WWW.PHATGIAO.TK



Diễn đàn đã chuyển về địa chỉ mới chuyển hướng đến www.matphap.com ... Đang chuyển hướngHoặc click vào link sau: http://www.matphap.com
Đang chuyển hướng đến địa chỉ mới/title> <a href="https://www.forumvi.com" target="_blank">forumvi.com</a>

Share | 
 

 Ấn chương Việt Nam

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4
Tác giảThông điệp
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2993
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:19

First topic message reminder :

Tác giả: Nguyễn Công Việt

Nguồn: thuvien-ebook

Lời giới thiệu

Ấn chương học (Sigillographie hay Sphragistique) là môn học nghiên cứu về con dấu qua các đời. Con dấu trên văn bản thường có 3 mục đích: 1. Bảo đảm tính xác thực của văn bản; 2. Khẳng định quyền chủ sở hữu của văn bản và 3. Xác định niên đại của văn bản[1]. Vì vậy, nghiên cứu ấn chương học được coi là phương pháp tìm chứng cứ (recherche des témoigrages) trong khoa học lịch sử và có ý nghĩa quan trọng đối với văn bản học[2].

Việt Nam có một truyền thống ấn chương lâu đời, các thư tịch cổ đã chép rằng các Lạc tướng có ấn đồng dây thao xanh (đồng ấn thao thụ). Có thể thấy rằng các con dấu gốm đã tìm được trong văn hóa Hoa Lộc, văn hóa Bàu Tró chỉ in các hình trang trí. Khi chữ Hán đã truyền vào Việt Nam thì chúng ta gặp nhiều con dấu thời Hán như dấu “Tư phố huyện ấn” (hiện được cất giữ ở Bảo tàng Bỉ), các con dấu tìm được ở di chỉ Thiệu Dương, Thanh Hóa. Hoặc là chúng ta đã tìm thấy các phong nê ở Quảng Nam cho ta biết ảnh hưởng của Đạo giáo thời kỳ sớm.

Ta đã tìm được những con dấu bằng mã não hoặc bằng chì in bằng chữ Pallava trong các di chỉ văn hóa Óc Eo ở miền Nam từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX.

Đến thời kỳ độc lập thì ta mới tìm thấy các con dấu thời Trần như Môn hạ sảnh ấn năm 1377 và Bình Tường thổ châu chi ấn năm 1362. Chúng ta hi vọng là ngày càng tìm được nhiều con dấu của thế kỉ XVI về trước.

Từ thế kỷ XV trở đi, ta mới biết nhiều loại hình con dấu. Tình hình ấn chương từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX chính là nội dung mà Nguyễn Công Việt muốn giới thiệu trong quyển sách này.

Muốn xây dựng ấn chương học thì nhiệm vụ trước hết phải làm là công bố các sưu tập ấn chương (corpus sigillirum) của các thời kỳ. Ở đây, Nguyễn Công Việt đã công bố các corpus sigillirum từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX như thế. Nguyễn Công Việt đã nghiên cứu các ấn chương của nhà vua và các quan chức ở triều đình cùng với các quan chức ở địa phương.

Ở quyển sách này, Nguyễn Công Việt đã đi sâu nghiên cứu các chức quan trong các thế kỉ XV đến XIX và nhờ vào con dấu, đã bổ khuyết nhiều điều chưa biết, nhất là các chức quan trong quân đội. Nói chung, tác giả đã giúp người đọc xác định được nhiều về quan chức chí của các đời. Sự thay đổi của ấn chương được tác giả gắn liền với các cuộc cải cách hành chính từ triều Lê đến triều Nguyễn, những cuộc cải cách đó được tác giả mô tả kỹ càng và làm nổi bật. Qua con dấu cũng đã xác định sự thay đổi một số tên đất như ở thời Tây Sơn. Đó là những tài liệu lịch sử chắc chắn mà ấn chương học đã đem lại.

Tóm lại, đây là một công trình nghiên cứu công phu mà tác giả đã hoàn thành, có đóng góp lớn cho việc xây dựng bộ môn ấn chương học Việt Nam. Về bộ môn này thì đây là công trình đầu tiên; không có gì có thể so sánh được, vì thế, có thể còn một số thiếu sót, nhưng chúng ta có thể hiểu được. Vì vậy, tôi rất vui khi được giới thiệu công trình này với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là với những người ham thích tài liệu lịch sử. Tôi tin rằng là tài liệu này sẽ đem lại nhiều điều có ích và thú vị cho chúng ta.

GS.HÀ VĂN TẤN

Viện trưởng Viện Khảo cổ học,

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Lời nói đầu

Di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam bao gồm hai mảng tư liệu hiện vật và tư liệu thư tịch với một khối lượng lớn phong phú đa dạng tồn tại song hành và luôn gắn bó mật thiết với nhau. Chúng ta tìm thấy không ít những đoạn kinh, câu thơ, bài văn bằng chữ Hán, chữ Nôm khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ đồng thời cũng được ghi trên giấy, lụa. Văn tự Hán Nôm còn được khắc in, đúc trên kim loại như vũ khí, vật dụng, công cụ sản xuất, tiền đồng, trên đồ gốm sứ v.v… Trong kho di sản văn hóa đa dạng đó có một loại tư liệu hiện vật mang đặc thù riêng, đó là ấn chương mà ta còn gọi là ấn triện hay con dấu. Ấn chương bao gồm cả hiện vật ấn tín và những văn bản, văn khắc có in hình con dấu. Trong đó hình con dấu đứng độc lập hay nằm trong một văn bản Hán Nôm khác cũng đều được coi là một văn bản ấn chương hoàn thiện.

