”. Tại sao một
con người bằng xương bằng thịt như Trần Hưng Đạo ở thời Trần lại được
tôn sùng như một vị thánh, vị đế cao nhất trong thế giới tâm linh của
người dân Việt Nam như vậy (?)

Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 12 năm Bính tuất niên hiệu Kiến Trung
thứ 2 (1226) thời Trần[287]. Ông là con An Sinh Vương Trần Liễu và Thuận
Thiên Công chúa Lý Thị Nguyệt. Đại Việt sử ký tiền biên ghi về ông: “…
Khi mới sinh ra có người xem tướng trông thấy bảo rằng: “Người này ngày
sau có thể cứu nước giúp đời”, đến khi lớn lên dung mạo khôi ngô thông
minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ…”[288]. Sau này ông đã
trở thành một vị tướng tài ba và năm Thiệu Bảo thứ 5 (1283) ông được
tiến phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh chư quân. Trần Quốc Tuấn đã
làm nên trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam với chiến công oanh liệt
ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông.

Năm Trùng Hưng thứ 5 (1289) khi triều đình xét công trạng, ông được tiến
phong làm Hưng Đạo Đại vương, được người đời tôn làm anh hùng dân tộc
và hậu thế coi như một “người Trời” xuống giúp nước cứu đời.

“Sinh vi tướng tử vi thần”, sinh ra làm tướng giúp dân giúp nước, mất đi
cũng làm thần giúp dân giúp nước. Khi qua đời, tương truyền Trần Hưng
Đạo đã thành thần, thành thánh hiển linh cứu giúp chúng sinh, được đương
thời và hậu thế tôn thờ, đó là tâm linh tôn giáo của nhân dân ta mà
biết bao điện, đền thờ đức thánh Trần còn tồn tại đến nay như một minh
chứng sinh động. Theo tư liệu dân gian do nhà nghiên cứu Hán Nôm Hoàng
Giáp sưu tầm được thì sau khi mất, Trần Hưng Đạo đã “lên thiên đình nhận
lệnh chỉ của Ngọc Hoàng Thượng đế làm Cửu thiên Vũ đế. Đế có nhiệm vụ
trừ đạo khắp cả ba cõi là Thượng giới (thiên đình), Trung giới (trần
gian) và Hạ giới (âm phủ)… Cửu thiên Vũ đế luôn hiển hóa ở cõi trời Nam
để giúp dân giúp nước”.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:44

KẾT LUẬN


1.

Nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX gắn bó
mật thiết với Hoàng đế và thiết chế tổ chức hành chính từ trung ương
xuống địa phương của các triều đại phong kiến Việt Nam từ thời Lê sơ đến
thời Nguyễn. Ấn chương biểu thị quyền lực của Hoàng đế, của chính quyền
các cấp, của mọi cơ quan và đơn vị quân đội và mang tính pháp lệnh quốc
gia.

Ngay khi lên ngôi từ Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông đến Gia Long, Minh Mệnh
thời Nguyễn song song với việc ban hành chiếu sắc chính sự là việc ra
chỉ dụ chế tác và sử dụng Bảo Tỷ cùng các loại ấn chương khác. Mỗi một
Bảo, Tỷ, Ấn, Chương, Quan phòng, Đồ ký v.v… đều có cách sử dụng riêng và
dùng cho một loại văn thư chỉ định. Các Bảo ấn Chế cáo chi bảo, Sắc
mệnh chi bảo, Ngự tiền chi bảo v.v… với chức năng riêng biệt được duy
trì từ đầu thời Lê sơ đến hết thời Nguyễn là điển hình của tính lịch sử
kế thừa ấn chương qua năm triều đại. Bảo ấn Tiên nhu chi bảo dùng đóng
trên sắc phong thời Tây Sơn mang nét đặc thù riêng của Bảo Tỷ Việt Nam.
Ngọc Tỷ Đại Nam thiên tử chi tỷ đời Minh Mệnh dùng đóng trên các văn
kiện ban sắc thư cho người nước ngoài, đã vượt ra ngoài tính chất nội
trị mang ý nghĩa trên trường quốc tế. Quốc hiệu “Đại Nam” đã được khắc
trên mặt ấn ngọc biểu thị tư tưởng quốc gia độc lập và ý thức tự hào dân
tộc.

Công cuộc cải cách hành chính triều Lê Thánh Tông và triều Minh Mệnh từ
trung ương xuống địa phương đều dẫn đến sự thay đổi về ấn chương. Những
cơ quan mới thành lập, chức năng mới được bổ nhiệm sẽ được ban cấp một
loại ấn tín mới; hoặc việc thay đổi chức vụ cấp bậc của một văn quan hay
võ tướng cũng đều có sự thay đối ấn chương, ấn mới với tên gọi mới sẽ
thay thế cho ấn cũ.

Cải cách hành chính ở địa phương cũng là cuộc cải cách ấn chương tại địa
phương. Đời Lê Thánh Tông khi chia đất nước thành 12 đạo Thừa tuyên,
đổi chức Lộ An phủ sứ làm Tri phủ là việc ban ra ấn Tri phủ thay cho ấn
An phủ sứ. Đời Minh Mệnh, sự chấm hết của Chương và Tín Chương cũng là
sự định hình hoàn toàn của ấn, Quan phòng khi giai đoạn tản quyền chấm
dứt năm 1832. Ấn Đồ ký ngày thêm hoàn thiện khi chính quyền cấp phủ,
phân phủ, huyện, châu đã thành công trong cải cách. Kiềm ký ra đời khi
nhà Nguyễn cho thiết lập các cửa thành, cửa khẩu, cửa biển, đồn trạm. Ký
Triện của Tổng, Lý đã nằm trong quy chế ở thời kỳ mà cải cách hành
chính ở phủ, huyện đã hoàn thành. Sự thay đổi và hoàn chỉnh ấn, Quan
phòng cùng Đồ ký trong binh chế quân đội góp phần không nhỏ trong nghiên
cứu hệ thống ấn chương. Việc hoàn thiện và ổn định dần của ấn chương
đời Minh Mệnh đã đưa tính tự do của Tín Ký vào trong quy chế chung.

Mỗi loại hình ấn, từ Bảo Tỷ của Hoàng đế xuống đến Ký Triện của Tổng, Lý
đều biểu thị cho quyền lực. Với Bảo Tỷ là tượng trưng của đế quyền đại
diện cho một quốc gia, một dân tộc. Với Tổng, Lý là quyền lực bất khả
kháng của chính quyền xã thôn, việc tuân thủ là tuyệt đối và như một
định luật bất biến. Tính pháp quyền của ấn chương ở đây được các Hoàng
đế từ thời Lê sơ đến Nguyễn giương cao bằng những chỉ dụ mà chính sử
phải ghi lại. Nó phù hợp với chế độ quân chủ chuyên chế, tư tưởng chính
trị đề cao pháp trị và độc tôn Nho giáo nhất là trong thời Nguyễn.

Sự phát triển và hoàn thiện của ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối
thế kỷ XIX đã tác động tích cực trở lại đối với công cuộc cải cách hành
chính, củng cố chế độ trung ương tập quyền của các vương triều từ Lê sơ
đến Nguyễn. Biến cố 1885, người Pháp chính thức đặt quyền bảo hộ, cũng
là lúc chính thể nhà Nguyễn suy sụp, điều đó đã khiến cho hệ thống ấn
chương mất mát nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:45

2.

Nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX là nghiên
cứu văn bản Hán Nôm. Mỗi hình dấu là một văn bản Hán Nôm hoàn thiện,
văn bản này đứng độc lập hoặc nằm trong một văn bản Hán Nôm khác. Đây là
đặc thù riêng mà chỉ có ở loại hình ấn dấu.

Mỗi hiện vật ấn chương sẽ cho ra đời văn bản Hán Nôm, đây được coi là
một văn bản hoàn thiện và trung thành nhất. Việc phiên chữ Triện ra chữ
Chân của Hán tự trong dấu là thao tác đầu tiên và tất yếu của người
nghiên cứu ấn chương. Chữ ở ấn dấu từ thời Lê sơ đến triều Gia Long thời
Nguyễn có nét khắc vuông vức uốn nhiều nét, nên khó phiên giải. Từ đời
Minh Mệnh trở đi, chữ Triện trong dấu nét khắc mềm và ngắn hơn, ở nhiều
hình dấu tự dạng gần như chữ Lệ nên việc phiên giải có thuận lợi.

Việc phiên giải trước hết phải xác định ấn dấu đó thuộc loại hình nào
(Bảo Tỷ, ấn hay Quan phòng…), thuộc tổ chứcnào (lục Bộ, quân đội hay
chính quyền địa phương…) và ở thời kỳ nào (Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng,
Tây Sơn hay Nguyễn). Có những chữ Triện với nhiều kiểu viết khác nhau ở
các loại hình ấn khác nhau, thậm chí cùng trong một loại hình ấn thực sự
đã gây khó khăn trong việc phiên giải. Đơn giản như một chữ ấn (印)
trong dấu cũng có tới vài chục kiểu viết khác nhau. Ở những hình dấu độc
lập, công tác văn bản phiên giải khó hơn dấu in trên văn bản Hán Nôm.

Qua hình dấu ấn có thể xác định ngay được loại hình văn bản là sắc
phong, lệnh chỉ hay văn bản hành chính nào. Dấu Sắc mệnh chi bảo, Tiên
nhu chi bảo, Phong tặng chi bảo khẳng định ngay văn bản đó là sắc phong.
Dấu Bình An vương tỷ cùng dấu Ngọc Tỷ của các chúa Trịnh khác hay dấu
Hoàng thái tử thủ tín cho ta biết đó là các bản Lệnh chỉ. Những dấu
chính quyền các cấp thường là các văn bản hành chính thuộc dạng văn thư
ngoại gửi về Kinh hoặc chuyển ngang. Những dấu của Nội các hay lục Bộ
thể hiện văn bản hành chính thuộc dạng văn thư nội gửi xuống chính quyền
các cấp hay trực Ty để tuân nhận.

Nếu trên văn bản có hình dấu ấn, Chương hoặc Tín chương in ở dưới chữ
“Nhật” hoặc dưới bên phải dòng ghi niên hiệu, thì việc khẳng định đó là
văn bản đời Gia Long đến trước năm 1823 là chính xác. Tất cả những hình
dấu ấn, Quan nhòng, Đồ ký đóng trên mặt chữ “Nguyệt” của dòng niên đại
thì chắc chắn là từ giữa đời Minh Mệnh trở về sau.

Qua hình dấu có thể xác định được chữ ghi niên hiệu bị mất, rách. Trường
hợp dấu kiềm Bắc thành đã trình bày là một ví dụ. Những nét chữ thay
cho hình dấu ở dòng niên hiệu, có dấu kiềm của cấp chủ quản chứng thực
bên cạnh đã giúp cho việc xác định bản chính hay bản phó được chính xác.

Qua hình dấu trên văn bản có thể biết ngay được văn bản đó là bút tích
của một vị Hoàng đế, đại thần hay tướng lĩnh, đồng thời còn biết được cả
đó là bút tích của vị Hoàng đế, đại thần nào, tướng lĩnh nào. Kể cả
việc văn bản không ghi niên đại hoặc dòng ghi niên hiệu bị rách mất. Dấu
Tự Đức thần hàn ở Chương 1 phần II là minh chứng cụ thể[289].

Trên một hoặc hai trang văn bản Hán Nôm xuất hiện nhiều hình dấu khác
nhau thì được coi là văn bản quan trọng. Nếu là hình dấu của chức quan
cao cấp thì tầm quan trọng của văn bản càng được nâng cao. Trên một văn
bản có hình dấu Sung biện nội các sự vụ quan phòng thời Nguyễn thì ta
biết ngay đó là một bản sao từ một bản gốc chính có bút tích của Hoàng
đế. Bản sao này khi phát xuống các trực Ty để tuân nhận thì vô hình
trung được coi là bản chính theo đó để thực thi. Một bản sao của Nội các
trên, đương thời được coi như một bản chính thì chắc chắn ngày nay nó
sẽ được công nhận là một bản chính gốc. Cách đánh giá chính xác về hai
dạng văn bản này trong mảng công văn tài liệu Hán Nôm rất hữu ích trong
công tác văn bản học và các lĩnh vực Lưu trữ, Bảo tàng.

Qua ấn dấu xác định được chính xác tác giả, tác phẩm nhất là những dòng
họ hoặc tác gia nổi tiếng. Dấu Danh gia tàng thư của dòng Ngô gia văn
phái và dấu Danh gia hội tuyển của Bùi Huy Bích đã chứng minh cho lập
luận này.

Ấn dấu trên văn bản Hán Nôm là một trong các dấu tích công nhận đáng tin
cậy nhất, tạo cho văn bản một giá trị và uy tín cao đối với người tiếp
nhận. Một tài liệu Hán Nôm đầy đủ (nhất là mảng công văn tài liệu hành
chính, địa bạ) mà không có dấu ấn, sợ sẽ không được coi là tài liệu gốc.
Dấu tích công nhận bằng ấn chương lại càng không nhất thiết phải là,
hoặc chỉ là hình dấu của một người hay một cơ quan thảo ra. Mà trên
đường đi của một văn bản, những dấu ấn khác có thể được lần lượt thêm
vào, mà nếu không có chúng văn bản sẽ không được coi là một văn bản hoàn
thiện.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:45

3.

Nghiên cứu ấn chương từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX đã tái hiện một
cách khái quát toàn bộ lịch sử, xã hội, văn hóa và những nhân vật lịch
sử đương thời.

Nhà Lê sơ bắt đầu sự nghiệp dựng nước từ đời Thái Tổ, Thái Tông và đỉnh
cao là đời Thánh Tông với công cuộc cải cách hành chính quy mô đồng bộ
từ trung ương xuống địa phương, từ lực lượng quân đội đến các cơ quan
dân sự. Chế độ tam Sảnh bị bãi bỏ, hệ thống lục Bộ được hoàn chỉnh và từ
đây được nâng cao vai trò giá trị. Lịch sử mở mang bờ cõi chinh phạt
Chiêm Thành còn lưu tích trên sắc phong có dấu Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo.
Thắng lợi này đi liền với tên tuổi Lê Thánh Tông cùng các quan tướng
như Trung quân Đô thống Phạm Như Tăng… Những ấn cổ Phụng mệnh tuần phủ
đô tướng quân ấn và Đề thống tướng quân chi ấn đã lưu lại chứng tích về
tên chức Tướng quân của giai đoạn Lê sơ.

Nghiên cứu ba quả ấn thời Mạc Khuông trì vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn,
Hoành hải hậu sở chi ấn và Thanh tái tả sở chi ấn gần như tái hiện phần
nào bức tranh về lực lượng quân đội nhà Mạc cũng như giai đoạn chiến
tranh khốc liệt giữa hai tập đoàn phong kiến Lê - Mạc.

Từ các bản Lệnh chỉ có in dấu Tỷ ấn của các chúa Trịnh mà bắt đầu bằng
Lệnh chỉ của Bình An vương Trịnh Tùng năm 1599 đến Lệnh chỉ của Đoan Nam
vương Trịnh Tông năm 1785, lịch sử xã hội thời Lê - Trịnh cũng được
phơi bày. Những tư liệu này rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu, đánh
giá về sự kiện và nhân vật lịch sử của một thời kỳ mới trong thể chế
phong kiến Việt Nam tồn tại cả Vua và Chúa. Giai đoạn này còn lưu lại
đến nay không ít hình ấn dấu trên các dạng tư liệu hiện vật khác nhau.
Đó là hình những dấu được khắc trên bia đá, ma nhai, biển gỗ, nó đi liền
với bút tích của một số nhân vật lịch sử đương thời.

Thời Tây Sơn tồn tại tuy không lâu nhưng ấn chương giai đoạn này khá
phong phú và đa dạng. Là những ấn tín của tướng lĩnh quân đội và mấy
chục văn bản có in hình dấu các loại của triều đình và cơ quan đơn vị
khác nhau. Đường lối và chính sách của nhà Tây Sơn thể hiện trên các
sắc, chiếu, chỉ, dụ… có đóng dấu Quảng vận chi bảo, Sắc mệnh chi bảo,
Tiên nhu chi bảo. Hình ảnh của Quang Trung - Nguyễn Huệ tái hiện qua các
văn bản gửi La Sơn phu tử gắn liền với dấu Quảng vận chi bảo và Ngự
dụng chi bảo. Những người con của Quang Trung kế tục sự nghiệp được lưu
tích trên hình dấu Hoàng thái tử chi bảo và Khâm sai tiết chế hữu khang
kiêm dân thứ vụ chi ấn. Sự kiện lịch sử cùng các văn thần võ tướng xuất
sắc như Trần Văn Kỷ, Nguyễn Văn Thận, Nguyễn Văn Tứ còn để lại dấu tích
trên văn bản Hán Nôm với các hình dấu Trung thư lệnh chi chương, Nghệ An
trấn phủ chương và Đại tư mã chi ấn v.v…

Thời Nguyễn bắt đầu với đường lối chính sách của Gia Long trong thời kỳ
tản quyền là việc biến các đại tướng cầm quân trở thành các đại quan cai
trị về mặt hành chính cấp doanh, trấn và thành. Tương ứng với chính
sách trên là việc thay đổi ấn tướng quân bằng ấn hành chính. Những nhân
vật lịch sử như Đại tướng Nguyễn Văn Thành với dấu Tiền quân chi ấn trở
thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành cùng dấu Bắc thành tổng trấn chi ấn.