Ở công trình này chúng tôi bước đầu công bố các sưu tập ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX, cùng với kết quả nghiên cứu giới thiệu những quả ấn điển hình, những hình dấu tiêu biểu ở hệ thống ấn chương các loại trong bộ sưu tập mà chúng tôi đã thu thập được.

Nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của văn hiến Trung Hoa, ấn chương Việt Nam về cơ bản có nhiều điểm gần gũi với ấn chương Trung Quốc. Tuy nhiên ở Trung Quốc tương truyền ấn chương có từ thời Hoàng đế (khoảng năm 2500 TCN) và các nhà khoa học đã khẳng định ấn chương Trung Quốc có từ cuối Xuân Thu Chiến Quốc (năm 770 - 255 TCN), thì ở Việt Nam các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những ấn hoa văn (tiền thân của ấn chương Việt Nam) có niên đại khoảng thế kỉ XV - XVI (TCN) ở Hậu Lộc, Thanh Hóa. Nếu như ở Trung Quốc, sự phát triển và tồn tại của ấn chương mang tính hệ thống liên tục, duy trì đến tận bây giờ với rất nhiều tác gia, tác phẩm viết về ấn chương học, thì ở Việt Nam không có được sự tương đồng, thậm chí đã bị đứt đoạn ở một số đời vua thuộc những vương triều phong kiến khác nhau.

Trải qua bao cuộc kháng chiến chống xâm lược oanh liệt và cả các cuộc nội chiến đẫm máu, cộng với sự tàn phá nặng nề của thiên tai, biết bao ấn chương các loại và văn bản có lưu hình dấu phải chịu chung số phận tro bụi cũng cung điện, lầu các, thư phòng v.v… Với nỗ lực tìm kiếm từ Nam ra Bắc chúng tôi cũng chỉ gom góp được hơn trăm hiện vật ấn chương và ngót nghìn văn bản có hình dấu khác nhau, chủ yếu ở thời Nguyễn. Kết hợp với những tài liệu chính sử, dã sử, tư liệu địa phương, bài viết lẻ tẻ và những văn bản Hán Nôm đã rách ố, chúng tôi bước đầu tuyển chọn giới thiệu sơ lược ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX.

Bắt đầu từ những quả ấn, đó là khối tư liệu hiện vật quý giá quan trọng trong việc nghiên cứu, công bố ấn chương Việt Nam. Những quả ấn này có chất liệu, trọng lượng, hình thức, niên đại và nội dung văn khắc khác nhau và được chia thành hai loại. Loại thứ nhất sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn được đem dùng luôn. Loại thứ hai sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn phải qua công nghệ đúc mới được dùng. Giá trị lớn nhất của hiện vật ấn chương là tính chân thực của niên đại được khẳng định ở hiện vật: Có những ấn gốm hoa văn đã đạt tới hơn 3.000 năm tuổi. Cùng với các cổ vật khác, chúng gắn liền với những nền văn hoá cổ xưa của dân tộc Việt Nam như văn hoá Hoa Lộc - Thanh Hoá, văn hóa Óc Eo - Nam bộ. Chúng rất có ý nghĩa trong nghiên cứu khảo cổ học, sử học cũng như bảo tàng học sau này. Song, thực trạng hiện vật ấn chương hiện còn với số lượng quá ít sẽ không bao quát hết toàn bộ hệ thống ấn chương các loại, cũng chưa đủ đại diện cho ấn chương mỗi triều đại, do đó việc nghiên cứu hiện vật ấn chương tuy quan trọng những cũng chỉ thể hiện một mặt trong nghiên cứu ấn chương nói chung. Vả lại mỗi một quả ấn cho ra đời một hình dấu - tức một văn bản cô đọng ngắn gọn; nó thể hiện nét đặc thù riêng của loại hình ấn tín: lượng thông tin trong tự thân văn bản có một số hạn chế nhất định. Việc nghiên cứu ấn chương bắt buộc phải mở rộng đến các văn bản Hán Nôm mang hình dấu ấn, đó là mảng tư liệu phong phú, đa dạng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu ấn chương.

Văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu có hai dạng khác nhau: Thứ nhất là dạng văn bản có chất liệu bằng giấy hoặc vải lụa, người ta dùng ấn thấm mực đóng trực tiếp lên trên. Dạng văn bản thứ hai là những hiện vật bằng đá, gỗ, kim loại, gốm sứ được khắc lại trực tiếp hình dấu, hoặc được khắc, vẽ lại hình dấu rồi qua công nghệ đúc, nung mà thành. Trong đó dạng văn bản thứ nhất - văn bản giấy chiếm số lượng tối đa và giữ vai trò chính trong việc nghiên cứu ấn chương.