Công cuộc cải cách của Minh Mệnh đã chấm dứt thời kỳ tản quyền và bắt
đầu giai đoạn trung ương tập quyền. Chế độ Văn quan tôn Nho được giương
cao với việc hoàn thiện hệ thống lục Bộ, lục Tự, thiết lập chư nha, Nội
các v.v… Năm 1827 tổ chức hàng ngũ lãnh đạo ở lục Bộ được hoàn thiện,
việc thay đổi ấn kiềm trong hệ thống này mới hoàn chỉnh. Thượng thư ở
mỗi Bộ được coi là chức quan cao nhất trong hàng văn quan, những hình
dấu Quan phòng gắn liền với những nhân vật tên tuổi là những Thượng thư,
Tham tri, Thị lang, Biện lý ở lục Bộ như Trần Lợi Trinh, Hoàng Kim Xán,
Nguyễn Đăng Tuân, Doãn Uẩn, Trương Đăng Quế v.v…

Những ấn dấu của tướng lĩnh quân đội Nguyễn trên văn bản Hán Nôm, đã góp
phần không nhỏ trong việc tìm hiểu lịch sử, xã hội, nhân vật thời
Nguyễn và vai trò của quân đội trong gần một thế kỷ. Dấu Trấn tây tướng
quân chi ấn của Trương Minh Giảng, Nguyễn Văn Trọng, Dương Văn Phong in
năm 1838 giúp cho việc đánh giá lập trường chính trị của Minh Mệnh đối
với các nước lân bang đương thời. Hai dấu Thống đốc tiễu bộ quân vụ quan
phòng của Nguyễn Tri Phương và Tham tán quân vụ quan phòng của Phạm Thế
Hiển, gắn liền với văn bản Hán Nôm ghi về cuộc kháng chiến chống Pháp
của triều đình Huế và nhân dân Nam Bộ thời Tự Đức. Cùng với hai dấu
trên, hình dấu Đề đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng của Tôn Thất Hàn đã
chứng tỏ trong chiến tranh (thời Tự Đức) có những chức vụ, cấp bậc về
việc binh được đặt ra thêm, hoặc gắn thêm chức cho một chức đã có sẵn,
mà vốn trong quy chế chức vụ, cấp bậc của bộ Binh thời Nguyễn không thấy
ghi.

Nghiên cứu ấn chương thời Nguyễn cũng thấy được việc lập phủ Tôn nhân
của các vua Nguyễn mang màu sắc chính trị rõ nét. Phủ Tôn nhân như một
tổ chức riêng với chế độ ưu đãi đặc biệt. Hàng trăm ấn quý được ban
phong cùng cặp sách vàng, bạc cho Hoàng thái tử, Hoàng tử, Hoàng thân
v.v… chưa kể số lượng ấn vàng, bạc của Hoàng thái hậu, Thái phi.

Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế là đỉnh cao của các loại hình ấn chương
thời Nguyễn. Con người của Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và các
vua khác gần như hiện ra bên cạnh các chỉ dụ và Bảo Tỷ của họ. Những sự
kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam thời Nguyễn lưu lại trên văn bản
Hán Nôm gắn liền với các Bảo Tỷ: Quốc gia tín bảo thời Gia Long như một
khẩu hiệu giương cao tư tưởng quốc gia dân tộc. Hoàng đế chi bảo của
Minh Mệnh đã in trên các sắc thư, văn kiện quan trọng gửi đi nước ngoài.
Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ là sự kiện chế tác có một
không hai kéo dài nhiều tháng trời cuối đời Thiệu Trị. Đại Nam hoàng đế
chi tỷ đánh dấu quan điểm chính trị giữa hai nước Pháp - Việt thời Tự
Đức, còn Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát được nhắc đến nhiều lần
trong chính sử…

Bức tranh xã hội đời thường thời Nguyễn được tái hiện qua ấn tín tư nhân
ở một số lĩnh vực. Dấu Danh gia tàng thư, Danh gia hội tuyển nhắc ta
nhớ tới những dòng văn phái nổi danh đương thời. Dấu trên đồ gốm, dấu
ghi tên hiệu v.v… là bức tranh sinh động của ấn tín văn hóa nghệ thuật.
Ấn dấu của nhiều tiệm buôn ở Hội An, Sài Gòn chứng tỏ xã hội thời Nguyễn
đã bước vào ngưỡng cửa của nền kinh tế hàng hóa thị trường. Hình dấu ở
lá sớ lá bùa còn lưu hành tới ngày nay là một chứng minh về sự vĩnh cửu
của tôn giáo, tín ngưỡng trong con người Việt Nam.

Nghệ thuật điêu khắc chạm trổ từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX đã sống
lại ít nhiều qua việc chế tác các loại hình ấn chương. Mỗi quả ấn là một
hình rồng, sư tử, kỳ lân hay trái núi v.v… từ hình rồng mây uốn lượn
trên ấn lớn bằng ngọc của Hoàng đế đến chiếc ấn gỗ nhỏ xíu của một
thường dân đều do bàn tay, khối óc và tâm huyết của người thợ tạo nên.

4.

Nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX một cách
hệ thống có ý nghĩa thực tiễn đối với công cuộc cải cách hành chính của
chúng ta hiện nay.

Bất cứ một cuộc cải cách hành chính ở trung ương hay địa phương cũng tất
yếu phải thay đổi ấn chương. Nếu cải cách hành chính tiến hành đồng bộ
từ trung ương xuống địa phương, từ lực lượng quân đội đến những đơn vị
kinh tế riêng lẻ… mang tính chất quốc gia và biểu thị tính pháp lệnh,
thì việc thay đổi ấn chương là một vấn đề quan trọng và cấp thiết.

Nghiên cứu ấn chương Việt Nam và tham khảo thực trạng hệ thống ấn chương
giai đoạn hiện đại cho đến nay của nước ta, với nhiều vụ làm giả ấn
chương các loại, nhiều vụ giấy tờ đóng dấu giả bị phanh phui… Nhiều hình
dấu có hình thức, kích cỡ, bố cục, kiểu chữ, họa tiết rất giống nhau
hoặc chưa hợp lý… Những điểm này dễ gây nhầm lẫn và hạn chế trong công
tác hành chính, kiểm tra, chứng thực, thống kê kế toán v.v… Do đó chúng
tôi thấy cần phải có một công trình kế tiếp của ấn chương giai đoạn cận
đại và hiện đại. Công trình này có thể với tên gọi Ấn chương trong hệ
thống hành chính Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX. Trong
đó vai trò của ấn chương trong cải cách hành chính sẽ được trình bày đầy
đủ. Đây là một công trình mang ý nghĩa khoa học và cấp thiết, chúng tôi
hi vọng sẽ được thực hiện trong một thời gian không xa.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Sách tiếng Việt

1. Bảng đối chiếu âm dương lịch 2000 năm và Niên biểu lịch sử, Nxb. KHXH, H. 1976.

2. Bùi Dương Lịch: Nghệ An ký, Nxb. KHXH, H.1993.

3. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu - Trần Nghĩa & Gros F đồng chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1993.

4. Đại Nam chính biên liệt truyện, TV Viện NCHN, KH: D.1087 - D.1014.

5. Đại Nam điển lệ, Nhà in Tôn Thất Lễ, Sài Gòn, 1962.

6. Đại Nam hội điển toát yếu và quan chế đời Minh Mệnh, TV Viện NCHN, KH: LA.13.

7. Đại Nam liệt truyện tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1995.

8. Đại Nam nhất thống chí, Nxb. KHXH, H. 1970 - 71.

9. Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Sử học, 1963.

10. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 1974 và 1985.

11. Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1997.

12. Đại Việt sử ký tục biên, Nxb. KHXH, H. 1991.

13. Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn Hóa, H. 1958.

14. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. KHXH, H. 1964.

15. Đỗ Văn Ninh: Tiền cổ Việt Nam, Nxb. KHXH, HN. 1992.

16. Đỗ Văn Ninh: Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb. Thanh niên, H. 2002.

17. Đinh Khắc Thuân: Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Nxb. KHXH, H. 2001.

18. Hà Văn Tấn - Trần Quốc Vượng: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (Giáo trình khoa Sử trường ĐHTH Hà Nội).

19. Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Nxb. KHXH, H. 1975.

20. Hoàng Xuân Hãn: La Sơn phu tử, Nxb. Minh Tân, Paris. 1952.

21. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 1993.

22. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Sử Địa, H. 1960.

23. Lê Quí Đôn: Đại Việt thông sử, Nxb. KHXH, H. 1978.

24. Lê Quí Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb. KHXH, H. 1962.

25. Lê Quí Đôn: Phủ biên tạp lục, Nxb. KHXH. H. 1977.

26. Lê Quí Đôn: Vân đài loại ngữ, Nxb. Văn hóa, H. 1962.

27. Lê quý dật sử - Nxb. KHXH, H. 1987.

28. Lê triều quan chế, Nxb. Văn hóa Thông tin - Viện Sử học, 1997.

29. Lê Xuân Diệm - Đào Linh Côn - Võ Sĩ Khải: Văn hóa Óc Eo những khám phá mới, Nxb. KHXH. H. 1995.

30. Lê Kim Ngân: Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông - Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn. 1963

31. Lý Lạc Nghị - Jim Waters: Tìm về cội nguồn chữ Hán, Nxb. Thế giới, H. 1997.

32. Mục lục Châu bản triều Nguyễn Minh Mệnh, Nxb. KHXH, H. 2000.

33. Ngô Đức Thọ: Nghiên cứu chữ Húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn Hóa, H. 1997.

34. Ngô Cao Lãng: Lịch triều tạp kỷ, Nxb. KHXH. H. 1975.

35. Nguyễn Phúc tộc thế phả, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 1995.

36. Nguyễn Phước tộc giản yếu, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh. 1992.

37. Nguyễn Sĩ Hải: Tổ chức chính quyền thời Nguyễn sơ, (Luận án Tiến sĩ Luật khoa Sài Gòn 1962).

38. Nguyễn Văn Huyên: Một số ấn đồng thời Lê Thánh Tông mới phát hiện tại Hà Nội, NC Lịch sử số 158 - 1976.

39. Nguyễn Văn Huyên: Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được ở nước ta, Tạp chí Khảo cổ học số 20, 1976.

40. Nguyễn Thị Tây Sơn ký, Bản dịch TV Viện NCHN, KH: 00344.

41. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học Hà Nội, H. 1961.

42. Phan Huy Lê: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb. Sử học, H. 1962.

43. Tây Sơn thực lục, Bản dịch ở TV Viện NCHN, KH: Bt 00062.

44. Tây Sơn thuật lược, Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn. 1971.

45. Tên làng xã Việt Nam, Nxb. KHXH. H. 1992.

46. Tuyển tập văn khắc Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1992.

47. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Tập II, Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn xuất bản, Sài Gòn. 1971.

48. Trần Thanh Tâm: Tìm hiểu quan chức chế nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế. 1996.

49. Trần Viết Ngạc: Về một công văn của tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm 1597, Nghiên cứu Huế, Số.1, 1989.

50. Trần Kinh Hòa: Mục lục Châu bản triều Nguyễn - Triều Gia Long, Nxb. Đại học Huế, Huế. 1960.

51. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Đại học Trung Chính Đài Loan và Viện NC Hán Nôm hợp tác xuất bản, 2002.

52. Võ Văn Sạch: Một văn bản thời Lê Thánh Tông, Tạp chí Văn thư Lưu trữ, Số.1, 3/1998.

53. Vương Hồng Sển: Khảo về đồ sứ men lam Huế, Nxb. Mỹ thuật, 1994.

54. Việt sử cương mục tiết yếu, Nxb. KHXH, H. 2002.

55. Việt sử lược, Nxb. Văn Sử Địa. H. 1960.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:45

B. Sách Hán Nôm

56. Bắc Ninh tỉnh Tiên Du huyện Đại Vi tổng Đại Vi xã địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG.a5/9.

57. Cơ mật viện túc trình, Viện Cơ mật nhà Nguyễn chép năm 1926, Tủ sách họ Phan, 29 Nguyễn Chí Thanh, Thành phố Huế (không có kí hiệu).

58. Công văn tập, TV Viện NCHN, KH: A.2763.

59. Công văn cổ chỉ, TV Viện NCHN, KH: A.3086.

60. Công văn cựu chỉ, TV Viện NCHN, KH: A.3032.

61. Đồng Khánh, quyển 1, 2, 3, 4, Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.

62. Đồng Xuân tổng các thôn phường địa bạ, TV Viện NCHN, KH: A.1275.

63. Đồng Xuân tổng các thôn phường địa bạ - TV Viện NCHN, KH: A.629.

64. Gia Long, quyển 1, 2, 3, 4, 5, Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.

66. Hà Nội địa bạ, TV Viện NCHN, KH: A.629.

67. Hà Nội tỉnh Thọ Xương huyện Đồng Xuân tổng các xã thôn địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG.a14/4.

68. Hà Đông tỉnh Thượng Phúc huyện Hà Nội tổng các xã địa bạ, TV Viện NCHN. KH: AG a1/77.

69. Hà Đông tỉnh Thượng Phúc huyện Triều Đông tổng các xã địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG a1/85.

70. Hàm Nghi, quyển 2, Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.

71. Hoài An huyện công văn tập, TV Viện NCHN, KH: A.1273.

72. Hoàng Việt thi tuyển, TV Viện NCHN, KH: VHv.1451.

73. Minh Mệnh, quyển 1 đến 83 (trừ các quyển 6, 9, 13, 17, 20, 28, 31, 32, 46, 47, 55, 56, 60, 61, 65), Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.

74. Ninh Bình tỉnh Gia Viễn huyện Liên Huy tổng các xã địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG a4/12.

75. Ngô gia văn phái, TV Viện NCHN, KH: VHv 16/12.

76. Phú Thọ tỉnh Hạ Hòa huyện Vĩnh Chân tổng các xã địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG a11/13.

77. Tự Đức, quyển 1 đến 352 (trừ 34 quyển bị hư nát), Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.

78. Tứ lục sao, TV Viện NCHN, KH: A.152.

79. Trường Sơn thôn hương lệ, TV Viện NCHN, KH: VHv.2678.

80. Thành Thái, quyển 7, 9, 13, Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.

81. Thiệu Trị, quyển 1 đến 51 (trừ các quyển 13, 11, 15, 16, 23, 24, 28, 41, 42, 44), Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.

82. Thiên Nam dư hạ tập, phần Quan chế, TV Viện NCHN, KH: A.334/1 và 1313/b.

83. Ngự tiền văn phòng Châu bản, do Ngự tiền văn phòng triều Nguyễn làm năm 1938, Tủ sách họ Phan, 29 Nguyễn Chí Thanh, thành phố Huế (không có kí hiệu). Sách gồm 3 loại chữ Việt Hán - Pháp.

* Một số thác bản văn bia, chuông ở TV Viện NCHN.

C. Sách ngoại văn

84. Bulletin de la Société des Études Indochinoises 120 Annec - N0.1 - 1937, TV Thông tin KHXH.

85. Bulletin des Amis du Vieux Hué 130 Annec - N0.1 - 1926, TV Thông tin KHXH.

86. 許 慎: 說文解字 - 北京中華書局出版 - 1979.

87. 季 崇 建: “中 國 古 代 印 譜 八 百 年 集 成” - 中 國 文 物 世 界 五 十 五 期 - 1990.

88. 方宗珪: “壽山石全書” - 上海書店出版社 - 1994.

89. 馬振凱: “中國書法欣賞” - 藝術圖書出版公司 - 1971.

90. “中國書法大字典” - 北京世界圖書出版公司 - 1992.

91. “中國篆書大字典” - 上海書畫出版社 - 1994.

92. 羅福頤: “印章概述” - 1963.

93. 羅福頤: “古璽文編” - 1981.

94. 韓天衡: “中國印學年表” - 1987.

95. 劉一聞: “印章” - 1995.

96. 曹齊: “篆刻之美” - 1996.

97. 任繼愈: “中國的印章與篆刻” - 1997.

98. 孫慰祖: “印章” - 1998.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:45

TƯ LIỆU ẢNH ẤN CHƯƠNG










Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:46








Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:46

ẤN CHƯƠNG VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX


Chịu trách nhiệm xuất bản

TS. VI QUANG THỌ

Biên tập nội dung

TS. KIỀU VIỆT CƯỜNG

Dịch tiếng Anh

NGUYỄN QUỐC HÙNG M.A

Ảnh

PHÚ XUYÊN - NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Đồ họa

TÁC GIẢ

Bìa và trình bày

Họa sĩ LÊ TÂM

Viết chữ minh họa bìa sau

LÊ QUỐC VIỆT

Chế bản

TRẦN XUÂN PHƯƠNG - NGUYỄN TÔ LAN

Sửa bản in

PHÚ XUYÊN - NGUYỄN TÔ LAN

In 1000 cuốn, khổ 14x26cm tại Công ty Cổ phần in 15 - Bộ CN. Số đăng ký KHXB 59/1135/CXB cấp ngày 19/7/2005. In xong và nộp lưu chiểu tháng 10 năm 2005.