Văn bản giấy có nhiều loại khác nhau như thư tịch sách vở, tài liệu hành chính, thư pháp tranh ảnh, tấu sớ bùa chú v.v… Trong đó mảng tài liệu hành chính công văn giấy tờ là còn lưu nhiều hình dấu quan ấn (ấn công) nhất. Đó là những sắc, chiếu, chế, cáo, chỉ, dụ; mảng tài liệu quan trọng này gắn với Hoàng đế và bộ phận hành chính thân cận nhà vua. Hình dấu trên đó được đóng ra từ những Bảo Tỉ của vua hoặc những ấn chương khác có ý nghĩa quốc gia trọng đại. Bên cạnh đó là khối lượng lớn các văn thư hành chính khác được làm ra từ các nha môn thuộc các cơ quan trung ương ở kinh đô như hệ thống lục bộ, lục tự, giám sát v.v… với mấy loại văn bản khác nhau theo các con đường đi khác nhau. Loại văn bản gửi lên Hoàng đế qua văn phòng nhà vua, loại văn bản gửi đến các cơ quan ngang cấp hay tới các chính quyền địa phương, quân doanh đơn vị ngoài kinh đô, và một loại văn bản gửi cho thuộc viên cấp dưới. Các văn bản đó đều được đóng các con dấu khác nhau vào nơi quy định của trưởng nha môn hoặc người được thẩm quyển dùng dấu. Đối với các chính quyền địa phương, lực lượng quân đội và cơ quan dân sự ngoài kinh đô thì cũng dùng các hình thức văn bản có tính chất tương tự. Tất cả các loại văn thư hành chính này đều có tên gọi riêng như sớ, tấu tập, tư (tư di, tư trình), sức, chiếu hội v.v… Ở mỗi loại văn bản có cùng một nội dung được lập ra để giải quyết công việc theo hình thức hàng dọc mà gọi theo ngôn ngữ văn bản học Hán Nôm là bản chính, bản phó hay bản lục v.v… được xếp chung gọi là các dạng văn bản. Mỗi dạng văn bản có khi được làm hai hoặc vài ba bản dùng để gửi đi và lưu chiểu, đối chiếu. Ở mỗi loại văn bản, dạng văn bản đều có dấu tích công nhận khác nhau đóng ở những chỗ quy định như dòng ghi niên hiệu, chỗ tên riêng, chỗ quan trọng, chỗ tẩy xoá và nơi giáp phùng.

Ở một số loại sách như địa bạ, sách riêng của dòng họ, sách in chúng ta có thể tìm thấy thưa thớt một số hình dấu nhỏ, đơn giản. Trên các tác phẩm nghệ thuật thư pháp, tranh họa, bản giao kèo mua bán và ở các lá sớ, bùa chú chúng ta cũng tìm thấy nhiều hình dấu lớn nhỏ khác nhau. Đó là những hình dấu tư ấn (ấn riêng) thuộc lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, thương mại và tôn giáo tín ngưỡng.

Cũng như ấn chương Trung Quốc và các nước khu vực dùng chữ khối vuông, ấn chương Việt Nam thể hiện rõ những chức năng riêng biệt của ấn chương nói chung và ở mỗi loại ấn chương nói riêng. Từ ý nghĩa biểu tượng của pháp chế quyền lực đến chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực, ấn chương Việt Nam không chỉ mang tính pháp lí hành chính mà còn thể hiện rõ tính văn hoá - xã hội. Bắt đầu từ những Bảo Tỉ của Hoàng đế dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đến những quả ấn nhỏ xíu của một thường dân là cả một hệ thống ấn chương hoàn chỉnh, có tên gọi và cách dùng riêng biệt. Qua nghiên cứu thống kê ta có thể phân loại ấn chương Việt Nam thành nhiều loại khác nhau là Kim ngọc Bảo Tỉ, ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Kiềm ấn, Đồ kí, Kiềm kí, Tín kí - Kí và mảng ấn tín tư nhân. Đồng thời ở đây cũng phân chia rõ rệt hai hệ thống quan ấn và tư ấn; trong đó quan ấn mang tính pháp lí hành chính nhà nước có quy chế nhất định, còn tư ấn thể hiện tính tự do ngoài khuôn khổ qui định.

Tương ứng với ý nghĩa nội dung của mỗi loại ấn, người ta đã đặt ra những quy ước hình thức cho việc chế tác ấn chương từng loại riêng biệt. Những hình thức được chạm khắc ở núm ấn đầu tiên phải kể đến những con vật thiêng theo ý niệm tôn giáo như long, li, quy, phượng, hoặc là loài mãnh thú như hổ, sư tử. Những hình muông thú khác cùng các hình thể đơn giản như tay quai, chuôi vồ v.v… được chạm, khắc, đúc ở mỗi loại ấn khác nhau đã dựng nên bức tranh nghệ thuật sinh động của ấn chương Việt Nam.