____________________________

[1] Sigillographie, trong L’histoir’e et ses methods Gallimard, Paris, 1961, tr. 393 - 446.

[2] Như trên

[3] Sigillographie, L’histoir’e et ses methods Gallimard, Paris, 1961, p. 393 - 446.

[4] Sigillographie, L’histoir’e et ses methods Gallimard, Paris, 1961, p. 393 - 446.

[5] Translate summarily from About the seals in VietNam (item 2 & 3, page 70-88).

[6] Theo cuốn Ấn chương của Lưu Nhất Văn, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1996, tr.1.

[7] Trích dịch từ cuốn Thọ sơn thạch toàn thư, mục Ấn chương sử nguyên của Phương Tông Khuê, Thượng Hải thư điếm xuất bản xã, 1994, tr.98.

[8] Ngọc tỷ thời Tần Thủy Hoàng đế (Doanh Chính) (246-209 TCN) được coi là ấn truyền quốc qua nhiều đời của Trung Quốc.

[9] Bảo ấn được làm từ đời Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận (960-984) thời Bắc Tống - Trung Quốc truyền đến thời kỳ Nam Tống.

[10] Bảo ấn được làm đầu thời Minh (1386-1662) ở Trung Quốc.

[11] H.1 đến H.14 chụp lại từ sách Ấn chương, Tôn Úy Tổ, Thượng Hải nhân dân mỹ thuật xuất bản xã, 1998.

[12] Âu Dương Tu (1007-1072) đậu Tiến sĩ khoa Canh Ngọ (1030), năm 1058 được gia hàm Long Đồ các Đại học sĩ quyền Tri phủ phủ Khai Phong, năm 1068 được thăng Binh bộ Thượng thư. Ông mất ở đời Tống Hy Ninh thứ 5 (1072).

[13] Tăng Củng (1019-1083) đậu Tiến sĩ khoa Đinh Dậu (1057).

[14] Mễ Phấn (1051 - 1107), năm 1092 làm Tri phủ Thông Khâu, năm 1103 được thăng Thái thường Bác sĩ.

[15] Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises - tập 22. Số 1 năm 1937, Thư viện Thông tin KHXH.

[16] Hoàng Xuân Hãn: La Sơn phu tử, Nxb. Minh Tân, Paris, 1952.

[17] Mục lục Châu bản triều Nguyễn - Triều Gia Long, Trần Kinh Hòa, Nxb. Đại học Huế, 1960.

[18] Nguyễn Văn Huyên: Nghiên cứu lịch sử - Số 158, năm 1974 và Tạp chí Khảo cổ học - Số 2, năm 1976.

[19] Phạm Văn Kỉnh, Quang Văn Cậy: Văn hóa Hoa Lộc, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, 1977, tr.71.

[20] Văn hóa Hoa Lộc. Sđd, tr.220-221.

[21] Xem Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải: Văn hóa Óc Eo, những khám phá mới, Nxb. KHXH, HN. 1995, tr.330.

[22] Bài viết của Tanaguchi Fusao đăng trên tờ Nghiên cứu niên báo của Sở Nghiên cứu văn hóa Á Phi, trường Đại học Tokyo, số 31, tháng 3, năm 1997, tr.176 - 188.

[23] Hà Văn Tấn, Về một quả ấn Việt Nam thời Trần tìm thấy ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1999, Nxb. KHXH, H, 2000.

[24] Đông Kinh: Tức thành Thăng Long, trước đó gọi là Đông Đô, cùng thời với thành Tây Đô ở Thanh Hóa. Đầu đời Lê Lợi, đổi Đông Đô gọi là Đông Kinh, Tây Đô gọi là Tây Kinh.

[25] Lê Văn Linh (1377-1448) là bậc công thần khai quốc nguyên lão của ba triều Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông.

[26] ĐVSKTT, Nxb. KHXH, HN, 1972, t3, tr.102 - Phần chữ Hán là chúng tôi đưa thêm vào.

[27] ĐVSKTT, sđd, tr.79.

[28] Tể tướng là quan đứng đầu triều còn gọi là Tướng quốc. Nhà Trần đặt hai quan đứng đầu triều là Tả, Hữu Tướng quốc. Nhà Lê sơ đổi gọi là Tướng quốc và gia thêm danh hiệu là Kiểm hiệu Bình chương quân quốc trọng sự.

[29] Tam Sảnh hay Tam Tỉnh 三省: xin xem phần sau.

[30] Cơ quan kiểm sát:

a. Lục Khoa đầu tiên đặt ở nước ta từ thời Lê Nghi Dân ( 1459-1460) để giám sát lục Bộ, gồm Đông khoa, Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa, Trung thư khoa và Hải khoa.

b. Ngự sử đài: có từ thời Trần, có nhiệm vụ khuyến cáo lỗi của vua và đàn hặc quan lại phạm tội. Lê Thái Tổ đặt chức Đô Ngự sử đứng đầu Ngự sử đài.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:46

[31] Nội mật viện: Cơ quan có nhiệm vụ xem xét những việc cơ mật trong triều. Ở nước ta có từ thời Lý với tên gọi là Khu mật viện, đến đầu Lê sơ đổi làm Nội mật viện, đặt chức Chánh sứ và Phó sứ quản lý.

[32] Lê triều quan chế, Nxb. VH-TT - Viện Sử học, HN. 1997. tr.12.

[33] ĐVSKTT, Sđd. tr.214-220.

[34] Hàn lâm viện: Cơ quan phụng mệnh vua khởi thảo các chế, cáo, chỉ, dụ, văn thư.

[35] Đông các: Cơ quan phụng mệnh vua sửa chữa, hiệu đính các văn bản khởi thảo trên của Hàn lâm viện; đồng thời phụ trách việc bầu cử của triều đình.

[36] Trung thư giám: Tiền thân là tam Sảnh, phụ trách việc biên chép những văn bản mà Đông các đã sửa chữa giao cho. Đồng thòi biên chép tờ Kim tiên (giấy sắc vàng), Ngân tiên (giấy sắc bạc) cùng sắc phong, biểu, giảng từ, văn tế điện miếu.

[37] Bí thư giám: Cơ quan trông coi thư viện của Hoàng đế.

[38] Xem ĐVSKTT, sđd, tr.199.

[39] Năm 1469 Lê Thánh Tông cho đổi gọi Nam Sách là Hải Dương, Thiên Trường là Sơn Nam, Quốc Oai là Sơn Tây, Bắc Giang là Kinh Bắc.

[40] ĐVSKTT, Sđd, tr.198.

[41] Bản sắc phong năm Hồng Đức thứ 2 (1471) nay đã được con cháu dòng họ Phạm Như Tăng truyền đời giữ gìn tồn tại đến trước năm 1963 ở Quế Sơn, Quảng Nam đã được Giáo sư Lê Kim Ngân công bố nguyên bản trong Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông, Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn in năm 1963. Chúng tôi sẽ giới thiệu ở mục sau.

[42] Thành Đồ Bàn còn có tên là thành Lỗi hay thành Sà Bàn, nay thuộc huyện Tuy Viễn - Bình Định. Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng Đế đổi làm thành Hoàng đế, sau Nguyễn Ánh chiếm Bình Định bỏ không dùng.

[43] Khi Đồ Bàn thất thủ, tướng Chiêm là Bồ Tri Trì chạy về giữ đất Phan Lung rồi đầu hàng xin xưng thần. Lê Thánh Tông phủ dụ phong vương cho Bồ Tri Trì, rồi lại cho lập ra hai Tiểu quốc nữa là Nam Phan và Hóa Anh để họ khống chế lẫn nhau không quấy nhiễu nước ta. Di duệ của các vương tiểu quốc này còn tồn tại mãi đến thời Nguyễn, họ có những kho báu trong đó có một số quả ấn mà sau này năm 1957-1958 các nhà khảo cổ miền Nam đã tìm ra.

[44] Xem ĐVSKTT, sđd, tr.221.

[45] Quả ấn Môn hạ sảnh ấn này đã được ông Nguyễn Văn Huyên giới thiệu trong bài Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được ở nước ta, Tạp chí Khảo cổ học số 20-1976, tr.49: “Chiếc ấn cổ thứ hai là Môn hạ sảnh ấn phát hiện tại xã Hương Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh năm 1962 được chế tạo năm “Long Khánh ngũ niên” đời Trần Duệ Tông (1377)”. Ấn cổ nhất ông cho là 6 chiếc ấn tìm thấy trong mộ táng ở Thiệu Dương, Thanh Hóa, có niên đại khoảng cuối thời Tây Hán đến đầu thời Đông Hán. Tác giả chưa có điều kiện giới thiệu và cũng chưa chứng minh được 6 chiếc ấn này, do đó chúng tôi tạm coi Môn hạ sảnh ấn là quả ấn cổ nhất có niên đại rõ ràng ở nước ta.

[46] Năm 1368 khi Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh đã ra lệnh bãi bỏ Trung thư sảnh và đến Minh Vĩnh Lạc (1403-1418) mới thiết lập Nội các thay thế cho Môn hạ sảnh. Dần dần chức năng nhiệm vụ của Nội các cũng đa dạng hơn và được cải biến nhiều lần để phù hợp với quá trình phát triển của thể chế phong kiến Trung Quốc.

[47] Giai đoạn đầu thời Trần, chức đứng đầu Thượng thư sảnh là Hành khiển Thượng thư, tức là chức Á tướng. Đến đầu thời Lê sơ đổi là Thượng thư lệnh cũng là chức Á tướng, còn gọi là Mật viện Tham tri. Môn hạ sảnh được thiết lập thời Trần không rõ cụ thể chức gì đứng đầu, chỉ thấy sử ghi là chức Hành khiển điều hành. Đến đầu Lê sơ ghi là chức Tri tư sự đứng đầu, thứ nhì là Thị lang, dưới có các chức Lang trung và Khởi cư xá nhân.

[48] ĐVSKTB, Nxb. KHXH, tr.427-438.

[49] ĐVSKTB, Sđd, tr.469-477.

[50] ĐVSKTB, Sđd, tr.479, 481, 483.

[51] Trước kia Tổng tài Trung thư sảnh là Trung thư lệnh thường giao cho Tể tướng kiêm giữ.

[52] Lê triều quan chế, Sđd, tr.9, 33.

[53] Xem Nguyễn Văn Huyên: Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được ở nước ta, Sđd. Tác giả đọc nhầm chữ Thuần 馴 thành chữ Tuần 巡.

[54] Xem Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông (1400-1407), Lê Kim Ngân - Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn, 1963, tr.92. Không hiểu tác giả đã tham khảo bản dịch chữ Hán hay chữ Quốc ngữ mà ghi là Quy lâm (?) Có thể do tự dạng chữ Quy và Bào hơi giống nhau, qua sao chép in chụp bị nhầm lẫn. Có khả năng là sở Bào Lâm mới đúng.

[55] Thời Lý chức đứng đầu ngạch võ là Đô thống, Bộ chỉ huy quân sự ở Kinh đô gồm các võ quan cao cấp là Nguyên súy, Tổng quản, Khu mật sứ, Tả hữu Kim ngô, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, các Vệ tướng quân, Chỉ huy sứ.

[56] Xem Đỗ Văn Ninh: Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb. Thanh niên, HN, 2002, tr.233.

[57] Xem Nguyên Văn Huyên: Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được nước ta, Sđd.

[58] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, q.21, tờ 39a.

[59] Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông, Sđd, tr.95.

[60] Trà Kệ sau đổi thành Kim Trà rồi Hương Trà duy trì tên gọi đến nay. Huyện Phong Điền (nơi phát hiện văn bản) được thành lập từ đất của 2 huyện Hương Trà và Đan Điền vào năm Minh Mệnh thứ 15 (1834).
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:46

[61] Tóm lược bài: Phát hiện văn bản Hán Nôm thời Lê sơ tại Phong Điền, Thừa Thiên - Huế của ông Nguyễn Thế - Phòng VHTT huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế. Nhân đây có lời cảm ơn ông Nguyễn Thế và Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế.

[62] Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông, Sđd, tr.28-29.

[63] Xem Võ Văn Sạch: Một văn bản thời Lê Thánh Tông, Tạp chí Văn thư lưu trữ số 1, 3 - 1988. Nhân đây xin có lời cảm ơn ông Võ Văn Sạch đã gián tiếp giúp chúng tôi tư liệu này.

[64] Phòng ngự sứ là chức chỉ huy lực lượng bảo vệ biên giới, gọi là Phòng ngự sứ ty. Ở nước ta chức này có từ thời Trần và duy trì đến thời Nguyễn. Phòng ngự Thiêm sự và Phòng ngự Đồng tri là chức phó, được đặt ra cùng thời với chức trưởng của Phòng Ngự sứ.

[65] Ở loại hình sắc phong, những năm gần đây người ta đã làm giả khá nhiều, do đó chúng tôi cho rằng người làm công tác nghiên cứu Hán Nôm khi công bố một văn bản có ghi niên đại cổ (nhất là loại hình sắc phong) bắt buộc chúng ta phải tuân thủ những tiêu chí cơ bản như: Chất liệu giấy và mầu mực, mầu nhũ (đậm, nhạt…); Họa tiết hoa văn trang trí; Thể chữ; Lối hành văn dùng mỹ tự; Niên đại ghi trong văn bản; Hình con dấu in trên văn bản. Riêng hình con dấu cũng có những tiêu chí riêng để xác định dấu thật hay giả như: Kích cỡ dấu, mầu mực dấu với mảng đậm, nhạt, lỗ chỗ (chứng minh cho các loại mực tinh chế riêng dùng cho các loại dấu khác nhau); Viền ngoài dấu với những họa tiết riêng; kiểu chữ Triện); Nội dung qua các dòng chữ trong dấu và vị trí đóng dấu trên văn bản.

[66] Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử (bản dịch), tr.138.

[67] Xem Đinh Khắc Thuân: Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Nxb. KHXH, HN, 2001, tr.156.

[68] Năm 1579 - Đô Tổng binh sứ đạo Ninh Sóc đã trao quyền Tổng binh sứ Đồng tri trấn Cao Bằng cho Phạm Văn Tuấn là Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu trấn giữ.

[69] Xem Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Sđd, tr.158-159.

[70] Thiên Nam dư hạ tập, phần Quan chế, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. KH: A.334/1 và 1313/b.

[71] Phủ Kinh Môn: một trong 4 phủ của đạo Hải Dương quản 7 huyện nay thuộc đất của ba tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng và Hải Dương.

- Vĩnh Lại nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

- An Lão thời Mạc gồm cả Đồ Sơn và An Lão, nay thuộc thành phố Hải Phòng.

- Nghi Dương: xưa gồm cả thị xã Kiến An và huyện Kiến Thụy - nay thuộc thành phố Hải Phòng.

- Đông Triều: nay là huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Phủ Hải Đông: Phủ duy nhất của đạo An Bang thời Mạc quản 3 huyện 4 châu, nay thuộc địa phận hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng.

[72] Thiên Nam dư hạ tập, Sđd. KH: A.334/1 - VHv. 1313/b.

[73] Trong chuyến công tác thực địa, TS. Phạm Thị Thùy Vinh (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) đã phát hiện ra số sắc phong thời Lê-Mạc ở đền Quang Lãng, Thụy Hải, Kiến Thụy, Thái Bình. Sau đó, vào năm 2001 chúng tôi đã trực tiếp xuống địa điểm trên, chụp ảnh và đo đạc toàn bộ số sắc phong, trong đó có các sắc phong thời Mạc.

[74] ĐVSKTT, Nxb. KHXH, HN, 1968, t4, tr.250.

[75] ĐVSKTT, Sđd, t4, tr.254.

[76] ĐVSKTT, Sđd. t4, tr.267.

[77] ĐVSKTT, Sđd, t4, tr.271.

[78] ĐVSKTT, Sđd, t4, tr.259.

[79] Phủ Thiên Trường một trong 11 phủ của đạo Sơn Nam đầu thời Lê Trưng hưng quản 4 huyện Giao Thủy, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên (nay thuộc Mỹ Lộc) và Tây Chân (nay là Trực Ninh) đều thuộc tỉnh Nam Định ngày nay.

[80] Châu Bình Nguyên là một trong năm châu thuộc phủ Yên Bình đạo Tuyên Quang đầu thời Lê Trung hưng, nay thuộc huyện Vị Xuyên, Bắc Quang và Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang.

[81] Ông Trần Trung Thường nguyên là một sĩ quan tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam thời chống Mỹ. Sau Giải phóng miền Nam, ông về nghỉ hưu, tiếp tục nghiệp Đạo sĩ truyền thống của gia đình. Con trai ông thuộc đời thứ tám, hiện nay đang kế tục công việc của ông.

[82] Dấu thứ 5 và dấu thứ 6 là con dấu chỉ Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão.

[83] Chúng tôi có tham khảo và sử dụng tư liệu của ông Trần Viết Ngạc trong bài: Về một công văn của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm 1597, Nghiên cứu Huế số 1 - 1989. Nhân đây xin được cảm ơn ông Trần Viết Ngạc và ông Phan Thuận An đã giúp chúng tôi tư liệu này.

[84] Các địa danh thuộc khu vực Nam Trung Bộ từ đèo Cù Mông đến Phú Yên.