Hình thức mặt đế ấn là điều quan trọng nhất trong việc chế tác ấn chương. Chính nó sẽ cho ra đời một hình dấu trên văn bản có nội dung trọn vẹn, bao hàm cả ý nghĩa biểu tượng của hình thể ấn mỗi loại. Chúng ta sẽ tìm thấy nhiều hoạ tiết đường viền khác nhau vành ngoài đế ở một số loại ấn mà chủ yếu trong Bảo Tỉ của Hoàng đế, Hoàng tộc và nội cung. Nó không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng cho loại ấn mà còn hàm chứa lượng thông tin cao đối với người tiếp nhận khi nhìn thấy hình dấu trên văn bản. Nhưng cái chính ở đây là nội dung văn khắc trên mỗi con dấu khác nhau. Với số lượng chữ, thể chữ, bố cục sắp xếp không giống nhau, mỗi hình dấu đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa nội dung của một con dấu, nó được coi là một văn bản hoàn chỉnh, cô đọng và nhiều khi khá sâu sắc.

Không có tham vọng biên soạn thành một cuốn sách chuyên khảo lí luận về ấn chương Việt Nam, ở đây chúng tôi chỉ dựa trên cơ sở tư liệu, thực trạng hiện vật ấn và hình dấu trên văn bản để mô tả giới thiệu ấn chương dưới góc độ của người sưu tập và nghiên cứu. Thực tế tư liệu ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng tìm được quá ít, nên việc giới thiệu chắc chắn không đầy đủ và bao quát hết được ấn chương những giai đoạn này. Vì vậy bố cục cuốn sách chúng tôi cố gắng sắp xếp cân đối trong việc phân chia chương mục.

Ấn chương từ thời Lê sơ đến Tây Sơn được tập hợp vào chung phần thứ nhất, trong đó ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng với số tư liệu chỉ đủ để giới thiệu một cách khái quát và sơ lược. Riêng thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng tư liệu về cơ bản đã bao quát được ấn chương của vương triều này. Ở phần I, bối cảnh lịch sử của ấn chương được trình bày như một lời dẫn nối gắn với thực trạng ấn chương của mỗi triều đại. Người đọc chắc sẽ cảm thấy thiếu vắng, sơ sài, song thực tế tư liệu không cho phép chúng tôi đi xa hơn khi chưa có đủ căn cứ chắc chắn.

Ấn chương Việt Nam thời Nguyễn ở phần II được giới thiệu nhiều và chi tiết hơn các thời kì trước. Tư liệu thời kì này khá phong phú song cũng chưa thể đại diện đầy đủ hết mọi phương diện của ấn chương giai đoạn này, nhất là xét về hiện vật ấn chương. Từ Kim ngọc Bảo Tỉ của hoàng đế đến ấn tín tư nhân thời Nguyễn, chứng tôi đã cố gắng dựng lại bức tranh ấn chương thời Nguyễn tương đối hoàn chỉnh để qua đó có thể ít nhiều hình dung ra phần nào ấn chương các triều đại trước đó.

Chúng tôi tuyển chọn giới thiệu 223 hình ấn và dấu minh họa trong bộ sưu tập mà chúng tôi thu thập được. Ảnh minh họa gắn với nội dung giới thiệu mô tả của mỗi quả ấn hay hình dấu trên văn bản và được sắp xếp theo trật tự triều đại từ thời xưa đến cuối thời Nguyễn. Mỗi quả ấn, hình dấu được đánh số thứ tự riêng. Hiện vật ấn được minh họa dưới các hình thức sau:

Nếu có 4 kiểu thì được ghi là: mặt trên ấn (a), núm ấn (b), mặt đế ấn (c) và dấu (d).

Nếu có 3 kiểu thì ghi là: núm hoặc mặt trên ấn (a), mặt đế ấn (b) và dấu (c).

Nếu có 2 kiểu thì ghi là: núm ấn hoặc mặt trên ấn (a) và dấu hoặc mặt đế ấn (b).

Ảnh minh họa gồm hiện vật, hình dấu,văn bản lẫn hình dấu được ghi là H. (hình), thứ tự từ H.1 đến H.233. Kích cỡ to nhỏ của ảnh minh họa làm theo hình thức bố cục cân đối phù hợp với mỗi trang sách phần mục riêng, không phụ thuộc vào kích cỡ thật của hiện vật, hình dấu và văn bản.

Hiện vật ảnh minh họa được gọi chung là ấn, không gọi kiểu cách phân loại loại hình như Quan phòng, Đồ kí, Kiềm kí v.v… Tên ấn hoặc dấu được đặt theo cách gọi của nội dung văn khắc chữ Triện ở chính văn.

Hình dấu có thể đứng độc lập hoặc nằm trong một văn bản Hán Nôm khác. Nếu hình dấu nằm trong một văn bản khác sẽ được ghi liền với niên đại của văn bản và chỉ viết hoa chữ ghi niên hiệu.

Về việc viết hoa tên ấn, dấu, nhân danh, địa danh, niên hiệu, can chi và tên chức quan trong nội dung văn khắc ấn, dấu, chúng tôi tạm theo một quy định riêng, xin giới thiệu vắn tắt dưới đây để bạn đọc tiện theo dõi.

- Phần chính văn: đối với chữ Hán khắc ở mặt trên ấn, chữ Triện ở mặt đế ấn (đối với hiện vật) và nội dung chữ trong hình dấu (đối với dấu trong văn bản) khi phiên âm, chỉ viết hoa đối với chữ niên hiệu, địa danh, nhân danh và không viết hoa tên chức quan. Khi dịch, viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh, can chi và tên chức quan.