[85] Vào Thuận Hóa buổi đầu Nguyễn Hoàng đặt bản doanh ở xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Năm Canh Ngọ (1570) Nguyễn Hoàng dời ra làng Trà Bát huyện Vũ Xương.

[86] Quảng Nam trước đó do Trấn Quận công Bùi Tá Hán trấn thủ, năm 1570 do Tổng binh Nguyễn Bá Quýnh trấn giữ. Khi Nguyễn Hoàng làm Tổng trấn Thuận - Quảng, Quýnh được điều về giữ Nghệ An.

[87] Việt sử cương mục tiết yếu, Nxb. KHXH, HN. 2000, tr.416, 436.

[88] Xem: Về một công văn của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm 1597, Sđd.

[89] Ngọc Bảo là con gái Thượng phụ Thái sư Nguyễn Kim - đệ nhất công thần của buổi đầu thời Lê Trung hưng, là chị ruột của Nguyễn Hoàng - vị chúa Nguyễn đầu tiên của triều Nguyễn sau này.

[90] ĐVSKTT, Sđd, tr.164.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:47

[91] ĐVSKTT, Sđd, tr.254.

[92] Trên một vài trang phần chính văn của một số Lệnh chỉ này có đóng dấu TV. Viện NCHN, HC.9.

[93] Những văn bản sao chụp lại bản gốc chúng tôi không đo kích thước hình dấu để đảm bảo tính chính xác của con dấu.

[94] Xem ĐVSKTT - Bản kỷ tục biên, T.1, Nxb. KHXH & NV 1982, tr.77, 88.

[95] Thác bản bia này do TS. Phạm Thủy Vinh - Viện Nghiên cứu Hán Nôm cung cấp.

[96] Tổ tiên ba anh em Nguyễn Nhạc, vốn quê ở huyện Hưng Nguyên - Nghệ An, khoảng năm 1653-1657 ông tổ tứ đại bị quân chúa Nguyễn bắt về ở ấp Tây Sơn huyện Quy Ninh (nay là Hoài Nhơn), sau chuyển đến ở ấp Kiên Thành huyện Tuy Viễn; Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ sinh ra ở đây.

[97] Nguyễn Thung và Huyền Khê không rõ người ở đâu - Huyền Khê sau chết trận, còn Nguyễn Thung năm 1786 bị Nguyễn Nhạc giết.

[98] Phù Ly, Bồng Sơn và Tuy Viễn đều thuộc phủ Quy Nhơn - Phù Ly nay đổi là Phù Cát đều thuộc tỉnh Bình Định.

[99] Nữ chúa Chiêm Thành tên chữ Hán là Thị Hỏa, sau bị quân của Tống Phúc Hiệp giết.

[100] Nghệ An ký, Nxb. KHXH, HN, 1993, tr.322.

[101] Thành Đồ Bàn còn có tên là thành Lỗi hay thành Sà Bàn nằm ở địa phận ba thôn An Nam, Bắc Thuận và Ba Canh thuộc huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định - xưa kia là kinh đô nước Chiêm Thành.

[102] Xem ĐNCBLT - Sơ tập. TV. Viện NCHN. KH: D.995 và Nguyễn thị Tây Sơn ký - TV. Viện NCHN, KH: 00344.

[103] Xem ĐNCBLT, Sđd, tr.10 và Nguyễn thị Tây Sơn ký, Sđd, tr.14.

[104] Nguyễn Hữu Chỉnh người làng Đông Hải - Nghệ An, trước là thuộc hạ của cha con Hoàng Ngũ Phúc, sau theo về Tây Sơn. Trong đợt đánh Phú Xuân này Nguyễn Hữu Chỉnh đóng vai trò quan trọng, vừa là người hiến kế vừa đóng vai trò người tình báo. Vì có Phu Như là thuộc hạ của Phạm Ngộ Cầu là người quen của Nguyễn Hữu Chỉnh nên đã lừa được Ngộ Cầu. Năm 1787 Chỉnh bị Vũ Văn Nhậm giết.

[105] Vũ Văn Nhậm - Chính tên là Vũ Văn Sĩ, vì kiêng húy tên Tự Đức nên các sử gia nhà Nguyễn sau này đều ghi là Vũ Văn Sĩ. Nhậm là con rể của Nguyễn Nhạc. Năm 1787 bị Nguyễn Huệ giết.

[106] Phạm Ngộ Cầu một tướng của chúa Trịnh giữ chức Trấn thủ Thuận Hóa năm 1786 cùng phó tướng Trần Đình Thể.

[107] ĐNCBLT, Sđd, tr. 18.

[108] Tây Sơn thuật lược - Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản 1971, tr.12. TV. Viện NCHN.

[109] Trần Văn Kỷ còn có tên là Trần Chính Kỷ người huyện Hương Trà xứ Thuận Hóa (Thừa Thiên - Huế). Từng đậu Giải nguyên đời Cảnh Hưng, ông nổi tiếng hay chữ khắp miền Nam Trung Bộ. Ông theo Tây Sơn từ khi khởi nghĩa, lúc đầu giữ chức Nội tán bên cạnh Nguyễn Huệ. Khi Nguyễn Huệ lên ngôi vương phong ông làm Trung thư lệnh. Ông là người Bí thư tài giỏi của Quang Trung. Khi Nguyễn Huệ mất, ông bị biếm phải làm lính trạm, rồi lại được phục chức cũ. Cuối đời Cảnh Thịnh ông bị Gia Long bắt, ông trá hàng rồi bỏ trốn, bị Gia Long giết.

[110] ĐNCBLT, Sđd, tr.44

[111] Lê quý dật sử, Nxb. KHXH, HN, 1987, tr.95.

[112] ĐNCBLT, Sđd, tr.43.

[113] ĐNCBLT, Sđd, tr.44.

[114] Xem Tây Sơn thuật lược, Sđd, tr.12. Việc lập thẻ Tín bài này là theo kế sách của Ngô Thì Nhậm.

[115] Xem Tây Sơn thực lục, TV. Viện NCHN, KH: Bt.00062 Nguyễn Tá Nhí dịch, Nguyễn Hữu Chế hiệu đính.

[116] La sơn phu tử Nguyễn Thiếp: quê ở Nguyệt Am, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, xứ Nghệ An (nay Đức Thọ - Hà Tĩnh), họ Nguyễn húy Minh, tự Quang Thiếp (vì kiêng húy Quang đời Trịnh Doanh nên bỏ chữ Quang). Nguyễn Thiếp còn có tên tự Khải Xuyên, Hạnh Am, hiệu là: Lạp Phong cư sĩ, Bùi Phong cư sĩ, Hạnh Am, Cuồng ẩn, Điên ẩn. Được người đời đặt tên hiệu khác là Hầu Lục Niên, Lục Niên tiên sinh, Hạnh Am tiên sinh, La Giang phu tử, La sơn phu tử, La sơn tiên sinh, Nguyệt Am tiên sinh.

[117] Xem LSPT, Nxb. Minh Tân, Paris, 1952, tr.105-107.

[118] Xem LSPT, Sđd, tr.249. Nhà in đã in nhầm chữ Quảng vận chi bảo thành Quốc vận chi bảo.

[119] Xem LSPT, Sđd, tr.262.

[120] LSPT, Sđd, tr.121, 250.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:47

[121] Văn bản ghi lầm chữ Thiếp ra chữ Thiệp (?).

[122] Xem LSPT, Sđd, tr.123, 124, 125 và 251 (ảnh 24-C13).

[123] Yên Trường: Tên làng Yên Trường nằm trên sông Dũng Quyết, từ thời Lê đã được lấy làm Trấn ty thủ phủ Nghê An coi là Vĩnh Doanh, tức thành phố Vinh ngày nay.

[124] Xem LSPT, Sđd, tr.123, 124, 125 và 251 (ảnh 24-C13).

[125] Xem LSPT, Sđd, tr.248.

[126] Thận Trực hầu tức Nguyễn Văn Thận là người tâm phúc của Nguyễn Huệ, giữ chức Trấn thủ Nghệ An, theo Nguyễn Huệ từ cuối năm 1787, sau được thăng Thận Quận công. Ông trấn nhậm Nghệ An trải đến đời Bảo Hưng, năm Nhâm Tuất (1802) Quang Toản thua chạy, ông thua trận chạy ra Thanh Hoa thì bị bắt và bị giết.

[127] Xem Góp thêm một số tài liệu về ấn triện thời Tây Sơn, Tạp chí Khảo cổ học số 1 - 1989, tr.20.

[128] Xem Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, quyển III, Nxb. KHXH, HN, 1977.

[129] Xem KĐĐNHĐSL, phần Binh chế, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993.

[130] Xem Đại Việt thông sử, quyển III, Nxb. KHXH, HN 1978, tr.268.

[131] Lê Quý dật sử, Nxb. KHXH, HN, 1978, tr.95.