Chú thích ảnh: Tên ấn và dấu (gọi theo phiên âm) viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh; không viết hoa tên chức quan.

Để công tác in ấn được thuận lợi, chúng tôi không in ảnh màu minh họa xen kẽ trong phần nội dung mà chọn 32 trang ảnh màu để ở phần phụ lục cuối sách. Trong đó những ảnh nào trùng lặp với ảnh đen trắng thì xếp ở trước và ghi số thứ tự ảnh giống như ở nội dung sách. Còn số ít ảnh màu thêm vào dùng để tham khảo thì xếp ở phía sau và cuối phần phụ lục.

Ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX được hoàn thành, chúng tôi hi vọng đó là sự khởi đầu cho bộ môn ấn chương học Việt Nam và mong muốn sẽ có nhiều người tham gia với những bài viết và công trình kế tiếp.

Trong quá trình biên soạn công trình, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều học giả, đồng nghiệp trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hán Nôm, từ Hà Nội qua Huế tới Sài Gòn - Nam Bộ, từ những ý kiến mang ý nghĩa học thuật đến việc cung cấp một vài hình dấu tư liệu cụ thể. Nhân đây chứng tôi xin được bày tỏ lòng tri ân với tất cả, đặc biệt là GS. Hà Văn Tấn người đã cho chúng tôi nhiều ý kiến quý báu trong việc hoàn thành công trình.

Thực hiện công trình, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo và cán bộ ở các cơ quan như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, Trung tâm Lưu trữ trung ương II - thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là Toyota Foundation của Nhật Bản - đơn vị đã tài trợ cho việc biên soạn và xuất bản cuốn sách này. Nhân đây chúng tôi xin được bày tỏ lời cám ơn sâu sắc nhất.

Quá trình biên soạn công trình chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, tuy đã cố gắng hết sức song chắc chắn còn không ít thiếu sót, chúng tôi xin được lĩnh giáo ý kiến xây dựng bổ sung của quý độc giả để khi tái bản cuốn sách được sửa chữa hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn.



NGUYỄN CÔNG VIỆT
Về Đầu Trang Go down

Tác giảThông điệp
ôngBảy



Bài viết : 100
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:47

161] Xem Nguyễn Quảng Tuân: Tờ chiếu của vua Gia Long phong cho Nguyễn Du tước Du Đức hầu, Tạp chí Hán Nôm, số 3-1997, tr.78-82.

[162] Xem KĐĐNHĐSL, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.286.

[163] MMCY, Sđd, tr.28.

[164] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.33.

[165] KĐĐNHĐSL, Sđd, tập 6, tr.284-285.

[166] KĐĐNHĐSL, Sđd, tập 14, tr.29.

[167] Xem Về chiếc ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo của Đặng Văn Thắng và Phạm Hữu Công trong Những phát hiện mới về khảo cổ học 1995, Nxb. KHXH, HN, 1996.

[168] Nguyên Hòa ngũ niên: Đời Lê Trang Tông niên hiệu Nguyên Hòa 5 (1537).

[169] ĐNTLCB, Sđd, tr.59.

[170] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.34.

[171] Dấu Sắc mệnh chi bảo đời Lê Chiêu Thống in ở sắc phong thần ở thôn Đoài, xã Phù Xá, huyện Kim Anh, tỉnh Bắc Ninh, có cùng địa điểm với 2 dấu Phong tặng chi bảo và Sắc mệnh chi bảo thời Nguyễn. Những sắc phong này do nhà nghiên cứu Hoàng Giáp - Trưởng phòng Sưu tầm Viên Nghiên cứu Hán Nôm cung cấp.

[172] Theo tư liệu của cụ Lê Văn Hoàng ở khu Kim Long - Huế. Cụ là một trong các nhân viên được giao trọng trách giữ Bảo ấn Sắc mệnh chi bảo dưới đời Bảo Đại.

[173] MMCY, Sđd, tr.27.

[174] Ngọc Tỷ truyền quốc của Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời.

[175] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.41.

[176] Bản phúc thư có dấu Ngọc Tỷ này do Tố Am Nguyễn Toại sưu tầm và dịch, Tảo Trang hiệu đính và chú thích. Bài Hoàng đế nước Đại Nam kính phúc đáp Hoàng đế nước Đại Phú Lãng sa trước điện xem thư, Tạp chí Hán Nôm, số 4-1995.

[177] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.42.

[178] Hiệp kỷ là “Hiệp dụng ngũ kỷ”; 5 kỷ là: Năm, tháng, ngày, tinh tú và lịch số.

[179] Phần chữ Hán tờ Ngự chế được ông Nguyễn Hữu Tưởng, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch nghĩa và PGS. TS. Đào Thái Tôn, Viên Nghiên cứu Hán Nôm hiệu đính.

[180] ĐNTLCB, Sđd, tr.24.

[181] MMCY, Sđd, tr.42.

[182] Đại Nam hội điển toát yếu và Quan chế đời Minh Mệnh, Ngô Thế Long dịch, KH: LA.13, TV Viện NCHN.

[183] Việc kiểm duyệt đóng ấn Bảo Tỷ do hệ thống Giám sát gồm đại diện Đô sát viện, Cấp sự trung Lục khoa và Giám sát Ngự sử các đạo thực hiện.

[184] Phất thức: lau chùi quét phủi bụi bặm.

Tài liệu về lễ “Phất thức” do nhà nghiên cứu Phan Thuận An tại Huế cung cấp.

[185] Chuyến công tác vào Nam năm 1998 chúng tôi đã in chụp được một số ấn triện, trong đó có Khánh Ninh cung bảo. Nhân đây xin được cảm ơn bà Giám đốc TS. Trịnh Thị Hòa và cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ chúng tôi về một số tư liệu ấn triện thời Nguyễn.

[186] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.298, 308.

[187] ĐNTLCB, Sđd, tr.403.

[188] Hai dấu này đóng trong quyển 5, Thiệu Trị nguyên niên, tr.394, CBTN.

[189] Hai dấu này đóng ở quyển 13, Thành Thái nhị niên, tr.186, CBTN.

[190] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.127.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2993
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:47

[191] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.127.

[192] Dấu Hoàng thái tử thủ tín đóng trong quyển 2, đời Gia Long thứ 4, tr.176, CBTN.

[193] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr127,129.

[194] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.127, 129.

[195] Phủ Hoài Đức thời Gia Long thuộc Bắc thành (Tổng trấn trực tiếp quản lý) nay thuộc tỉnh Hà Tây.

[196] Dấu Văn thư phòng quan phòng đóng trong quyển 18 - đời Minh Mệnh thứ 7, tr.391, CBTN.

[197] Dấu Sung biện nội các sự vụ quan phòng đóng trong quyển 46 - đời Thiệu Trị thứ 2, tr.4, CBTN.

[198] Sung làm công việc Nội các gồm hai người trật nhị phẩm là Thị lang lục Bộ, hoặc Chưởng viện học sĩ, Trực học sĩ viện Hàn lâm, hai người trật tứ phẩm lấy Thị độc học sĩ viện Hàn lâm.

[199] Kiềm dấu Nội các đóng trong quyển 1 - Đồng Khánh nguyên niên (1886) - CBTN.

[200] Hình dấu này in ở quyển 2 - Gia Long thứ 18, tr.259, CBTN.

[201] Hội nghị công đồng được lập từ năm 1787 với tên gọi Sở Công đồng, dùng ấn Công đồng chi ấn. Đến năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) đổi làm hội nghị đình thần với tổ chức như cũ, ấn Đình thần chi ấn được làm ra thay cho ấn Công đồng.

[202] Cai bạ: Thời Gia Long và đầu Minh Mệnh, đứng đầu một doanh (Tức tỉnh sau này) là một Lưu thủ, có các chức Cai bạ, Ký lục phụ tá - Cai bạ chính là chức Phó doanh.

[203] Hiệp trấn: Thời Gia Long và đầu Minh Mệnh đứng đầu mỗi trấn (tức tỉnh sau này) là một Trấn thủ, có các Hiệp trấn, Tham hiệp phụ tá. Hiệp trấn chính là chức Phó trấn.

[204] Tất cả những dấu trên ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.16, 17, 18, CBTN.

[205] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.304.

[206] Quyển 17 - Thiệu Trị thứ 2, tr.23, CBTN.

[207] Quyển 119 - Tự Đức thứ 13, CBTN.

[208] Đại Nam hội điển toát yếu và quan chế đời Minh Mệnh: KH. LA. 13, Sđd, tr.116.

[209] ĐNTLCB, Sđd, tr.424.

[210] Chủ nhân ấn đồng năm 1802 ?: Nguyễn Hữu Thông - Nguyễn Văn Đăng trong Tạp chí Xưa & Nay, số 10B 2000. Nhân dây chúng tôi xin được cảm ơn hai tác giả trên đã gián tiếp cung cấp tư liệu về ấn Tả quân chi ấn.

Về sự khác biệt một chút về kích thước giữa hình dấu in trên văn bản chữ Hán và hình dấu đóng từ quả ấn trên chúng tôi thấy dấu trên văn bản bao giờ cùng nhỉnh hơn một ít vì độ mực dấu thấm loang trên giấy bản cũ. Còn việc vẽ lại hình dấu trên văn bản (trường hợp dấu Tả quân chi ấn, Hữu quân chi ấn, do không được phép chụp ảnh photocopy) sẽ không đảm bảo độ chính xác 100% như hình dấu in từ hiện vật ấn.

[211] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.300.

[212] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.229,304.

[213] Dấu Trấn tây tướng quân chi ấn ở quyển 67 - Minh Mệnh thứ 19, tr.26, CBTN.

[214] Hai dấu này ở quyển 52 - Minh Mệnh thứ 15, tr.459, CBTN.

[215] 5 dấu Quan phòng này đóng ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.15, 16, CBTN.

[216] Bốn dấu đóng ở quyển 5 - Thiệu Trị nguyên niên, tr.353, 367, 369, CBTN.

[217] Dấu của Vũ Văn Giải in trong quyển 5 - Thiệu Trị nguyên niên, tr.377, CBTN.