[132] Quả ấn đồng này do một người dân ở thôn 6 xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam khi đào đất vườn phía sau nhà đã phát hiện được quả ấn đồng đặt trong một cái hũ đất nung. Nhà giáo Nguyễn Văn Cương đã nghiên cứu quả ấn này và công bố trên tập san Thế giới mới năm 1997: Tìm được ấn đồng của vua Quang Trung. Nhân đây xin có lời cảm ơn nhà giáo Nguyễn Văn Cương và cũng xin lưu ý một chút trong bài viết có nhầm chữ Vệ thành chữ Thuật vì tự dạng chữ viết rất giống nhau.

[133] Các trấn tổng xã danh bị lãm. (Bản chữ Hán) KH: A.570, TV. Viện NCHN - bản dịch Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX - Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch, biên soạn Nxb KHXH, HN, 1981.

[134] Xem Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn hóa, 1997, tr.107, 108.

[135] Cao Bình, tên phủ từ thời Lê trở về trước gọi là Cao Bình, đến thời Tây Sơn đổi gọi là Cao Bằng và giữ nguyên cách gọi đến nay. Lộc Bình: châu Lộc Bình có từ thời thuộc Minh, thời Tây Sơn đổi là Lộc Bằng. Đến đời Gia Long lại đổi làm Lộc Bình.

[136] Theo tổ chức chính quyền thời Hậu Lê thì mỗi huyện đặt 2 viên Tri huyện gọi là Đông đường và Tây đường, đến thời Nguyễn mới xóa bỏ và đặt mỗi huyện một Tri huyện.

[137] Xem Tây Sơn thuật lược, Sđd, tr.11.

[138] Nội dung bức thư đã được cố GS. Hoàng Xuân Hãn dịch và giới thiệu ảnh trong LSPT, Sđd, tr.137, 138 và 252.

[139] Xem LSPT, Sđd, tr.151, 253.

[140] Xem LSPT, Sđd, tr.150 và 253.

[141] Xem LSPT, Sđd, tr.153 - 254.

[142] Xem LSPT, Sđd, tr.153-154.

[143] Nay thuộc xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

[144] Lê Quý dật sử, Nxb. KHXH, HN, 1987, tr.95.

[145] Cơ quan quản lý hoàng tộc, rất có thế lực ở triều Nguyễn.

[146] Dấu này có kích thước 3,2x3,2cm, được áp trên văn bản chữ Hán, chư Bộ Nha, quyển 2, Gia Long thứ 18, hiện giữ ở kho lưu trữ Trung ương I, Hà Nội.

[147] Nay là xã Trần Phú, huyện Thanh Trì, Hà Nội

[148] Sử quan nhà Nguyễn gọi quân Tây Sơn là “Ngụy”.

[149] Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Sử học, HN, 1963, tr.339.

[150] Tài liệu dịch theo hợp đồng cộng tác khoa học giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và nhà Bảo tàng Quang Trung - Nghĩa Bình 1984 - ký hiệu D992 - Xem tr.8-14.

[151] Điển sự: còn gọi là Lại điển chỉ những nhân viên làm việc trong Bộ, Viện không có chức vụ gì.

[152] Tư vụ: chức quan nhỏ giữ việc nhận và phát các văn cảo ở Bộ, Viện, dưới chức Viên ngoại lang và Lang trung ở hệ thống lục Bộ.

[153] Xem Tây Sơn thực lục, TV. Viện NCHN, KH: Bt 00062, tr.85a.

[154] Cơ mật viện túc trình: Sách chữ Hán giấy bản cũ dày 58 trang, khổ 28,7x16cm, phần lớn ghi về Kim ngọc Bảo Tỷ triều Nguyễn. Có đóng ấn Cơ mật viện ấn và Kiềm dấu Cơ mật. Đây là cuốn sách của Viện Cơ mật chép năm Bảo Đại nguyên niên (1926) do nhà nghiên cứu Phan Thuận An tại Huế cung cấp.

[155] Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Sử học, HN, 1963, tr.33.

[156] Trên bia đá còn hai dấu nhỏ nữa, nhưng vì quá cao nên chúng tôi không in rập được.

[157] Năm 1714 Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng cơ Tổng Đức Đại trông nom việc trùng tu và mở rộng chùa Thiên Mụ, xây thêm nhiều điện đài, nhà cửa tráng lệ, dựng bia đá rất lớn. Đến năm 1715 thì hoàn thành.

[158] Minh Mệnh chính yếu, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên xuất bản, 1974, tr.27.

[159] Đây là một bản sao mà chúng tôi đã sao chụp lại nhân chuyến công tác vào Huế năm 1998.

[160] Chế cáo: Cáo sắc phong cho công thần theo lệnh vua.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2878
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:47

161] Xem Nguyễn Quảng Tuân: Tờ chiếu của vua Gia Long phong cho Nguyễn Du tước Du Đức hầu, Tạp chí Hán Nôm, số 3-1997, tr.78-82.

[162] Xem KĐĐNHĐSL, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.286.

[163] MMCY, Sđd, tr.28.

[164] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.33.

[165] KĐĐNHĐSL, Sđd, tập 6, tr.284-285.

[166] KĐĐNHĐSL, Sđd, tập 14, tr.29.

[167] Xem Về chiếc ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo của Đặng Văn Thắng và Phạm Hữu Công trong Những phát hiện mới về khảo cổ học 1995, Nxb. KHXH, HN, 1996.

[168] Nguyên Hòa ngũ niên: Đời Lê Trang Tông niên hiệu Nguyên Hòa 5 (1537).

[169] ĐNTLCB, Sđd, tr.59.

[170] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.34.

[171] Dấu Sắc mệnh chi bảo đời Lê Chiêu Thống in ở sắc phong thần ở thôn Đoài, xã Phù Xá, huyện Kim Anh, tỉnh Bắc Ninh, có cùng địa điểm với 2 dấu Phong tặng chi bảo và Sắc mệnh chi bảo thời Nguyễn. Những sắc phong này do nhà nghiên cứu Hoàng Giáp - Trưởng phòng Sưu tầm Viên Nghiên cứu Hán Nôm cung cấp.

[172] Theo tư liệu của cụ Lê Văn Hoàng ở khu Kim Long - Huế. Cụ là một trong các nhân viên được giao trọng trách giữ Bảo ấn Sắc mệnh chi bảo dưới đời Bảo Đại.

[173] MMCY, Sđd, tr.27.

[174] Ngọc Tỷ truyền quốc của Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời.

[175] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.41.

[176] Bản phúc thư có dấu Ngọc Tỷ này do Tố Am Nguyễn Toại sưu tầm và dịch, Tảo Trang hiệu đính và chú thích. Bài Hoàng đế nước Đại Nam kính phúc đáp Hoàng đế nước Đại Phú Lãng sa trước điện xem thư, Tạp chí Hán Nôm, số 4-1995.

[177] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.42.

[178] Hiệp kỷ là “Hiệp dụng ngũ kỷ”; 5 kỷ là: Năm, tháng, ngày, tinh tú và lịch số.

[179] Phần chữ Hán tờ Ngự chế được ông Nguyễn Hữu Tưởng, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch nghĩa và PGS. TS. Đào Thái Tôn, Viên Nghiên cứu Hán Nôm hiệu đính.

[180] ĐNTLCB, Sđd, tr.24.

[181] MMCY, Sđd, tr.42.

[182] Đại Nam hội điển toát yếu và Quan chế đời Minh Mệnh, Ngô Thế Long dịch, KH: LA.13, TV Viện NCHN.

[183] Việc kiểm duyệt đóng ấn Bảo Tỷ do hệ thống Giám sát gồm đại diện Đô sát viện, Cấp sự trung Lục khoa và Giám sát Ngự sử các đạo thực hiện.

[184] Phất thức: lau chùi quét phủi bụi bặm.

Tài liệu về lễ “Phất thức” do nhà nghiên cứu Phan Thuận An tại Huế cung cấp.

[185] Chuyến công tác vào Nam năm 1998 chúng tôi đã in chụp được một số ấn triện, trong đó có Khánh Ninh cung bảo. Nhân đây xin được cảm ơn bà Giám đốc TS. Trịnh Thị Hòa và cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ chúng tôi về một số tư liệu ấn triện thời Nguyễn.

[186] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.298, 308.

[187] ĐNTLCB, Sđd, tr.403.

[188] Hai dấu này đóng trong quyển 5, Thiệu Trị nguyên niên, tr.394, CBTN.

[189] Hai dấu này đóng ở quyển 13, Thành Thái nhị niên, tr.186, CBTN.

[190] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.127.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   

Về Đầu Trang Go down
 
Ấn chương Việt Nam
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 3 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Văn Hóa, Lịch Sử-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Sosblogs