[218] Dấu này trong quyển 119 - Tự Đức thứ 13, tr.137, CBTN.

[219] Dấu này in trong quyển 119 - Tự Đức thứ 13, tr.137, CBTN.

[220] Dấu Đề đốc Gia Định in trong quyển 53 - Minh Mệnh thứ 16, tr.493, CBTN.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2993
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:48

[221] Dấu Đề đốc Tiễu bổ quân vụ - quyển 119 - Tự Đức thứ 13, tr.153, CBTN.

[222] Dấu Loan giá vệ đồ ký trong quyển 67 - Minh Mệnh thứ 19, tr.162, CBTN.

[223] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.136.

[224] Dấu Nam Hưng đồ ký đóng ở quyển 67 - Minh Mệnh thứ 19, tr.161, CBTN.

[225] Dấu Kinh tượng nhất vệ và Cẩm y túc trực đều đóng cùng quyển 53 - Minh Mệnh thứ 19, tr.368, CBTN.

[226] ĐNTLCB, Sđd, tr.80.

[227] Dấu của Tổng trấn Bắc thành in trong CBTN đời Gia Long.

[228] Cuối đời Gia Long - Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành bị vu cáo phải uống thuốc độc tự tử. Gia Long lấy Lê Tông Chất làm Tổng trấn và Lê Văn Phong làm Hiệp Tống trấn Bắc thành và giao bộ ấn kiếm Bắc thành tổng trấn chi ấn mà Nguyễn Văn Thành đã dùng cho Lê Tông Chất và Lê Văn Phong sử dụng.

[229] Dấu kiềm Bắc thành ở quyển 5, Công văn cổ chỉ. KH: A.3086, Sđd, tr.42.

[230] Nguyễn Văn Nhân theo phò Nguyễn Ánh từ năm 1778 làm tới chức Khâm sai chưởng Hữu quân Bình tây tướng quân, năm 1808 được phong làm Tổng trấn thành Gia Định.

[231] Trịnh Hoài Đức theo gặp Nguyễn Ánh từ khi còn chiến tranh giữ chức Tham tri bộ Hộ, năm 1808 làm Hiệp tổng trấn Gia Định thành. Hiện nay ở thị xã Biên Hòa còn lăng mộ bia đá.

[232] ĐNTLCB, Sđd, tr.394.

[233] Lê Văn Duyệt: Thời trẻ là thái giám theo Nguyễn Ánh từ 1778, sau làm đến Khâm sai chưởng Tả quân Bình tây tướng quân, năm 1820 làm Tổng trấn Gia Định thành. Hiện nay ở trung tâm quận Bình Thạnh - Tp. Hồ Chí Minh còn khu lăng mộ đền thờ Lê Văn Duyệt được bảo quản xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa.

[234] Dấu Gia Định thành tổng trấn chi ấn in ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.82, CBTN.

[235] Thanh Hoa trấn thủ chi chương sao chụp ở Công văn cựu chỉ. KH: A. 3032, TV Viện NCHN.

[236] Quảng Nam doanh chi chương ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.86, CBTN.

[237] ĐNTLCB, Sđd, tr.206.

[238] Thanh Hoa trấn ấn ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, CBTN.

[239] Hai dấu Quảng Nam doanh chi chương và Bình Định trấn ấn cùng đóng trong quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.78, 86, CBTN.

[240] Dấu Khâm mệnh tín chương sao chụp ở tập I, Công văn cổ chỉ. KH: A. 3032, tr.57, TV Viện NCHN.

[241] Thời Gia Long một số cấp hành chính ở một số nơi chưa được ổn định, những nơi này đều do các quan Khâm sai, Khâm phái đảm nhiệm. Trường hợp đạo Thanh Bình này là một ví dụ.

[242] Đạo Thanh Bình gồm 2 phủ, 6 huyện, 41 tổng, 271 xã, thôn, trang (Thiên Quan là một trong hai phủ). Đầu Minh Mệnh đổi làm đạo Ninh Bình.

[243] Dấu Ninh Bình đạo ấn chụp ở Công văn cựu chỉ, Sđd, quyển 4, tr.25.

[244] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.314.

[245] Đại Nam điển lệ: Nguyễn Sĩ Giác dịch - Nhà in Tôn Thất Lễ, Sài Gòn, 1962.

[246] Trang tài liệu này do nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh tại Tp. Hồ Chí Minh cung cấp, nhân chuyến công tác của chúng tôi vào Nam năm 1989.

[247] Công văn cựu chỉ: KH: A 3032 - quyển 1, tr.76.

[248] Công văn cựu chỉ: KH: A.3326 - quyển 5, tr.71.

[249] Phó - Bản phó, một trong các loại văn bản thuộc dạng công văn triều Nguyễn dùng để phân biệt với bản chính và bản lục.

[250] Dấu ấn và dấu kiềm Bố chính sứ Ninh Binh in trong Công văn cựu chỉ quyển 5, Sđd, tr.2.
Về Đầu Trang Go down
ôngBảy



Pháp Môn : Khác
Tôn giáo : Lỗ Ban
Bài viết : 100
Số lần cảm ơn : 3
Điểm Cống Hiến : 2993
Tham gia : 13/02/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   14/2/2010, 15:48

[251] Đại Nam điển lệ: Sđd, tr.103.

[252] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.334, 335.

[253] Trực lệ, còn gọi là Tả Trực lệ và Hữu Trực lệ - Gồm 4 tỉnh giáp kinh đô Huế là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị và Quảng Bình.

[254] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.301.

[255] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.319.

[256] Công văn cổ chỉ, KH: A.3086, quyển 2, tr.2.

[257] Công văn cổ chỉ, Sđd, quyển 3, tr.42.

[258] Công văn cựu chỉ, quyển 1, KH: A.3032

[259] Công văn cựu chỉ, quyển 4, KH: A.3032

[260] Dấu Nà Bôn thổ châu đồ ký trong quyển 2, tr.161 - Hàm Nghi nguyên niên, CBTN. Vì nguyên tắc lưu trữ, chúng tôi không photocopy được nguyên bản hình dấu và trang văn tự dân tộc thiếu số nên - chỉ đồ họa lại. (Châu Nà Bôn thuộc tỉnh Quảng Trị).

[261] Đại Nam điển lệ, Sđd, tr.337.

[262] Hình ấn và Đồ ký này do ông Hoàng Giáp - trưởng phòng Sưu tầm Viện Nghiên cứu Hán Nôm, in rập được nguyên bản tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn năm 1985.

[263] Huyện Quỳnh Côi đời Gia Long thuộc phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam - sau thuộc phân phủ Thái Bình, nay thuộc tỉnh Thái Bình.

[264] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.322.

[265] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.322.

[266] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.323.

[267] Dấu in ở quyển 67 - Minh Mệnh, tr.144.

[268] Dấu in ở quyển 67 - Minh Mệnh thứ 19, tr.6.

[269] Đại Nam điển lệ, Sđd, tr.337.

[270] Đồng Xuân - Đời Gia Long thuộc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay thuộc quận Hoàn Kiếm - Hà Nội. Hai dấu Triện này đóng trong tập Đồng Xuân tổng các thôn phường địa bạ - KH: A.3086 - TV Viện NCHN.

[271] Dấu in trong Phú Thọ tỉnh, Hạ Hòa huyện, Vĩnh Chân tổng các xã địa bạ, KH: AG a11/13.

[272] MMCY, Sđd, tr.17.

[273] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.328.

[274] Dấu in trong Công văn cựu chỉ, quyển 4, KH: A.3032, tr.9.

[275] Công văn cổ chỉ, KH: A.3086, Q.5, tr.54.

[276] Hậu bổ: Những người mới đỗ ở trường Hậu bổ, hoặc quan lại đợi khuyết để bổ vào nhậm chức.

[277] Công văn cựu chỉ, KH: A.2918, tr.69.

[278] Tứ lục sao, KH: A.152, tr.2, TV Viện NCHN.

[279] Ngô gia văn phái, KH: VHv.16/12, tr.17, TV Viện NCHN.

[280] Hoàng Việt thi tuyển, KH: VHv.1451, tr.2, TV Viện NCHN.

[281] Dấu Ca vịnh thái bình, in lại nguyên bản hiện vật tại Viện Bảo tàng lịch sử, Tp. Hồ Chí Minh.

[282] Dấu Tùng tuyết trai sao lại ở Bulletin de la Société des Études Indochinoises, Sđd.

[283] Dấu Thuận cát in rập nguyên bản hiện vật tại Hội An, Đà Nẵng năm 1989.

[284] Dấu Tường hợp in lại nguyên bản hiện vật tại Viện Bảo tàng Lịch sử, Tp. Hồ Chí Minh.

[285] Gia đình ông Sùng người Việt gốc Hoa sang Việt Nam từ thời Nguyễn, trú tại phố cổ Hội An, hiện còn lưu giữ được ít nhiều cổ vật quí giá. Ngoài số ấn tín được biết chúng tôi còn được xem nhiều cổ vật bằng đồng, bằng gốm, gỗ và một kho sách chữ Hán, chữ Trung Quốc có giá trị.

[286] Cửu Thiên, theo Từ nguyên là chỉ “Trời”; “cửu thiên” là tám phương trời và khu trung ương ở giữa trời. Ngày nay khi khấn vái, dân ta thường mở đầu bằng câu: “… Lạy chín phương trời mười phương Phật…”.

[287] Theo sách Trần Đại vương bình Nguyên thì Trần Quốc Tuấn sinh năm Bính Tuất (1226), một số tư liệu khác thì khẳng định ông sinh năm 1228.

[288] Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, 1997, tr.362.

[289] Ngoài dấu Tự Đức thần hàn còn các dấu Minh Mệnh thần hàn, Thiệu Trị thần hàn, Thần hàn chi tỷ có chức năng tương tự.

HẾT
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Ấn chương Việt Nam   

Về Đầu Trang Go down
 
Ấn chương Việt Nam
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 4 trong tổng số 4 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2, 3, 4

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
MẬT TÔNG THIÊN ĐÌNH :: Thư Viện :: Văn Hóa, Lịch Sử-
Chuyển đến 

free countersFree forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a blog